Câu Chuyện Đầu Năm NHÂN VIỆC ĐỨC THÁNH CHA CẢNH GIÁC CÁC LINH MỤC VÀ HÀNG GIÁO PHẨM VỀ NHỮNG CÁM DỖ CỦA QUYỀN LỰC VÀ TIỀN TÀI
Trần Phong Vũ
LTS. Bản tin của hăng thông tấn Zenit đánh đi từ Vatican sáng Thứ Ba 18-11-2003 cho hay: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă mạnh mẽ khuyến cáo hàng giáo sĩ phải khắc phục mọi cám dỗ về quyền lực và tiền tài. Lên tiếng trong buổi tiếp kiến phái đoàn Giám Mục An Độ hôm 17-11, Đức Thánh Cha than phiền: “Thật bất hạnh, ngay cả những thành phần đă được thánh hiến để phục vụ, nhiều khi có thể sa ngă thành nạn nhân của những trào lưu văn hóa hoặc xă hội làm phương hại đến uy tín, đồng thời gay trở ngại cho sứ vụ của họ”.
Ngài nhấn mạnh: “Là những người của đức tin, các linh mục không được phép để cho mọi cám dỗ về quyền hành hay lợi lộc vật chất làm sao lăng ơn gọi của ḿnh...” (Mời độc giả đọc lại nguyên văn bản tin song ngữ trên Diễn Đàn số 26, trang 17 phát hành tháng 12-2003.
Lời cảnh giác trên đây của Vị Cha Chung đáng cho mọi người tín hữu Công Giáo chúng ta suy nghĩ, bất kể là linh mục, tu sĩ hay giáo dân. Câu nói xưa như trái đất: ‘khi bạc tiền, danh vọng và quyền lực chen vào thi đạo đức nhân nghĩa đội nón đi ra!’ cho đến muôn đời vẫn c̣n giá trị.
Trong phần kết thúc bài chia sẻ khởi đầu cho khóa tĩnh tâm Cursillo cuối tuần nhan đề ‘Lư Tưởng’, có nêu lên lời giải đáp như sau: ‘Muốn biết lư tưởng của bạn là ǵ, chỉ cần trả lời hai câu hỏi: tôi đă dùng tiền bạc của tôi ra sao? và tôi đă sử dụng th́ giờ của tôi như thế nào? Việc dùng th́ giờ, tiền bạc đă quan trọng như thế th́ thái độ quá ham mê tiền bạc, danh vọng và quyền hành, nhất là đối với những thành phần được xem là ưu tuyển như linh mục, tu sĩ, hẳn không thể xem thường. Dĩ nhiên, người tín hữu giáo dân cũng phải gánh phần trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng tệ trạng ham mê quyền lực, bạc tiền nơi các chủ chăn của ḿnh.
Đành rằng vấn đề quyên góp nhắm vào những mục tiêu xem ra cần thiết như trùng tu, xây dựng thánh đường hoặc những nhu cầu tương tự, trên một phương diện, không có ǵ đáng phê phán. Nhưng khi nó trở nên quá thường xuyên, quá lộ liễu, nhất là khi nó trực tiếp làm suy giảm những giá trị cốt lơi của Tin Mừng, của niềm tin Kitô giáo như phản lại tinh thần khó nghèo, t́nh liên đới và đức bác ái trong đạo, th́ lại là một vấn nạn cần được nghiêm chỉnh suy tư và đặt lại vấn đề. Chính từ đấy, trong tâm t́nh cầu nguyện –không mặc cảm, không đố kỵ, không thành kiến-, mỗi người tín hữu Công Giáo chúng ta thử xét lại hệ quả của những cuộc quyên góp, gây quỹ, kể cả những cuộc thăm viếng từng gây ra những dị luận trong cộng đồng gần đây của những đấng bậc trong Giáo Hội. Trong một vài trường hợp riêng lẻ, ngoài những hệ quả không hay kể trên, những cuộc thăm viếng các cộng đồng hải ngoại của các đấng bậc c̣n là căn nguyên gây ra những ngộ nhận tai hại trong công luận, làm cản trở cho việc làm chứng cho Tin Mừng của Chúa Giêsu.
Để độc giả có một ư niệm cụ thể hơn về lời cảnh giác của Đức Thánh Cha, nhân dịp đầu Xuân Giáp Thân, chúng tôi cho đăng tải lại bài viết sau đây của nhà văn Trần Phong Vũ.
Nhân bài viết của linh mục Nguyễn Trọng Tước, luận về hai chữ NHU CẦU
Từ những suy tư chung quanh hai chữ ‘Nhu Cầu’....
Hai chữ nhu cầu do hai từ Hán ghép lại. Nhu có nghĩa là cần dùng và cầu là những ǵ con người hoặc xă hội trông chờ, mong muốn được đáp ứng. Như thế nhu cầu được hiểu là những thứ cần thiết cho mỗi người, cho xă hội chúng ta, trước hết là để sống c̣n, và cao xa hơn là để cho cuộc sống, cho đời người thêm ư nghĩa, xứng với địa vị và phẩm giá của một loài linh ư vạn vật . Trong những thứ cần thiết đầu tiên người ta nghĩ tới là cơm áo, nhà ở. Cơm để ăn hầu duy tŕ sự sống. Quần áo che thân để thích nghi với sự thay đổi nghiệt ngă của thời tiết và cũng để khỏi bị đồng hóa với những loài ăn lông ở lộ. Và mái nhà để trú nắng đụt mưa, để có nơi chốn đi về, ăn uống, nghỉ ngơi.
Người ta bảo đấy là nhu cầu tối thiểu của con người.
Thế nhưng, cùng với đà tiến hóa của văn minh, chuẩn mức tối thiểu của nhu cầu không đứng yên một chỗ. Nó cũng thay đổi và tiến theo. Khi đă có cơm ăn, áo mặc, nhà ở rồi, con người c̣n có nhu cầu giải trí cho đời đỡ tẻ nhạt, và nhu cầu học hỏi để mở mang kiến thức. Xa hơn nữa, con người c̣n cần được đáp ứng những nhu cầu về t́nh cảm, tâm linh, nhu cầu về tôn giáo, tín ngưỡng. Đặt vào hoàn cảnh và vị thế của xă hội ngày nay, nếu xét một cách chung chung, những thứ kể trên vẫn chỉ là những nhu cầu tối thiểu của con người. Có điều nếu đi sâu vào chi tiết, áp dụng vào những trường hợp riêng lẻ, ta sẽ thấy điều gọi là nhu cầu tối thiểu của nơi này, dân tộc này sẽ không thể được coi là tối thiểu của nơi khác, dân tộc khác. Do đó nhu cầu tối thiểu của những người sống trong các xă hội Âu Mỹ hẳn không phải là nhu cầu tối thiểu của người dân sống trong các quốc gia Á Phi. Giới hạn trong phạm vi cục bộ, nhu cầu tối thiểu của thị dân cũng không giống với nhu cầu tối thiểu của những người sống nơi thôn dă.
Quan sát xă hội Hoa kỳ, người ta thấy dường như không có gia đ́nh nào không có radio, máy thu phát h́nh, tủ lạnh, điện thoại, máy vi tính. Riêng phương tiện di chuyển thông dụng là xe hơi, nếu không nhiều hơn th́ ít nữa mỗi nhà đều có một chiếc, mới hay cũ để làm chân. Người ta bảo tất cả những thứ ấy là nhu cầu tối thiểu của người dân Hiệp chủng quốc. Chuẩn mức được coi là tối thiểu này của người Mỹ sẽ trở nên không tưởng, lố bịch nếu đem áp đặt vào bối cảnh các xă hội trên bán đảo Đông dương, trong đó có Việt nam, nơi mà cho tới lúc này mọi người vẫn c̣n coi chiếc xe Honda hai bánh của Nhật bản như một ước mơ không dễ thực hiện th́ điều gọi là nhu cầu di chuyển tối thiểu cho đám đông chỉ có thể là chiếc xe đạp mà thôi.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 27 tháng 1&2/2004 trang 17)