Trần Phong Vũ
(tiếp theo số 30)
Trong niềm đau xót trước cái chết bất ưng của người con trai cả, Trung Úy Wojtyla chỉ còn biết lặng lẽ dồn tất cả lòng yêu thương và sự săn sóc của ông cho Lolek. Một tay ông lo việc cơm nước sáng chiều cho hai cha con. Ông tạo cho người con trai út một lối sống thứ tự ngăn nắp. Sáu giờ sáng thức giấc, dùng điểm tâm, tới giáo đường tham dự thánh lễ. Đi học từ tám giờ sáng đến hai giờ chiều. Sau hai tiếng đồng hồ chơi đùa giải trí, thường là đá banh, bé Lolek theo cha tới nhà thờ cầu nguyện. Cầu nguyện xong về nhà học bài, dùng cơm tối. Sau đó, hai cha con cùng đi dạo.
Có thể nói ngoài những giờ Karol ở trường, lúc nào hai cha con cũng ở bên nhau như bóng với hình. Họ cầu nguyện chung với nhau. Họ chơi đùa chung với nhau.
Zbigniew Silkowski, nguời bạn cùng lớp với Karol kể lại rằng: một hôm cậu ghé thăm Karol. Khi vừa tới cửa cậu nghe có tiếng động liên tiếp từ trong nhà vọng ra tựa như tiếng của một vật được tung qua ném lại. Bỗng dưng có tiếng la lên vô gôn này! Cậu gõ cửa, và khi cửa mở, cậu vô cùng ngạc nhiên pha lẫn xúc động khi phát hiện ông trung úy mồ hôi nhễ nhãi đang cùng cậu con trai Lolek chơi túc cầu với một trái banh cuốn bằng nùi giẻ trong căn phòng trống, mọi đồ đạc, ghế bàn được dẹp qua một góc tường 5.
Năm lên 14, Karol Wojtyla bắt đầu say mê kịch nghệ.
Trong tác phẩm “Gift And Mystery” (Hồng Ân Và Huyền Nhiệm) của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ấn hành nhân dịp mừng lễ Kim Khánh Linh Mục ngày 1-11-96, Ngài cho biết như sau:
“Ban đầu sở dĩ tôi có khuynh hướng thích hoạt động sân khấu là vì ảnh hưởng của Mieczyslaw Kotlarczyk và vợ ông là Sofia khi hai người sống chung dưới cùng một mái nhà với cha con tôi. Thời gian này không những chúng tôi thường thảo luận với nhau về nghệ thuật sân khấu mà còn can dự vào lãnh vực diễn xuất”6.
Antoni Bohdanowicz, người bạn học cùng lớp với Karol kể lại rằng: “cuộc đời Lolek như đi vào một khúc quanh mới. Lolek cống hiến trọn vẹn những thì giờ rảnh rỗi cho sinh hoạt kịch nghệ.”
Theo lời người ta thuật lại thì ngay từ hồi còn nhỏ Karol đã có một trí nhớ siêu phàm. Hầu hết các kịch bản của Mickiewicz, của Slowacki chỉ cần qua thời gian tập luyện là cậu nhớ không sai một chữ. Những người trong cuộc hiện còn sống kể lại rằng, chỉ không đầy hai ngày trước khi trình diễn vở Balladyna của Slowacki, người nhận đóng vai Kostryn bỏ cuộc. Trong khi người bầu lo lắng chưa biết giải quyết ra sao thì Karol lặng lẽ tình nguyện đảm nhiệm thêm vai trò này, ngoài vai Kirkor đã được giao phó từ trước, (theo kịch bản, và cũng là điều may mắn tình cờ, là vai Krostryn chỉ xuất hiện sau khi vai Kirkor đã chết).
Khi được hỏi là bằng cách nào cậu có thể thuộc lời đối thoại của nhân vật mới thì Karol chậm rãi cho biết là cậu đã thuộc lòng khi cùng với người thủ vai này tập diễn thử. Không đầy 48 tiếng đồng hồ sau đó, vở Balladyna lên sân khấu và Karol đã diễn xuất tuyệt hảo trong cả hai vai cậu đảm nhận. Ngoài kịch, Karol còn thuộc lòng hầu hết những thi phẩm của Slowacki, trong đó có bài Vị Giáo Hoàng Người Slav 7.
Người ta cũng ghi nhận là chính những tác phẩm thi ca và kịch nghệ của những tác giả Ba Lan trong thế kỷ 19 mà nội dung thường đề cao nhân quyền, lòng yêu nước, yêu đồng loại, chống lại bất công, chuyên chế và bạo lực đã ảnh hưởng sâu đậm tới nhân sinh quan của vị Giáo Hoàng tương lai này. Sau khi kết thúc học trình bậc trung học, Karol cùng với thân phụ dời cư lên Krakow. Nơi đây, Karol khởi sự những năm đầu bậc đại học, đồng thời vẫn tiếp tục theo đuổi những bộ môn khác như văn chương, triết học và kịch nghệ.
Ngay từ thời thơ ấu, trong chỗ thẳm sâu của trái tim, Karol đã dành một vị trí đặc biệt cho những người Do Thái, đặc biệt trong thời gian Ba Lan bị Đức quốc xã khống chế và tìm cách truy diệt sắc dân này. Đối với khá nhiều người dân địa phương, vấn đề kỳ thị những người Do Thái kiều cư là một vấn đề được bộc lộ không giấu diếm, ngay cả trước thời gian bùng nổ thế chiến thứ hai.
Tác giả cuốn “His Holiness - John Paul II And The Hidden History Of Our Time” (Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II Và Lịch Sử Bí Ẩn Trong Thời Đại Chúng Ta) thuật lại rằng: vào năm 1938, khi một gia đình người Do Thái vốn là chỗ quen biết với gia đình Wojtyla quyết định di cư đi nơi khác vì lo sợ không khí kỳ thị ngày một gia tăng, Karol cùng với thân phụ đã hết lời trấn an và thuyết phục họ ở lại, nhưng vô ích.
Cha con Trung Úy Wojtyla nói với đương sự: “Xin bạn nhớ cho rằng không phải mọi người dân Ba Lan đều kỳ thị, kình chống các bạn”.
Sau này khi có dịp hồi tưởng lại sự việc, Ginka, người bạn Do Thái thuở thiếu thời của Karol và cũng là một người con trong gia đình kể trên, cho biết: “Khi nghe trung úy Wojtyla thuyết phục, tôi thành thật cho ông hay rằng rất hiếm có những người Ba Lan nghĩ như ông ta. Và khi nghe nói như vậy ông tỏ vẻ tức giận. Quan sát gương mặt đỏ gay của Lolek, tôi hiểu rằng Lolek cũng chia sẻ một cảm nghĩ với cha anh”8.
Thời gian thế chiến thứ hai bùng nổ, quân Đức tràn vào lãnh thổ Ba Lan, cũng như hầu hết thế hệ trẻ tại quốc gia này, cuộc đời của Karol Wojtyla có những đổi thay quan trọng. Ngày 26-10-1939, Hitler ra lệnh cưỡng bách lao động tất cả mọi công dân Ba Lan đến tuổi trưởng thành (riêng người gốc Do Thái bị cưỡng bách từ 12 tuổi trở lên). Mười ngày sau, tất cả các giáo sư trường Đại học Jagiellonian, nơi Karol vừa khởi sự năm học thứ hai, phải trình diện để trình bày về chương trình giảng dạy. Ngay sau đó, 186 vị đã bị cưỡng bách tống vào trại tập trung ở Sachsenhausen-Oranienburg. Sau đó, nhờ sự can thiệp, 120 người được trả tự do.
Một thời gian ngắn sau, hầu hết các trường trung và đại học Ba Lan đều phải đóng cửa. Để phụ giúp cha già trong việc mưu tìm sinh kế đồng thời cũng để tránh khỏi con mắt nhòm ngó của bọn thống trị Đức Quốc Xã, Karol Wojtyla xin vào làm việc lao động trong một hầm đập đá. Ít lâu sau, anh được thuyên chuyển qua xưởng hóa chất Solvay tại Borek Falecki.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân số 31 tháng 6/2004 trang 69)