CHÂN DUNG GIÁO LƯ VIÊN HÔM NAY
Antôn Uông Đại Bằng
Khi Đức Giêsu sắp về Trời và ra lệnh truyền cho các Tông Đồ:
“Anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đă truyền cho anh em” (Mt 28, 18-20)
Người đă muốn Giáo Hội trở nên người loan báo Tin Mừng cứu độ và thày dạy chân lư cho mọi người, tức là làm Giáo Lư Viên trong ư nghĩa đầy đủ và cao cả nhất của từ này. Các mục tử kế tục các Tông Đồ – giáo hoàng, giám mục, linh mục cũng có chung sứ mệnh như thế. Đây là một công việc lớn lao và mênh mông, là trách nhiệm chủ yếu của các mục tử, nhưng một ḿnh các ngài th́ không thể nào làm xuể được. Do đó, Giáo Hội mời gọi cả các tu sĩ và giáo dân tham gia cộng tác vào công việc này.
Giảng dạy giáo lư, c̣n gọi là huấn giáo, bao gồm toàn bộ các nỗ lực được huy động trong Giáo Hội để đào tạo môn đệ, giúp con người tin vào Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, hầu nhờ đức tin họ được sống nhân danh Người, để giáo dục và chỉ dẫn họ trong cuộc sống đời này, và nhờ thế, xây dưng Thân ḿnh Đức Kitô [1]
Huấn giáo mật thiết với toàn bộ đời sống của Giáo Hội. Chính nhờ Huấn giáo, Giáo Hội không những phát triển về địa dư và về số lượng mà nhất là sự tăng trưởng bên trong và đáp ứng ư định cứu độ của Thiên Chúa [1]
Đề tài ban tổ chức giao cho chúng tôi tŕnh bày là “Chân dung người giáo lư viên hôm nay”.
Vậy chúng tôi xin tŕnh bày đề tài theo bố cục tổng quát như sau:
I. – T́nh h́nh giáo lư viên hiện nay.
II.- Giáo Hội cần có những giáo lư viên như thế nào?
III.- Phải làm ǵ để có được những giáo viên như Giáo Hội mong ước?
I .- T́nh h́nh giáo lư viên hiện nay
Tu sĩ hay giáo dân tham gia tác vụ giảng dạy giáo lư đều có thể được kể là giáo lư viên. Nhưng trong thực tế, thói quen vẫn hay dùng từ này để chỉ giáo lư viên giáo dân nhiều hơn, c̣n giáo lư viên tu sĩ thường vẫn được chỉ danh là tu sĩ thôi. Thói quen này cũng sẽ thường được áp dụng trong bài thuyết tŕnh này.
Thiếu giáo lư viên được huấn luyện đúng mức
Trong khi lực lượng tu sĩ tham gia giảng dạy giáo lư- mà đa số là nữ tu - thường được huấn luyện về giáo lư cũng như sư phạm, th́ không phải mọi giáo lư viên đều được huấn luyện đầy đủ để thi hành công tác này.
Điều đáng suy nghĩ là h́nh như chưa có giáo phận nào ở Việt Nam có được một trường hay trung tâm huấn luyện giáo lư viên chính danh. Bù đắp lại có chăng là đây đó có được những khóa huấn luyện mà nội dung chương tŕnh, thời hạn đào tạo cũng rất đa dạng tùy nơi, tùy thời và tùy hoàn cảnh. Có giáo phận, như Giáo phận Kontum, thời gian huấn luyện tập trung khá dài, h́nh như lên tới cả vài năm. Các nơi khác thường chỉ từ vài tuần đến vài tháng với số giờ học cả khóa thường khoảng mấy chục giờ, có thể được huấn luyện tập trung nhiều buổi trong một thời gian ngắn hoặc một buổi mỗi tuần trong một thời gian dài. Có khi những khóa huấn luyện là do Giáo phận tổ chức, điều này ít khi xảy ra ở một số nơi trong thời gian trước đây. Riêng ở Tổng giáo phận Sàig̣n, từ khoảng năm năm trở lại đây, Ṭa Tổng Giám Mục đă liên tiếp tổ chức các khóa huấn luyện giáo lư viên dành cho các giáo xứ trong Tổng giáo phận, mà ứng viên được chọn trong những người trẻ t́nh nguyện từ các giáo xứ; chương tŕnh huấn luyện gồm có ba cấp cơ bản và những khóa chuyên sâu nhằm thỏa măn nhu cầu dạy giáo lư cho nhiều lọai đối tượng khác nhau. Mỗi khóa có cả ngàn người được huấn luyện. Các Giáo phận khác cũng càng ngày càng có những nỗ lực tương tự. Khi chưa tổ chức được một cách quy mô cho cả Giáo phận, th́ cũng có những khóa do từng hạt hay từng liên xứ tổ chức, nhưng không phải nơi nào cũng có điều kiện tổ chức. Tại một số giáo xứ, đặc biệt tại các giáo xứ lớn có đông giáo dân, cha xứ có thể tự huấn luyện giáo lư viên cho nhu cầu mục vụ của giáo xứ ḿnh. Nhưng cũng có nhiều giáo xứ không làm được điều này. Có nhiều khi cha xứ chỉ việc chọn lựa dăm ba giáo dân có uy tín trong giáo xứ, không có một sự chuẩn bị đặc biệt nào khác, để phụ giúp ngài trong việc này khi có nhu cầu. Giáo xứ nào may mắn có được những giáo lư viên vốn là cựu chủng sinh hay cựu tu sĩ có đầy đủ khả năng cho công việc và vẫn c̣n nhiệt t́nh tham gia giảng dạy th́ trách vụ của mục tử nơi đó được nhẹ bớt rất nhiều. Ngoài ra, cũng có những giáo dân tuy không qua những khóa đào tạo chính quy nào, nhưng đă theo đuổi hoặc những lớp thần học cơ bản, những lớp Kinh Thánh,v.v…, hay tự trau dồi bằng những sách giáo lư và tài liệu của Giáo Hội, sẵn sàng chia sẻ công việc này với cha xứ khi có yêu cầu.
Cũng c̣n phải nói đến nhiều trường hợp của những anh chị em giáo dân, tuy không được huấn luyện chuyên môn bao giờ, nhiều khi cũng không có tŕnh độ văn hóa bao nhiêu, nhưng do ḷng yêu mến Chúa, nhất là do muốn đáp lại lời Chúa mời gọi rộng răi hết mọi Kitô hữu vào làm vườn nho nhà Chúa, nên đứng trước nhu cầu cấp bách của việc loan báo hay tái loan báo Tin Mừng, cũng sốt sắng tham gia công việc tốt lành này. Có những người sẵn sàng đến chỗ nào thuận tiện đối với thụ viên, kể cả đến tận nhà dự ṭng hay những Kitô hữu lớn bé có nhu cầu, phục vụ luôn cả một nhóm hay từng cá nhân, tùy theo hoàn cảnh, nhất là ở những nơi thiếu vắng linh mục và tu sĩ. Những “giáo lư viên” tự nguyện đầy thiện chí này thường không biết cách tŕnh bày giáo lư cho có hệ thống, nhất là khi căn bản giáo lư lănh hội từ xa xưa chưa được củng cố đúng mức, sự truyền đạt nhiều khi có nhiều thiếu sót, không được kết quả như mong muốn, nhưng chỉ biết một ḷng nhiệt thành làm hết sức ḿnh, v́ lợi ích các linh hồn. Đă có những vùng hẻo lánh xa xôi, chỉ có một số gia đ́nh công giáo vốn là di dân tự do, hay đă bị lôi cuốn trong những chương tŕnh giăn dân lập ấp, sống rải rác giữa lương dân, không nhà thờ, không có linh mục hay tu sĩ nào đặt chân đến, nhưng họ vẫn tiếp tục giữ đạo được, nhờ có những “giáo lư viên” tự phong này. Có những vùng v́ hoàn cảnh éo le lại trở nên những địa điểm nhạy cảm về chính trị, sự lui tới của linh mục, tu sĩ hay giáo lư viên từ bên ngoài vào hết sức bị hạn chế nếu không phải là bất khả, th́ vai tṛ của giáo lư viên tại chỗ là hết sức quư báu và cần thiết.
Sau cùng, nhưng không phải là kém cỏi nhất, đó là một lọai giáo lư viên rất độc đáo của Giáo Hội ở trên các cao nguyên, là sáng kiến có từ lâu đời của các thừa sai và vẫn c̣n giữ nguyên tính cách hợp thời của ḿnh, đó chính là các giáo lư viên người dân tộc thiểu số được gọi là giáo phu . Có thể nói đây chính là ân huệ đặc biệt quư giá của Chúa Thánh Thần, và cũng là niềm tự hào của Giáo Hội Việt Nam. Đó là những giáo dân được chọn lựa từ các buôn làng, được huấn luyện khá cẩn thận trong một thời gian đáng kể, để trở về phục vụ ở buôn làng của ḿnh, vừa như một giáo lư viên, vừa như cánh tay nối dài của mục tử để hướng dẫn mục vụ cho cộng đoàn. Trong t́nh h́nh khó khăn hiện tại của một số nơi, sự lui tới của mục tử trở nên khó khăn, vai tṛ của chú giáo phu càng chứng tỏ là hết sức quan trọng.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 31 tháng 6/2004 trang 46)