Tại Sao THI HÀO NGUYỄN DU “KÊU TRỜI” Trong “ĐOẠN TRƯỜNG
TÂN THANH”
Lm. Cao Phương Kỷ
(tiếp theo số 24)
Thi Hào Nguyễn Du đă hiểu ư nghĩa của sự ĐAU KHỔ , nên đă mượn t́nh tiết của các nhân vật trong “Đoạn Trường Tân Thanh” như Thúy Kiều, Từ Hải... để bộc lộ tâm sự riêng, cũng như than thở kiếp lầm than đau khổ của cả dân tộc Việt Nam thời nhiễu nhương (Trịnh-Nguyễn phân tranh) và một cách chung, thi nhân đă đặt vấn đề ĐAU KHỔ cho toàn thể nhân loại, cho nỗi thống khổ của một kiếp người. Bởi vậy, ai đọc cũng như cảm thấy một cách lờ mờ những cảnh ngộ, hoặc những h́nh ảnh của chính ḿnh ẩn hiện “đồng hội đồng thuyền”với các nhân vật trong truyện, như khi Thúy Kiều vừa nghe thuật lại cuộc đời của Đạm Tiên th́ liền than rằng:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh của là lời chung”
Hoặc: “Rằng: Hồng nhan tự ngh́n xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”
Thân thế của thi hào Nguyễn Du thuộc gia tộc quyền quư, nhưng v́ loạn lạc phải sa cơ, nghèo đói. Để xa lánh thời cuộc đảo điên, thi nhân đă ở ẩn một thời gian, ngao du sơn thủy. Nhưng vẫn c̣n mang bầu nhiệt huyết của một kẻ Sĩ, với mộng ước: “Tu thân, Tề gia, Trị quốc, B́nh thiên hạ”, nên Ông đă xuất chính, được phong làm Chánh Sứ sang công du bên Trung Quốc để xin cầu phong cho vua Gia Long, và cũng để có dịp thi thố tài “kinh bang tế thế”, làm vẻ vang cho dân tộc. Nhưng suốt đời, Ong vẫn mang một nỗi tâm sự u sầu, dầu bệnh nặng cũng không chịu uống thuốc, để được an giấc ngàn thu, chấm dứt cuộc đời đầy nước mắt. Trong “Đoạn Trường Tân Thanh”, ai cũng nhận thấy thân phận Nguyễn Du đă được biểu trưng bằng nhân vật Thúy Kiều đa tài, đa sắc, đa t́nh, nhưng cuộc đời đầy gian truân đau khổ:
“Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
Thân phận nàng Kiều cũng có thể sánh ví với số phận đau khổ của dân tộc Việt Nam, một ṇi giống hiền ḥa, trí óc thông minh, tâm linh hướng thượng, nhưng suốt ḍng lịch sử, đă trải qua hơn ngàn năm ngoại xâm, nội chiến, bao nhiêu đời bạo chúa, độc tài, đảng trị kế tiếp nhau dày xéo non sông đất nước cho đến ngày nay! Dân chúng lầm than, đói khát, chạy ăn từng bữa! Nhân quyền bị chà đạp, giới phụ nữ vẫn là nạn nhân của một xă hội bất công, bất b́nh đẳng. Người dân Việt bị bóc lột quyền làm Người, chẳng khác ǵ cảnh vơ vét nhà Thúy Kiều:
“Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”
Nhưng thiết nghĩ, chủ đề của “Đoạn Trường Tân Thanh” c̣n vượt quá số phận hẩm hiu của dân tộc Việt Nam, để vươn đến “cơi người ta” muôn thuở , nghĩa là đến hết mọi người sống trên thế gian này: “Trăm năm trong cơi người ta ”. Con người “cậy tài”, tự măn, tất nhiên sẽ cảm thấy đau khổ, thất vọng, v́ cuộc đời quá ngắn ngủi, mà dục vọng quá lớn lao, không thể thực hiện được tại thế gian này! Chỉ nguyên một sự kiện “hữu hạn tính” của con người cũng đủ làm con người đau khổ rồi, như câu thơ của Ôn Như Hầu, trong Cung Oán Ngâm Khúc:
“ Thảo nào khi mới chôn nhau,
Đă mang tiếng khóc bưng đầu mà ra”
Nhưng theo Minh Triết Tương Quan Tam Tài của dân Việt mà thi bá Nguyễn Du đă diễn tả một cách thi vị, bóng bảy, th́ mặc dầu đời sống con người khởi sự bằng những đau khổ (v́ tiền khiên, nghiệp chướng, hay tội nguyên tổ?) nhưng kết liễu bao giờ cũng lạc quan, hy vọng sẽ được giải thoát, cứu độ, v́ KHỔ chỉ là Mệnh Lệnh để cảnh tỉnh con người phải trở về với Tương Quan nguyên sơ: Thiên-Nhân, tức Đấng cầm quyền sinh tử , lúc đó cuộc đời con người mới bừng lên một tia hy vọng. V́ đau nên cần thầy thuốc chữa trị, v́ Khổ nên cần ơn Cứu Độ.
E. KẾT THÚC :
“Đă mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa.
Thiện căn ở tại Ḷng ta,
Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI”
Việt ngữ là một sinh ngữ, nên ư nghĩa của các danh từ, thành ngữ thay đổi luôn, tùy thời và tuỳ văn sĩ sử dụng trong một hệ thống tư tưởng nhất định. Bởi vậy, ngày nay, nếu muốn t́m hiểu triết lư truyền thống của các vị tiền bối như Thi hào Nguyễn Du, th́ cần phải giải thích ư nghĩa đặc biệt của các danh từ quan trọng, trước khi tŕnh bày các quan niệm về học thuyết. Trong bốn câu thơ kết luận, cần t́m hiểu ư nghĩa của danh từ ṇng cốt là chữ TÂM, tức L̉NG TỐT (Thiện Tâm, Thiện Căn) và TÍNH (TỐT) .
1 . TÂM là ǵ ? (Coi Nho Giáo: quyển I : trang 220-227; quyển II, trang 248-250). Trong Tương Quan Tam Tài: Thiên-Nhân-Địa, hay Thiên Đạo-Nhân Đạo-Địa Đạo, chữ TÂM mang những ư nghĩa đặc biệt: “Tâm không phải là một khối huyết nhục. Phàm chỗ tri giác là Tâm… Cái Tâm của người ta thiêng liêng sáng suốt, vạn lư vạn sự đều căn bản ở đó cả ”( Nho Giáo, trang 248). Theo định nghĩa trên, chữ Tâm không theo nghĩa thông thường là một cơ quan trong thân thể tức “trái tim” bằng thịt, nhưng chữ TÂM, nghĩa là L̉NG (MIND, Conscience) ghép thành những danh từ kép như: Nhân Tâm, Nhiệt Tâm, Tâm tư, Tâm huyết, Tận Tâm, Tâm sự, Tâm trí, Tâm hồn, Tâm Tính, Thiện Tâm…; chữ “L̉NG”, không có nghĩa là “bộ ḷng”, nhưng là “Ḷng Tốt”, “của ít Ḷng nhiều”, “ai ṃ xuống biển mà đo Ḷng người”.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 27 tháng 1&2/2004 trang 119)