Bí-tích THÁNH-THỂ

Lm. Đỗ Xuân Quế O.P.

(tiếp theo số 30)

CHƯƠNG III

GIÁO-LÝ CỦA THÁNH PHAO-LÔ VỀ BỮA TIỆC CỦA CHÚA

 

Do một sự tình cờ khi có những lạm dụng trong Hội thánh Cô rin tô liên quan đến bữa tiệc của Chúa khi các tín hữu đến hỏi thánh nhân xem có được dự tiệc trong các đền thờ ngoại giáo hay không, cho nên ở chương 10 trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô rin tô, thánh Phao lô đã chỉ trích những lạm dụng này; đồng thời trong chương 11, người cũng đề cập đến một lạm dụng khác là trong các bữa tiệc Thánh Thể đã thiếu bầu không khí huynh đệ. Thánh nhân đã không chỉ đưa ra những lời chỉ dẫn thực tế mà còn lý giải đến những lý do thần học nữa. Nhờ vậy người ta mới có thể biết được quan niệm của người về “Bữa tiệc của Chúa” như thế nào. Đây là một cách suy luận vừa phù hợp với truyền thống và đồng thời cũng có tính cách cá nhân nữa. 20

 

A.      Điều lạm dụng thứ nhất

 Có một số tín hữu đi tham dự các bữa tiệc cúng tế các thần linh củ người ngoài đạo tại những đền thờ của ho. Những tín hữu này ỷ vào phép Rửa và quyền được tham dự bàn tiệc thánh nên cho mình là những ngườị sống theo thần khí thì được phép làm mọi sự (1Cr 11,23).

 

 Để làm sáng tỏ điều ngộ nhận này, thánh Phao lô đã dựa vào Cựu ước để lý giải về mối liên hệ mật thiết giữa các ân huệ Chúa ban cho chúng ta qua các nghi thức thánh thiêng với đời sống thực hành đức tin, đức ái, đức thờ phượng và đức nhẫn nhục..v..v..Theo thánh nhân, trong thời xuất hành, dân Do Thái đã nhận được những ơn đặc biệt của Chúa và người đã kể ra những ơn này bằng từ ngữ dùng trong Ki tô giáo rằng mọi người “đã được chịu phép rửa trong đám mây và trong biển, nơi ông Mô sê”. Điều này muốn nhắc đến cuộc vượt qua Biển Đỏ trong sách Xuất hành khi “con cái Ít ra e“Tất cả đều đã ăn một thức ăn thiêng liêng” n đi vào giữa lòng biển ráo chân, nước sừng sững như tường thành” (Xh 14,22); (Xh 16,4); “Tất cả đều đã uống cùng một thức uống thiêng liêng” (Xh 17,6). Thánh Phao lô còn thêm rằng tảng đá thiêng liêng Khoreb ở Mê ri ba là “chính Đứ́c Ki tô”. Theo thánh Phao lô, kể cả các ơn ích trong Giao ước cũ, nếu có một giá trị thật nào thì cũng đều bởi Đức Ki tô mà ra. Nhưng dân Ít ra en tuy được những ơn như thế cũng vẫn quên bồn phận phải sống trung thành và thánh thiện. Họ vẫn tiếp tục say sưa, dâm đãng, kêu ca, trách móc và kết quả là họ đã chết trong sa mạc.

 

Nguyên tắc dẫn chứng như trên của thánh Phao lô khi trình bày các sự kiện này đã được giải thích rõ ràng rằng “những sự việc 20đó xẩy ra là để làm gương và được viết ra là để dạy dỗ chúng ta” (1Cr 10, 6 11). Nguyên tắc này vừa diễn tả sự khác biệt, vừa cho thấy sự liên tục giữa hai giao ước vì các biến cố trong Cựu ước chỉ là hình ảnh, còn liên tục là vì các biến cố trong Cựu ước tiên báo những thực tại của Tân ước như phép Rửa, bữa Tiệc ly để từ đó có thể rút ra những kết luận về cách đối xử của Chúa, của con người vẫn còn giá trị cho chúng ta ngày nay. Thánh Phao lô áp dụng nguyên tắc này vào vấn đề đang tranh luận như sau:

 

1. Dân Ít ra en đã nhận được những ơn của Chúa trong thời Xuất hành. Đó là những mẫu tiên báo các thực tại tương lai. Trong Tân ước, các tín hữu đã nhận được các ơn như phép Rửa, phép Thánh Thể. Đó chính là những mẫu tiên báo đã được thực hiện.

 

2. Dân Ít ra en đã sống ngược lại với bổn phận phải trung thành và thánh thiện để đối lại với các ơn họ đã nhận và họ đã chết. Trong Tân ước cũng vậy, nếu người Ki tô hữu sống trái với bổn phận phải trung thành và thánh thiện vì những ơn đã nhận được thì họ càng đáng phải chết hơn nữa.

 

Trong trường hợp thứ nhất, thì đó là một mẫu và một đối mẫu hoàn toàn do sáng kiến của Thiên Chúa. Trong trường hợp thứ hai thì đó là một mẫu và đối mẫu giả định, hoàn toàn tuỳ thuộc nơi tự do của con người để chọn lựa: nếu anh em làm như họ thì anh em cũng sẽ chết. Thánh Phao lô đã trình bày tư tưởng như vậy để áp dụng vào bữa tiệc của Chúa với những ý nghĩa của nghi thức này qua đoạn thư thứ nhất Cô rin tô 10, 16 17 như sau:

 

Khi ta nâng chén tạ ơn mà cảm tạ Thiên Chúa...đây chính là một kiểu nói của ngôn ngữ Do thái, ám chỉ chén rượu trong bữa tiệc của Chúa cử hành vào ngày Chúa nhật, có đọc lời chúc tụng và tưởng niệm những biến cố trong bữa Tiệc ly mà ngày nau chúng ta gọi là 20“dâng Mình Máu Thánh Chúa”.

 

...há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki tô? Chữ dự phần ở đây có nghĩa là tham dự, thông cảm, hiệp thông, cùng sở hữu. Các Ki tô hữu uống chén rượu là cùng tham dự Máu Chúa Ki tô.

 

Và khi ta cùng bẻ bánh thánh... động từ “bẻ” được dùng trong các bài tường thuật bữa Tiệc ly và danh từ “bánh” cũng cùng một gốc để chỉ bữa tiệc của Chúa.

 

...đó chẳng phải là dự phần vào Thân thể Người sao? Đây chính là việc các Ki tô hữu rước lễ ngày Chúa nhật là cùng nhau chịu Mình Thánh Chúa Ki tô.

 

Bởi vì chỉ có một tấm bánh...đây là tấm bánh duy nhất mà mọi Ki tô hữu cùng ăn, là thân thể duy nhất của Chúa ki tô phục sinh dưới hình bánh sau khi truyền phép.

 

...Và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể... Lời này xác nhận rõ ràng hiệu quả lạ lùng sau khi tín hữu lãnh nhận Mình Thánh Chúa Ki tô, tức là cùng ăn một tấm bánh duy nhất, mọi người trở nên một thân thể trong Đức Ki tô. Chúa Ki tô phục sinh kết hợp với Giáo hội và vì thế chính Người sẽ sống trong chúngta, làm cho chúng ta sống bằng chính sự sống của Người. Thánh Phao lô nhấn mạnh đến tình đoàn kết giữa các Ki tô hữu trong thân thể duy nhất của Đức Ki tô, để có lý do và bằng chứng biện bạch chống lại những thứ tự do mà nhiều người tự cho là mình được ơn thiêng ban cho để muốn làm gì thì làm. Dựa vào những nguyên tắc này, thánh Phao lô đã giải quyết vấn đề trong các bữa tiện thánh (1 Cr 10, 18 21). Người muốn minh chứng rằng tham dự những bữa tiệc ngoài tinh thần hiệp nhất như thế là có tội và không phù hợp với những nhu cầu tâm linh của một Ki tô hữu khi dự tiệc của Chúa. Thánh Phao lô còn dựa vào một sự kiện trong Cựu ước để dẫn chứng thêm qua các câu như sau:

 

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 31 tháng 6/2004 trang 75)

 

Trở lại Trang Nhà: