Những Tấm Gương Sống Đạo Giữa Đời

 

Lê Thiên & Lê Tinh Thông (sưu tầm & biên khảo)

 

Đức Giám Mục  GIOAN CASSAIGNE (SANH)

  (1895-1973)

 

Sống chết với người Cùi xứ Thượng

Đầu năm 1973, khi linh mục Giuse Phùng Thanh Quang dự định viết quyển “Lạc Quan Trên Miền Thượng” để giới thiệu đời sống và vinh danh hoạt động của một vị giám mục giữa người cùi xứ Thượng, Đức Cha Simon-Ḥa Nguyễn Văn Hiền, Giám Mục Đà Lạt, ưu ái viết cho Cha Quang một bức thư khích lệ đầy ư nghĩa. Trong thư, Đức Cha Hiền có thuật rằng: Năm 1965, trong khóa IV Công Đồng, nhiều Nghị phụ trầm trồ ca tụng cử chỉ cao đẹp Đ.H.Y. Leger, Tổng Giám Mục Montréal chuẩn bị xin từ chức để sang giúp người cùi Phi Châu. Đức Cha Hiền khiêm tốn lên tiếng: “Bên Việt Nam chúng tôi đă 10 năm nay, có một vị Giám mục đang làm Cha xứ Giám đốc, Y tá một trại cùi ở địa phận Đà lạt chúng tôi.” Đức Cha Hiền nhận xét: “Các nghị phụ bỡ ngỡ, v́ một biến cố như vậy mà không ai  hay biết.”

Một Tông đồ người cùi bị quên lăng

 

Quả vậy, từ lâu, thế giới đă biết đến Cha Damien, vị Tông đồ người cùi trên đảo Molokai thuộc Hạ Uy Di (Mỹ) từ trần v́ nhiễm bệnh cùi năm 1889 sau 16 năm phục vụ cho người cùi. Và Cha Damien đă được Giáo Hội tôn phong Chân Phước.

 

Từ năm 1942, người ta cũng nghe biết có một Raoul Follereau (1903-1977) là bạn của người cùi. Và rồi, như lời Đức Cha Hiền nêu trên, cả thế giới đă xúc động khi Đức Hồng Y Leger, Tổng Giám Mục Montréal, Gia Nă Đại, sau khi kết thúc Công Đồng Vatican II, đă rời bỏ cuộc sống uy quyền của một Tổng Giám Mục để tự lưu đày ḿnh giữa những người cùi khốn khổ bị cô lập trong xứ Cameroon, Phi Châu, và chết ở đó sau 12 năm lăn lộn giữa người cùi để săn sóc họ (một ư định mà ĐHY đă cưu mang từ năm 1965, đến năm 1967 mới thực hiện). Nhưng “vị Giám mục đang làm Cha xứ Giám đốc, Y tá một trại cùi ở địa phận Đà Lạt” mà Đức Cha Hiền muốn giới thiệu là ai th́ đến nay có lẽ vẫn c̣n ít người biết đến. Đó là Đức Cha Gioan Cassaigne, có tên tiếng Việt là Gioan Sanh, thuộc Hội Thừa Sai Paris, cựu Giám Mục Sài G̣n từ năm 1941 đến 1955.

Từ một cậu bé nghịch ngợm...

Bé Gioan chào đời ngày 30-01-1895 tại thị trấn Grenade-sur-Adour, vùng Landes, nước Pháp. Gioan Cassaigne lên 12 tuổi, th́ thân mẫu ĺa đời. Ở trường học, Gioan thường bị hạ thấp điểm số do tội tinh nghịch và bị các sư huynh của Trường phê kỷ luật kém. Hầu hết các vụ quậy phá trong trường đều do cậu cầm đầu. Sở dĩ các sư huynh c̣n chấp nhận cho Gioan tiếp tục học trong trường v́ cậu là đứa con một mồ côi mẹ và trí khôn khá thông minh. Cha cậu đă không ngại nói cho các sư huynh biết những nhược điểm nơi tính t́nh của con ḿnh để xin nhà trường châm chước.

Trong khi các sư huynh thầy giáo đều lắc đầu với cậu bé Gioan, th́ sư huynh giám đốc lại tỏ ra rộng lượng khoan dung hơn. Riêng vị linh mục tuyên úy của nhà trường th́ nhận xét cậu bé có những tư chất mà các trẻ khác không có, khiến ngài lưu tâm chọn cậu phụ trách giúp lễ hàng ngày trong trường. Đă bao lần Gioan thưa với các sư huynh ư muốn đi tu, các sư huynh đều lắc đầu: “Đầu của tṛ cứng như đầu lừa, đi  tu  thế nào được?” Các vị ấy c̣n phàn nàn với Cha của Gioan: “Ông rán mà kiềm chế cậu ta, cứ như thế này th́ rồi đây nó chẳng làm nên tṛ trống ǵ.” Gioan Cassaigne không thất vọng. Cậu quyết xin thân phụ và Cha xứ chấp nhận cho cậu thi vào Chủng Viện.

Năm 1913, Gioan Cassaigne tṛn 18 tuổi. Anh được nhận vào Đại Chủng Viện Truyền Giáo của Hội Thừa Sai Paris như một chủng sinh tu muộn. Rủi thay! Năm sau, 1914, thế chiến II bùng nổ, lệnh tổng động viên được ban hành trên toàn nước Pháp. Chủng viện đóng cửa. Chủng sinh Gioan Cassaigne lên đường ṭng quân và anh đă phải vào sanh ra tử trong các cuộc đụng độ đẫm máu giữa đơn vị kỵ binh của anh với các đơn vị thiện chiến của Đức. Ngày 14-7-1918, chiến tranh Pháp-Đức kết thúc đồng thời chấm dứt thế chiến II. Ngày11-9 năm đó, Gioan Cassaigne được giải ngũ. Sau 15 ngày nghỉ ngơi bên cạnh thân phụ ở quê nhà, Gioan Cassaigne hăng hái lên đường trở lại Đại Chủng Viện.

Trở thành một Thừa sai ở Việt Nam

Ngày 19-12-1925, Gioan Cassaigne, 30 tuổi, thụ phong linh mục cùng với 8 anh em Thừa sai đồng lớp. Ngày 10-02-1926, Cha Gioan được chính thức phân bổ đi truyền giáo ở địa phận Sài G̣n, Việt Nam. Ngày 06-4-1926, cha lên tàu. Sau một tháng trời lênh đênh trên biển cả, ngày 05-5-1926, Cha Gioan Cassaigne mới tŕnh diện Ṭa Giám Mục Sài G̣n.

Cha Gioan Cassaigne được đưa đi học tiếng Việt tại Cái Mơn (Vĩnh Long) chưa tới 5 tháng th́ có lệnh triệu về Sài G̣n. Đức Giám mục cấp bài sai Cha đi phụ trách thí điểm truyền giáo DJIRING ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam vào tháng Mười 1926. Địa danh Djiring được đổi thành DI LINH năm 1958 cùng một lúc với vài địa danh khác vùng Cao nguyên như Bảo Lộc (thay cho Blao) và Đơn Dương (thay cho Dran).

Vùng Cao nguyên Di Linh và bệnh sốt rét rừng

Cao nguyên Di Linh tọa lạc cách thành phố Đà Lạt khoảng 80 km về hướng tây nam, có địa h́nh lồi lơm với nhiều thung lũng sâu và nhiều dốc đứng cao.

Nhà truyền giáo mới chưa thành thạo ngôn ngữ địa phương, chưa kịp nắm bắt phong tục tập quán xứ người, chưa hề có dịp tiếp cận với phong thổ khắc nghiệt miền nhiệt đới, nay lại lao ḿnh vào nơi lam sơn chướng khí, rơi vào đúng trung tâm sào huyệt sốt rét rừng, thật là đáng thương!

Theo nhận xét của nhiều lương y và các nhà thám hiểm, trong đó có Bác sĩ Yersin, th́ hàng năm có hơn 92% trẻ em Thượng vùng Cao nguyên bị sốt rét nặng. Riêng vùng Di Linh có tới 75% trẻ em vong mạng v́ chứng này.

Cha Gioan Cassaigne đặt chân lên đất Di Linh chưa được bao lâu th́ ngă bệnh sốt rét. Linh mục Phùng Thanh Quang mô tả: “Ngày 14-11-1927 Cha ngă bệnh sốt rét thật sự... Cha nằm li b́ cả tuần lễ không ăn uống. Vẻ tráng kiện thanh xuân tàn lụi nhanh chóng trong ṿng một tháng sau. Ngài bắt đầu ốm yếu, xanh mét và cứ đau đi đau lại như thế suốt thời gian 14 năm làm cha sở Di Linh. Có năm ngài đă phải sốt rét cả 11 tháng, thân thể rũ rượi mệt mỏi, biếng ăn biếng nói, trong ḿnh ơn ớn lạnh, bụng thường muốn nôn mửa... Thế mà Cha Cassaigne cố giấu không dám cho đấng bề trên biết, cũng không bao giờ đi nằm nhà thương ”[1]

Cha Gioan Sanh đến Di Linh và thành lập giáo xứ ở đó chưa đầy một năm rưỡi mà “giáo xứ Di Linh đă đứng lên với những kết quả thật khích lệ.” Từ con số vỏn vẹn 2 giáo dân lúc ban đầu (1927) đă lên tới 36 vào cuối năm 1928, chưa kể 4 dự ṭng người kinh chuẩn bị nhận bí tích Thánh Tẩy.

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 27 tháng 1&2/2004 trang 93)

Trở lại Trang Nhà: