15 năm sau ngày ban hành Tông Huấn NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN
VAI TR̉ & VỊ TRÍ NGƯỜI GIÁO DÂN
Lê Thiên
Ngày 30-12-1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành Tông Huấn Christifideles Laici – Người Tín hữu Giáo dân . Bản dịch Việt ngữ Tông huấn này đă được phổ biến rộng răi và nhiều nơi giáo dân đă có dịp học hỏi. Nhân kỷ niệm 15 năm Đức Thánh Cha công bố bức Tông Huấn quan trọng này, xin phép được trao đổi về giáo dân theo tinh thần Tông Huấn trên.
Những nét đại cương của Tông Huấn
Tông Huấn triển khai chủ đề Cây Nho, Cành Nho, Vườn Nho và Thợ Làm Vườn Nho rút ra từ Tin Mừng “Nước Trời giống như câu chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đă ra mướn thợ vào làm vườn nho cho ḿnh.” (Mt 20, 1-2), hoặc “Thầy là cây nho, anh em là cành: Ai luôn kết hiệp với Thầy và Thầy luôn kết hiệp với người ấy, th́ người ấy sinh hoa kết trái dồi dào, v́ không có Thầy, anh em không làm ǵ được” (Gioan 15, 4-5).
Bức Tông huấn gồm 5 Chương, mỗi chương là mỗi nét đặc thù từ chủ đề Cây Nho nói
trên:
Chương I: Thày là cây nho, anh em là cành (Gio 15, 5)
Chương II: Tất cả là cành nho của một cây nho duy nhất (Gio 15,
1-4)
Chương III: ... Để anh em ra đi, thu được kết quả (Gio 15, 5)
Chương IV: Những người thợ làm vườn nho của Chúa (Mt 20, 1 tt)
Chương V: Để anh em sinh nhiều hoa trái... (Gio 15, 1-2)
Qua các đề tài trên, vị trí và vai tṛ của người giáo dân được bàn tới dưới các khía cạnh sau đây:
Phẩm giá của người giáo dân trong Hội Thánh Mầu Nhiệm
Sự tham gia của giáo dân vào đời sống của Hội Thánh – Hiệp thông
Giáo dân đồng trách nhiệm trong Hội Thánh – Sứ vụ
Những nhà Quản lư tuyệt vời ân sủng đa dạng của Thiên Chúa
Việc huấn luyện giáo dân.
Giáo dân là ai?
Trước khi đề cập đến phẩm giá của người giáo dân, Tông Huấn định nghĩa “Giáo dân là ai” (9 )[1] bằng cách nhắc lại câu nói bất hủ của Đức Giáo Hoàng Piô XII: “Giáo dân là Hội Thánh ”[1] đồng thời nhắc lại Hiến chế Ánh sáng Muôn Dân của Công Đồng Vaticanô II rằng, giáo dân là “tất cả những Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu tŕ được Hội Thánh công nhận... đă trở nên dân Thiên Chúa, và tham dự vào chức vụ Tư tế, Ngôn sứ và Vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ ...”[1] Từ ư niệm ấy, Tông Huấn xác quyết giáo dân là những chi thể làm thành “một thân thể duy nhất trong Đức Kitô” (12), là “Đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần” (13).
- Với việc tham dự vào chức Tư tế, người “giáo dân kết hiệp với Chúa Kitô và với hy tế của Người qua việc dâng hiến chính ḿnh cũng như mọi hoạt động của ḿnh” (14).
- Tham dự vào chức vụ Ngôn sứ của Đức Kitô, người giáo dân “có đủ tư cách và được thúc đẩy đón nhận Tin Mừng trong ḷng tin, để rồi dùng lời nói và việc làm loan báo Tin Mừng đó, cương quyết tố cáo sự dữ” (14).
- Người giáo dân tham dự vào chức vụ Vương giả của Chúa Kitô “bằng cách sống tính cách vương giả Kitô giáo,” nghĩa là bằng “chiến đấu thiêng liêng để tiêu diệt quyền thống trị của tội lỗi nơi họ” (14) và bằng “việc hiến dâng chính ḿnh để phục vụ trong bác ái và công chính” (14).
Tông Huấn xác nhận, khi người giáo dân, là những người đă chịu phép Thánh Tẩy, được tham dự vào 3 chức vụ của Đức Kitô, th́ họ trở thành “chi thể của Hội Thánh” và là “giống ṇi được tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng của Chúa” (14) như Thánh Phêrô đă quả quyết trong thư thứ nhất của ngài (1 Phêrô 2, 9).
Tông Huấn không ngại lặp lại lời Thánh Âugustinô: “Cũng như hết thảy chúng ta nhận ḿnh là Kitô hữu (Christiani) v́ được xức dầu cách mầu nhiệm, th́ hết thảy chúng ta cũng là linh mục , bởi v́ chúng ta là chi thể của một Linh Mục Duy Nhất.” (14). Ở một đoạn khác, Tông Huấn lại nhắc nhở: “Tất cả mọi người đă lănh bí tích Thánh Tẩy đều được mời gọi lắng nghe một lần nữa những lời của Thánh Âugustinô: ‘Hăy vui mừng và tạ ơn v́ không những chúng ta trở thành Kitô hữu, mà c̣n trở thành Đức Kitô... Hăy ngạc nhiên và vui mừng v́ chúng ta đă trở thành Đức Kitô’” (17). Th́ ra, không phải chỉ linh mục có chức thánh mới là alter Christus – một Đức Kitô khác , mà mọi tín hữu kể cả tín hữu giáo dân cũng được Giáo Hội nh́n nhận đă “trở thành Đức Kitô” nhờ phép Thánh Tẩy.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 27 tháng 1&2/2004 trang 64)