Thông Điệp của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI
về Học Thuyết Xã Hội Công Giáo

CARITAS IN VERITATE
TÌNH THƯƠNG TRONG CHÂN LÝ
Lm Cao Phương Kỷ
       

Một bài học lớn cần được soi chiếu vào hoàn cảnh Giáo Hội & Quê Hương hôm nay

        Đạo của Chúa Cứu Thế là một Đạo NHẬP THẾ, vì chính Chúa GIÊSU là Con Thiên Chúa đã NHẬP THỂ, giáng thế làm NGƯỜI để cứu độ muôn dân. Do đó, Đạo của Chúa Cứu Thế không phải là một triết thuyết trừu tượng viển vông, không liên quan đến cuộc sống xã hội của loài người. Nhưng từ hơn hai ngàn năm, ĐẠO CHÚA luôn là Ánh Sáng soi đường cho nhân loại, làm Men, Muối ướp cho ĐỜI thêm mặn nồng Tình NHÂN ÁI.

        Thông Điệp"Tình Thương Trong Chân Lý" của ĐGH Biển Đức XVI đã trân trọng gửi cho toàn thể thế giới, cho mọi người thuộc mọi dân nước, không phân biệt mầu da, tín ngưỡng, vì tất cả mọi dân nước đều thuộc chung một Gia Đình Nhân Loại. Đó là lý do ĐGH Bênêditô XVI đã ân cần giới thiệu Thông Điệp này, đặc biệt đến những quí vị chưa chia sẻ niềm Tin CG.

        Những vấn đề Đức Giáo Hoàng đề cập trong Thông Điệp là những hệ luận, kết quả của những suy tư thần học rút ra từ những Tín Lý siên nhiên của Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo để áp dụng vào đời sống thực tế. Bởi vậy, dầu không cùng một Đức Tin CG, nhưng mọi người vẫn có thể chia sẻ những hoa trái tốt lành hàm ẩn trong các Giáo Thuyết của Hội Thánh về các vấn đề quan hệ nhất hiện nay như tôn trọng Nhân Phẩm, Nhân Quyền, Tự Do, Công Lý..

        Trong thế giới tục hóa hiện đại, các sử gia chân chính không thể phủ nhận được ảnh hưởng sâu đậm của Đạo Thiên Chúa trong các cơ cấu pháp luật, trong phong tuc tập quán, trong văn hóa, văn học..của các nước Âu-Mỹ. Nếu truy nguyên các ý niệm về Bình Đẳng, Tự Do, Công Lý, Nhân Quyền.. đã là động lực cho các cuộc cách mạng Dân Chủ Dân Quyền.trên thế giới, người ta phải thành thật nhìn nhận các nguyên lý đó đã bắt nguồn từ sách PHÚC ÂM của Chúa Cứu Thế.

        Bởi vậy, dầu chưa chia sẻ niềm TIN CÔNG GIÁO, đồng hương vẫn có thể hưởng ứng lý thuyết Xã Hội của Hội Thánh, đặc biệt các Tư tưỏng về NHÂN QUYỀN, TỰ DO, CÔNG LÝ..là những nguyện vọng thiết tha nhất của mọi người Dân Việt hiện nay.

        Để mọi người thiện chí muốn tìm hiểu HỌC THUYẾT XÃ HỘI của Hội Thánh Công Giáo qua Thông Điệp "Tình Thương Trong Chân Lý" của ĐGH Bênêdito XVI, xin bàn thêm về mấy điểm sau đây của Thông Điệp.

        I/-Lịch sử về Học Thuyết Xã Hội của các vị Giáo Hoàng trong thời cận đại

        II/-Động Lực của sự PHÁT TRIỂN là: "Tình Thương Trong Chân Lý"

        III/- "PHÁT TRIỂN" về "Con Người Toàn Diện" là gì?

        IV/-So sánh những điểm KHÁC BIỆT căn bản trong hai Học Thuyết Xã Hội CG & CS

I./Lịch Sử những Thông Điệp về Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh thời cận đại

        Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình đã xuất bản một cuốn sách thu tập các tài liệu liên quan đến Học Thuyết Xã hội:"Sách Cẩm Nang về Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh"(Compendium of The Social Doctrine of The Church), đã xếp loại các văn kiện, các Thông điệp thành một hệ thống tư tưởng về Xã hội học, xây dựng trên nền tảng Chân Lý của Phúc Âm, nhưng các hoa trái kết quả lại liên hệ đến việc tổ chức đời sống xã hội của Nhân Loại như: chính thể, kinh tế, đặc biệt là vấn đề :

        PHÁT TRIỂN Toàn Diện Con Người, có Hồn và Xác.

        Theo Lich Sử Hội Thánh Công Giáo, ngay từ buổi sơ khai, các Thánh Tông Đồ đã lập Chức Phó Tế(deaconate) để chăm lo việc quản lý, phân phối thực phẩm, giúp đỡ người nghèo, bệnh tật, già yếu trong Cộng Đồng. Sau này, các công cuộc Bác Ái vẫn được tiếp tục nhờ những lời giảng thuyết của các Thánh Giáo Phụ, Thánh TÔMA AQUINÔ và các vị Thánh sáng lập các Tu viện Nam, Nữ để chuyên lo cứu trợ và phục vụ các người thiếu thốn về tinh thần và vật chất.

        - Năm1892, ĐGH Lêô XIII, công bố Thông Điệp đầu tiên "Rerum Novarum (Tân Sự), để đối phó với cuộc biến chuyển xã hội vào đầu thế kỉ 19. Cuộc cách mạng về kĩ nghệ, "vấn đề LAO ĐỘNG", đã làm xáo trộn các cấu trúc về xã hội, chính trị và văn hóa. Thông Điệp "Tân Sự" từ nay sẽ là kim chỉ nam cho Học Thuyết Xã hội của Hội Thánh, xây dựng nền tảng và công bố tuyên ngôn về giáo huấn thường xuyên của Hội Thánh về các vấn đề liên quan đến các biến chuyển của Xã hội.

        - Năm 1931, sau cuộc khủng hoảng kinh tế rất trầm trọng năm 1929, ĐGH PIO XI, đã công bố Thông Điệp "Quadragesimo Anno" (Bốn Mươi Năm) để kỉ niệm 40 năm ngày công bố Thông Điệp "Tân Sự". ĐGH PIO XI đã cảnh cáo Au Châu về những chế độ chuyên chế độc tài như: cộng sản, và phát xít thiếu tôn trọng Tự Do của Công Nhân được quyền thành lập các nghiệp đoàn. Cần sự hợp tác tương trợ giữa công nhân lao động và tư bản, giữa Chủ và Thợ.

        Thông Điệp này cũng nhấn mạnh "nguyên lí hỗ trợ"(principle of subsidiarity), nghĩa là Nhà Nước cần phải hỗ trợ các cơ sở tư nhân, mọi người được quyền tư hữu, các thợ được chia sẻ lợi tức của hãng xưởng , đủ trợ cấp nuôi gia đình. Xã Hội cần xây dựng trên nền tảng Công Lý và Bác Ái. ĐGH Pio XI cũng đã chống lại các thể chế độc tài, phát xít ở Ý, và Quốc Xã ở Đức.

        - Năm 1937, Thông Điệp "Divini Redemptoris" (Chúa Cứu Thế), ĐGH Piô XII phê phán, và kết án chế độ cộng sản vô thần là: "quái ác từ nội khởi" (intrinsically perverse). Để tiêu diệt những ác quả do cộng sản gây cho nhân loại, cần canh tân đời sống kitôhữu, thực thi Bác ái Phúc âm, hoàn thành nghĩa vụ CÔNG LÝ, trên bình diện cá nhân và xã hội, liên hệ tới Công Ích, và thành lập các nghiệp đoàn chuyên biệt để bảo vệ quyền lợi chống lại sự bóc lột của độc tài, độc quyền của cộng sản

        - Năm 1960, thời chiến tranh lạnh giữa khối Nga-Mỹ, Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII, đã công bố Thông Điệp" Mater et Magistra"(Mẹ và Thầy), vì nhận thấy những biến chuyển mới trong vấn đề xã hội như: cáo chung chế độ thuộc địa, sự xuất hiện của các Quốc gia khối đệ tam, nạn nhân mãn, sự chênh lệch giữa những Nước: giầu/nghèo, mở mang/kém mở mang, canh nông/kỹ nghệ hóa..Hội Thánh lãnh trách nhiệm kêu gọi mọi người xây dựng tình ‘HIỆP THÔNG" (in communion) trong Chân Lý, Công Bằng, và Tình Thương.

        -Năm 1963, Chân Phước GH Gioan XXIII, công bố Thông điệp "Pacem in Terris" (Hòa Bình nơi Trần Gian), trong viễn tượng Hòa Bình của Thế giới bị đe dọa bởi võ khí hạt nhân đang lan tràn. Chủ đề của Thông điệp là :Hòa Bình và phẩm giá của Nhân Loại. Theo gương của ĐGH Leo XIII, Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của sự HỢP TÁC của mọi người có Thiện Chí. Do đó, đây là lần đầu tiên, một Thông Điệp của Hội Thánh Công Giáo gửi cho toàn thể Thế giới, để xây dựng một xã hội trên Chân lý, Công lý, Tình thương và Tự do, để giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, vì Công ích của toàn thế giới .

        -Năm 1966, Công Đồng Vatican II, công bố Hiến Chế "Gaudium et Spes" (Vui Mừng và Hy Vọng), chứng tỏ Hội Thánh Công Giáo luôn liên kết mật thiết với toàn thể Nhân Loại, và với Lịch Sử Thế giới, cùng đồng hành với Nhân Loại, và chia sẻ số phận với Thế giới, nhưng đồng thời cũng là Men Linh hồn của xã hội loài ngưòi được Chúa Cứu Thế canh tân và biến đổi thành Gia đình của Thiên Chúa.

        Hiến Chế "Vui Mừng và Hy Vọng" đề cập một cách có hệ thống nhiều vấn đề thời đại như văn hóa, kinh tế, xã hội, hôn nhân gia đình, và cộng đồng chính trị, hòa bình..dưới ánh sáng của ‘Thuyết Nhân Chủng học Kitôgiáo" (a Christian anthropological).Do đó, mọi vấn để phải được giải quyềt, khởi thủy từ" CON NGƯỜI"(NHÂN VỊ) và vì Ích lợi của "CON NGƯỜI", là tạo vật mà Đấng Tạo Hóa đặt định được làm chủ vận mệnh của mình. Bởi vậy, xã hội, các cơ cấu và sự PHÁT TRIỂN, phải qui hướng về sự TIẾN BỘ của Con Người.

        Công Đồng Vatican II, cũng công bố một Tuyên Ngôn về "Dignitatis Humanae"(Phẩm Giá Nhân Loại), trong đó "Quyền Tự Do Tín Ngưỡng" (The Right to religious Freedom) được long trọng công bố. Một là: bản Tuyên Ngôn quả quyết rằng: TỰ DO TÔN GIÁO đặt nền tảng trên Phẩm giá của Nhân Vị, và phải được quyền công dân (civil right) công nhận trong hệ thống pháp luật. Hai là: Quyền Tự Do Tôn Giáo là Quyền của mỗi cá nhân và của các cộng đồng khác nhau.

        -Năm 1967, ĐGH PHAOLÔ VI long trọng công bố TĐ "Populorum Progressio" (Sự Phát Triển của các Dân Nước). Điều mới lạ trong bức Thông điệp này, ĐGH Phao lô VI đặc biệt nhấn mạnh: sự Phát Triển Toàn diện của Nhân Vị, và sự Phát Trin Liên đới với toàn thể Nhân Loại. Sự Phát triển toàn diện của Nhân Vị, không chỉ giới hạn về mặt kinh tế, kỹ thuật, nhưng bao gồm cả khía cạnh văn hóa, tôn trọng phẩm giá của tha nhân, và nhìn nhận sự Thiện Hảo Tối Thượng, chính là nhìn nhận Thiên ChúaNguyên Thuỷ và là Cứu Cánh của mọi điều Thiện Hảo. Thuyết Nhân Bản toàn diện phải bao gồm cả những giá trị về tinh thân, thánh thiêng nữa.

        ĐGH PhaoLô VI thành lập: "Ủy Ban CÔNG LÝ và HÒA BÌNH", theo ý nguyện của Công Đồng Vaticano II, để khuyến khích các Cộng đồng tín hữu cổ võ Phát Triển tại các nơi nghèo đói, và Công bằng Xã hội trên thế giới.

        Năm 1968, lần đầu tiên, Hội Thánh mửng Ngày Hòa Bình Thế Giới.

        Năm 1970, vì Hội Thánh luôn theo dõi các biến chuyển của thế giới đế đối phó với các xáo trộn do thời cuộc gây ra các tranh cãi về ý thức hệ, nên ĐGH Piô VI ra Tông Thư"Octogesima Adveniens"(Năm thứ 80 đang đến), nhắc lại những giáo huấn của"Thông Điệp Rerum Novarum", và giải quyết thêm những vấn đề mới xuất hiện như: giới trẻ, phụ nữ, nạn thất nghiệp, đô thị hoá, di dân, nạn nhân mãn, môi sinh và truyền thông

        -Năm 1981, để kỉ niệm 90 năm Thông Điệp "Rerum Novarum", ĐGH Gioan Phaolô II, đã công bố Thông Điêp "Laborem Exercens"(Thực hành quyền Lao Động). Ngài dùng những tư tưởng về thần học và triết học để phác họa một linh đạo và luân lý đạo đức về việc LAO ĐỘNG.

        Vấn đề Lao Động của Con Người cần phải xét đến cả hai phương diện, khách quan tức công việc làm, và chủ quan, tức phương diện siêu nhiên của một Nhân Vị, vì Con Người không phải là một "máy móc sản xuất", nhưng lao động còn là cách biểu lộ các đức tính để hoàn chỉnh một con Người kiện toàn.

        -Năm 1988, ĐGH Gioan Phaolô II, công bố Thông Điệp"Sollicitudo Rei Socialis"(Quan tâm về Vấn đề Xã hội), để Kỉ niệm 20 năm Thông Điệp "Populorum Progressio". Ngài đặc biệt đề cập đến vấn đề PHÁT TRIỂN vế hai khía cạnh: một là, sự thất bại của Thế giới đệ tam về Phát Triển, và hai là: ý nghĩa và những điều kiện về Phát Triển xứng hợp với phẩm giá của Con Người. Ngài phân biệt ý nghĩa khác nhau của danh từ "Tiến Bộ"(progress) và Phát Triển(development). Phát triển thật sự, chân chính không phải là chỉ để tăng số lượng sản xuất hàng hóa cho nhiều, nhưng còn giúp Phát triển Con Ngưới Toàn diện, nghĩa là còn phải xét đến khía cạnh Đạo Đức của Phát Triển, như Công Bằng, Công Lý, và Tình Liên Đới.

        Khẩu hiệu của ĐGH Pio XII là: "Opus Justitiae Pax"(Hòa Bình là Công quả của Công Lý), thi Khẩu hiệu của ĐGH Gioan Phaolô II là: "Opus Solidaritatis Pax"(Hoà bình là Công quả của Tình Liên Đới).

        -Năm 1991, để kỉ niệm 100 năm Thông Diệp Rerum Novarum, ĐGH Gioan Phaolô II công bố Thông điệp mới về Xã hội:"Centesimus Annus" (Kỉ Niệm Một Trăm Năm). Ngài lập lại chủ đề của Thông Điệp trước, Ngài viết:’Ngày nay chúng ta gọi là: "Tình Liên đới", thì ngày xưa ĐGH. Lêo XIII gọi là "Tình Bằng Hữu"(friendship), ĐGH Phao Lô VI gọi là: "Tình Bác ái xã h࿙i"(social charity), còn ĐGH PhaoLô VI, gọi là"Văn minh Tình Thương" (civilisation of love)

        -Năm 1989, trong đời ĐGH Gioan Phaolô II, đã bùng nổ một biến chuyển lớn bậc nhất Lịch Sử Nhân Loại, vì nhờ sự hỗ trợ đắc lực của Ngài, đế quốc độc tài sô viết đã SỤP ĐỔ tan nát, chứng tỏ sự ngưỡng vọng của nhân loại hướng về nền Dân Chủ, và Tự Do Kinh Doanh, trong Tình LIÊN ĐỚI của mọi Dân Nước

        ĐGH Gioan Phaolô II, một chứng nhân của thời đại, vì Ngài sinh ra và lớn lên dưới chế độ Cộng sản Balan, đã minh chứng cho thế giới biết: Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh qua các thời đại luôn chuyển vận theo chiều hỗ tương giữa Thiên Chúa và Con Người. Nhìn nhận CHÚA ở trong mỗi Người, và mỗi Người ở trong CHÚA, đó là điều kiện chính thực để PHÁT TRIỂN Con Người..

        -Năm 2009, Thông điệp của ĐGH Bênêditô XVI:" Caritas in Veritate"(Tình Thương Trong Chân Lý) dự định công bố năm 2007, để kỉ niệm 40 năm Thông Điệp "Populorum Progressio" của ĐGH. Phaolô VI, nhưng đã hoãn lại 2 năm, để quan sát và phân tích cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính của thế giới, và những tai họa làm ngưng trệ công cuộc PHÁT TRIỂN của thế giới. Nhờ Ánh Sáng Phúc Âm, và các huấn thị của Công Đồng Vaticanô II, các Thông điệp của các vị Tiền Nhiệm về vấn đề Phát Triển., ĐGH Bênêditô XVI đã hoàn chỉnh, bổ túc và long trọng công bố Thông Điệp mới, một ngày trước ngày khai mạc cuộc họp thượng đỉnh của khối G8, tại L’Aquila, năm 2009.

II./Động Lực của "PHÁT TRIỂN" chính là: "Tình Thương Trong Chân Lý"

        Chủ Đích của ĐGH Bêneditô XVI, là bàn rộng thêm về Thông Điệp "Sự Phát Triển của các Dân Nước"( Progressio Populorum) của ĐGH Phaolô VI. Độc giả có thể thắc mắc, tại sao vấn đề Phát Triển của thế giới lại liên quan đến ý niệm về "Tình Thương Yêu"? Ý nghĩa của đầu đề:"Tình Thương Yêu trong Chân Lý", là gì?

        Thông Điệp của ĐGH Bênêditô XVI như: "Deus Caritas est" năm 2005; Thông điệp: "Spe Salvi", năm 2007, nếu muốn tìm hiểu chiều sâu của các tư tưỏng của ĐGH Bênêditô XVI, thì cần biết phương pháp luận lý, "logíc" mà Ngài vẫn thường dùng để phân tích, và diễn giải ý nghĩa đích thực của các danh từ căn bản, nòng cốt.

        Vì thế, trong Thông Điệp mới "Thương Yêu Trong Chân Lý" cần giải nghĩa các chữ: Chân Lý,(Sự Thật) về Con Người là gì? Thế nào là Phát Triển toàn diện của con Người? Giải Nghĩa được những ý niệm tiềm ẩn trong những thành ngữ đó, mới có thể nhận ra mối tương quan mật thiết giữa "Tình Thương trong Chân Lý" "Phát Triển"

        Tình Thương Yêu là gì?

        Nguyên tự latinh "Caritas", dịch là "Bác ái", hay "Amor": "Tình Yêu, Tình Thương . Hai danh từ này dùng chung trong Thông điệp. Theo Kinh Thánh dạy: Thiên Chúa Yêu Thương chúng ta, và chúng ta đáp lại Tình Thương Yêu của Chúa, bằng cách chúng ta Yêu mến Chúa và thực thi tình bác ái đối với mọi người là anh chị em cùng một Cha Chung. Vì thế, Chúa Cứu Thế đã tóm lược Đạo của Chúa vào một Mệnh Lệnh duy nhất là:

        "Mến CHÚA và Yêu Người"

        Tình Thương của Chúa là Hồng Ân Chúa ban nhưng không cho Nhân Loại, không phải chúng ta có công trạng gì. Chúa Thương Yêu chúng ta trước, nên chúng ta có nghĩa vụ đáp lại Tình Yêu Thương vô cùng vị tha, nhân hậu, vô điều kiện(unconditional Love) của Chúa. Tình Yêu Thương đó đã được Chúa Cứu Thế chứng tỏ bằng cách Hy Sinh Mạng Sống, Chết trên Thập Gía để như của Lễ dâng hiến đền tội cho chúng ta. Tình Yêu Thương của Chúa mà mỗi người chúng ta lĩnh nhận, chính là ĐỘNG LỰC, lý do khiến chúng ta theo gương Chúa thúc đẩy, đ Yêu Thương tha nhân như chính mình. Tình Thương Yêu vô vị lợi của Chúa là nguồn mạch, nguyên do của mọi Tình Yêu thường tình của Nhân loại như: tình yêu nam-nữ, vợ-chồng, tình yêu gia đình, tình bằng hữu, tình đồng hương, tình yêu tổ quốc.

        Tình Yêu Thương, Lòng Bác Ái vô vị lợi, vô điều kiện, hoàn toàn VỊ THA cao trọng hơn đức tính CÔNG BẰNG. Một ông chủ trả công sòng phẳng cho các công nhân, không bóc lột, hà hiếp, thì mới chỉ là giữ đức Công Bằng về việc trả lương tương xứng đối với thợ thuyền, nhưng chưa phải là Bác Ái, là Tình Thương Yêu vô vị lợi. Câu nói"Chén thù, chén tạc", chỉ là cách "xã giao", giữa những thương gia, hay nhà kinh doanh, nhưng chưa hẳn là Tình Bằng Hữu thật. Khi cha mẹ hy sinh sức khoẻ, thì giờ, tiền bạc vì con cái, khi các Nữ Tu hy sinh đời sống riêng tư để được hoàn toàn tự do phục vụ người nghèo, tàng tật, mồ côi, phong cùi..thì đó thật là TÌNH BÁC ÁI, vị tha.

        Nói tóm lại, Hoc Thuyết xã hội của Hội Thánh Công Giáo được xây dựng trên nền tảng của "Tình Mến Chúa Yêu Người". Mọi hoạt động "từ thiện, bác ái, cứu trợ, giúp người tàng tật, già nua, góa bụa, mồ côi, tù đầy.. đều phát xuất từ Mệnh Lệnh duy nhất đó.

        Theo phương pháp luận lý thuận lý(Logic) và phân tích của ĐGH Bênêditô XVI, để bảo đảm tính chất tinh tuyền của Tình Thương Yêu, phát xuất từ "Thiên Chúa là Tình Yêu", thì Tình Yêu Thưong ấy phải ở TRONG Chân Lý, Sự Thật, thì mới đáng gọi là "Tình Yêu Thương Thật"

        "Trong Chân Lý" là gì?

        Giới từ"TRONG"là quan trọng để nối kết Sự Thật, Chân lý với Tình Yêu Thương. Do đó, "Yêu Thương TRONG Sự Thật", nghĩa là Tình Yêu Thương không được giả dối , đánh lừa, nhưng phải được Sự Thật bảo đảm, soi sáng, chỉ dẫn, hướng đạo, thì Tình Yêu Thương mới là Chân chính, Chân Thành.

        Sự Thật hay Chân Lý là gì?

        Trong Phần Nhập đề của Thông Điệp, ĐGH Bênêditô XVI đã cảnh giác rằng: bác ái mà không có sự Thật thì dễ lẫn lộn với những tình cảm tốt đẹp, tuy hữu ích cho sự sống chung trong xã hội, nhưng nó ở bên lề xã hội.(số1-4). Phát triển Quốc gia, nếu không có sự Thật, thì "hoạt động xã hội sẽ tuỳ thuộc những tư lợi(tham nhũng), tuân theo tiêu chuẩn của quyền lực (Độc tài). Do đó, Sự Thật"trong các hoạt động xã hội để Phát Triển cần theo tiêu chuẩn: Công Lý và Công Ích., thì mới giúp Dân giầu, Nước mạnh được.

        Đấng Tạo Hóa an bài đặt định cho Con Người và vũ trụ các Chân Lý tự nhiên và siêu nhiên. Chân lý tự nhiên gồm các định luật về các ngành khoa học vật lý, khoa học nhân văn...Lý Trí nhân loại có thể hiểu và khám phá ra được. Những Chân Lý siêu nhiên thuộc phạm vi Đưc Tin, do Phúc Âm của Chúa Cứu Thế mạc khải, giảng dạy như: Chúa Cứu Thế Chết để Chuộc tội, Chúa Phục Sinh để cho nhân loại được sống vĩnh cửu. Những Chân Lý dạy về nguồn gốc và cứu cánh của cuộc đời, sự chết và sống vĩnh cửu, sự thưởng phạt, công tội.

        Theo văn mạch của Thông Điệp, ý nghĩa chữ "Sự Thật" ở đây là "Sự Thật về Con Người Toàn diện". Con Người toàn diện bao gồm, thân xác và Linh Hồn. Nếu Con Người chỉ có xác, chỉ cần ăn ngủ..thì người ta có khác chi loài cầm thú? Nhưng Con Người"Linh ư vận vật", còn có hồn thiêng bất tử, trí khôn và các giá trị tinh thần linh thiêng khác nữa.

        "Con Người Toàn diện"bao gồm NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN, TỰ DO TÔN GIÁO..chính là mục đích của Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh Công Giáo. Hiểu được cốt tuỷ của học thuyết xã hội này, độc giả mới có thể giải thích một cách xác đáng, đầy đủ về các văn kiện của Công Đồng, các Thông Điệp của các ĐGH Lêo XIII, ĐGH Gioan Phao Lô II, và ĐGH Bênêditô XVI. Hơn nữa, Chân Lý về "Con Người Toàn diện", và các Chân Lý khác về Đức Tin, chính là những Lời Giảng dạy của Chúa Cứu Thế trong sách Phúc Âm, vì Chúa phán:" Chính Ta là Đường, là SỰ THẬT và là Sự Sống.

        Do đó, nếu lý thuyết nào về xã hội mà chối bỏ, hay phản lại Chân Lý của Phúc Âm, chống lại Tự Do, Nhân Phẩm, Nhân Quyền, của "Con Người Toàn diện", thì không có giá trị nhân bản thật, và là BẤT NHÂN.

III./ PHÁT TRIỂN "Con Người Toàn Diện"

        Như đã toát lược phương pháp luận lý, và diễn giảng của ĐGH Bênêditô XVI về ‘Tình Thương Yêu Trong Chân Lý" và chính Chúa Cứu Thế là Sự Thật đã Hy Sinh mạng Sống vỉ Yêu Thương Nhân Loại. Chúa đã Chết, và Sống Lại là động lực khiến mọi người noi gương bắt chước, thực hiện Tình Bác Ái, giúp Nhân Loại đạt được sự PHÁT TRIỂN Viên Mãn: Hạnh Phúc ở đời này và Trường Sinh Bất Tử. Bởi vậy, những hoạt động từ thiện bác ái của Hội Thánh Công Giáo qua các thời đại chung cuộc cũng chỉ đi theo con Đường của Chúa Cứu Thế đã vạch sẵn..

        Thế nào là " Con Người Toàn Diện"?

        Con Người Toàn diện gồm có Xác và Hồn, nên việc Phát Triển Con Người gồm ba lĩnh vực: Phát triển vật chất như mở mang kinh tế, xây cất bệnh viện, hệ thống giao thông...;Phát Triển tinh thần như: mở trường đào tạo nhân tài, dạy kiến thức về đạo đức, luân lý, nghĩa vụ công dân, lòng ái quốc, tình yêu gia đình, ý thức cộng đồng, xã hội...; và Phát Triển Tâm Linh, Siêu Nhiên, như :Tôn Trọng Tự Do Tín ngưỡng, Tôn trọng Lương Tâm, thi hành luật Luân Lý, Mười Giới Răn, lánh dữ làm lành, không thù oán, biết tha thứ...

        Ba Lĩnh vực này của con Người toàn diện, luôn tác động hỗ trợ và bổ túc cho nhau, nâng đỡ nhau để sống điều hòa, quân bình và hạnh phúc.Nếu chỉ Phát Triển vật chất, và Phát Triển Trí năng thì không đủ để thiết lập một hệ thống pháp luật, chính trị, kinh tế có thể bảo đảm được sự an toàn, công bằng, trật tự trong xã hội. Phát Triển Tâm Linh, Siêu Nhiện của con Người luôn tác động, và ảnh hưởng đến các cơ chế pháp luật, chính trị, kinh tế của quốc gia, xã hội. Niềm Tin vào Đấng Tối Cao, Chủ Tể vạn vật sinh linh, thưởng kẻ lành , phạt kẻ dữ, và niềm Hy vọng về cuộc sống Vĩnh cửu, sẽ giúp chúng ta kiến thiết một xã hội trần gian công bằng, nhân ái, nhân bản hơn, vì chúng ta tin tuởng: Gia đình Nhân Loại tồn tại nhờ Tình Thương vô hạn của Vị Thượng Đế là Chủ Tể muôn sự muôn loài, và mọi Dân Nước không phải là "hàng xóm, láng giềng", nhưng là "Anh Chị Em một Nhà"

IV. SO SÁNH những điểm KHÁC BIỆT căn bản giữa Hội Thánh CÔNG GIÁO và CS

        Sau đây, chỉ SO SÁNH mấy điểm nổi bật nhất, KHÁC BIỆT căn bản giữa Học Thuyết Xã Hội của Thiên Chúa Giáo, và những điểm nòng cốt trong chính sách xét lại, vá víu của cộng sản; tuy cộng sản đã sửa sai rất nhiều phen, uốn nắn cho thích hợp với tình thế biến chuyển của quốc tế, nhưng trên căn bản vẫn không thay đổi, vẫn tác hại đến đời sống cá nhân, gia đình, xã hội và sự PHÁT TRIỂN Nhân Phẩm của mỗi công dân Nước Việt. Những khác biệt, mâu thuẫn, giữa hai học thuyết về con Người và Xã Hội, phản nghịch nhau đến nỗi không thể "dung hòa"được, nhưng cần một thái độ hay lập trường dứt khoát, lựa chọn cái này, thì phải vứt bỏ cái kia, như trong Phúc Âm Chúa đã dạy:

        "Không tôi tớ nào có thể hầu hạ làm tôi hai chủ, hoặc là ghét chủ này, mến chủ kia, hoặc là kính phục chủ này, khinh dể chủ kia. Anh em không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền tài được"(Luca 16:13.)

        1- Về Niềm TIN: Khác biệt căn bản nhất là: một bên, Tin vào Thiên Chúa, là Cha Chung của Nhân Loại, là Đấng Tạo Hóa của vạn vật, vạn hữu; bên kia, là Tam : vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc.

        Năm 1917, Đức MARIA đã hiện ra tại Fatima sáu lần, lần đầu ngày 13/05 1917,để cảnh giác thế giới về tại họa Cộng sản vô thần, các Đức Giáo Hoàng đã ra vạ tuyệt thông, lên án thuyết vô thần, bất nhân này. Ngày nay, những tài liệu phi bác thuyết mác xít vẫn còn giá trị. Gần đây, trong Thông Điệp" Deus Caritas est",(Thiên Chúa là Tình Thương), và Thông Điệp "Spe Salvi"(Trong Hy Vọng chúng ta được Cứu Rỗi), và Thông Điệp về Xã Hội" Caritas IN Veritate"( Tinh Thương Trong Chân Lý) của ĐGH Bênêditô XVI đã phê phán bác bỏ Thuyết vật chất vô thần của cộng sản mácxít, trong mỗi Thông Điệp. Ngài viết trong Thông Điệp: "Thiên Chúa là Tình Thương", như sau:

        "Luận điệu cho rằng những cơ cấu xã hội công bằng sẽ làm cho những công việc bác ái trở nên thừa thãi, che dấu một quan niệm duy vật về Con Người: khái niệm sai lầm là con người có thể sống chỉ" bằng cơm bánh"(Mt 4,4; Dt 8,3).- một xáx tín làm hạ giá con người và cuối cùng coi thường tât cả những gì là Nhân Tính( Deus Caritas Est, số 28,b)

        Thuyết mácxít cs coi Tôn Giáo là thuốc phiện...Mọi công dân không có QUYỀN Tự Do Tôn Giáo. Cái gọi là "pháp lệnh tôn giáo"do cs tự đặt ra những luật lệ để hạn chế các Quyền Tự Do Tín ngưỡng của Liên Hiệp Quốc, bằng thủ tục"Xin-Cho". Chúng xen vào nội bộ của Hội Thánh Việt Nam, bằng cách chấp thuận hay từ chối việc phong chức HY, GM, LM..Chúng dựng hình HCM trên bàn thờ Kính Đức Maria, trong cuộc rước kiệu. và trong chùa miếu, bên cạnh Đức Phật. Người công giáo nếu muốn làm công chức, làm việc tại các cơ quan chính phủ, thì bị áp bức không được tham dự Thánh Lễ, không cho con cái Rửa tội..Cộng sản ép buộc các chủng viện, nơi đào tạo các giáo sĩ, phải học hỏi về thuyết mácxít vô thần.   

        2-Về Luân Lý: Thiên Chúa Giáo đặt căn bản Luân Lý trên "Kinh Mười Điều Răn" do Thiên Chúa khắc ghi trong tâm khảm mọi người, và mạc khải cho Tiên tri Maisen, trong Cưụ Ước. Chính Chúa Cứu Thế, trong sách Phúc Âm cũng đã giảng dạy và tóm lược vào hai điểm nòng cốt của Mười Giới Răn là:

        MẾN CHÚA, YÊU NGƯỜI.

        "Mười Giới Răn"của Chúa đã khắc ghi trong Lương Tâm nhân loại là những Chân Lý có gíá trị khách quan, tuyệt đối vượt không gian , thời gian, vì bất cứ ở đâu, thời nào"giết Người" luôn là tội ác. Ngược lại với Luân lý tự nhiên của Công Giáo và của Nhân Loại, thuyết mác xít, vô thần chủ trương: " mục đích biện minh cho phương tiện", dùng làm tiêu chuẩn để định đoạt, phân biệt Phải/ Trái, Tội/Phúc. Cộng sản vô thần chỉ có một mục đích là quyền lợi của Đảng mà thôi. Bất cứ điều gì có lợi cho Đảng là điều tốt, những hành vi, lời nói nào chống lại Đảng là xấu. Cho nên các cán bộ thường dùng mọi phương thế (mà Người Lương Thiện tin là tội lỗi) như : giết người, tham nhũng, hối lộ, chiếm đất, ăn gian nói dối, lường gạt, phá thai, buôn người.,.miễn là các cán bộ của Đảng được lợi lộc, bất chấp Luật Luân Thường Đạo lý mà mọi người có Nhân Tính, Luơng Tâm, trong toàn thế giới xưa nay vẫn tuân giữ.

        Chế độ độc tài cộng sản, không có Tình Yêu Thương Bác ái, luôn dùng BẠO LỰC để đàn áp, bắt giam, đánh đập, bỏ tù, dùng côn đồ"nhân dân tự phát" để hành hạ những công dân đòi Công Lý. Trong một xã hội đầy tràn tội ác, thì làm sao Con Người có thể Phát triển toàn diện được?

        3/Tôn Trọng NHÂN VỊ, Phát Triển Con Người Toàn diện. Nếu so sánh với những Giáo Thuyết căn bản vừa trình bày ở trên, độc giả sẽ nhận ra những khác biệt căn bản như trắng với đen giữa hai Thuyết về NHÂN VI của Công Giáo và mác xít vô thần, bất nhân.

        Đối với thuyết mácxít vô thần bất nhân, chỉ có ĐẢNG là chủ độc tôn, còn các cá nhân không có gía trị gì. Cá nhân, gia đình hay tổ quốc phải phục vụ quyền lợi của Đảng. Đảng bảo sống thỉ sống, đảng bảo chết thì phải chêt( giống như chế độ quân chủ chuyên chế)

        Cộng sản vi phạm các Luật của Liên Hiệp Quốc về "Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền". Chúng luôn tự tiện đặt ra các luật rừng để hạn chế các Luật của Liên Hiệp Quốc về Tư Do Tôn Giáo, Tự Do Ngôn Luận, Tự Do đi lại, Tự Do hội họp, Lập Hội..

        4- Về Giáo Dục, cộng sản chen nhiều thời giờ học tập chính trị, thuyết mác xít, vô thần.vào Chương Trình học, không đào luyện học sinh sinh viên những kiến thức về ĐAO ĐỨC làm Người như: Công bằng Bác ái. Nhà Trường không đủ các giáo chức chuyên môn về Khoa Học, các Khoa Chuyên Môn, nên các học sinh đã tốt nghiệp nhưng thiếu khả năng sáng chế, khiến cho nền kỹ nghệ trong Nước không được mở mang để có thể xuất khẩu hàng nội hóa ra ngoại quốc, đem ngoại tệ về cho quốc gia.. Nạn buôn bán văn bằng giả, gian lận trong các kỳ thi tuyển, ưu đãi tuyển nhân viên dành cho con em các cán bộ Đảng..khiến trình độ học vấn thụt lùi rất xa đối với các Quốc gia Tự Do như: Ấn Độ, Đại Hàn, Đài loan..

        5-Quyền Tư Hữu, và Lương Bổng cần thiết để bảo đảm mỗi người và gia đình được một nếp sống tự lập và tự do, không lệ thuộc vào chính phủ. Chế độ cộng sản phủ quyết Quyền Tư Hữu của người dân, tự tiện tịch thu ruộng đất, nhà cửa mà không bồi thường cân xứng hoặc mua giá rẻ rồi đem bán lại cho các công ty, cho các cán bộ của Đảng. Do đó, tại Thủ Đô Hà Nội, khắp Nước, thường diễn ra những cảnh tượng"Dân Oan Khiếu Kiện", triền miên, nhưng không được các cơ quan chính phủ giải quyết.

        Trong khi dân chúng, đặc biệt các cơ sở bác ái từ thiện của Công Giáo bị trưng thu, thì chế độ cộng sản độc tài về chính trị đã đẻ ra một quái thai là giai cấp "đại gia đỏ", do tham nhũng tạo nên, khiến đại đa số dân chúng trở thành nghèo khổ, còn giai cấp cán bộ Đảng thì giầu sang, phung phí tiền bạc của quốc gia.

        Để tạm kết luận về Phần Dẫn Nhập vào Thông Điệp « Chân Lý Trong Tình Yêu Thương" của ĐGH Bênêditô XVI, ta thử suy nghĩ và so sánh với tình trạng Phát triển xã hội của Việt Nam hiện nay, dưới chế độ độc tài, chuyên chế cộng sản. Thuyết mácxít này đã bị phá sản từ nhiều năm và gần đây vẫn còn bị giới cầm quyền tại Nga kết án các lãnh tụ cộng sản, tố cáo các tội ác và dân chúng hạ bệ các tượng của Xít ta lin, Lênin.

        Điều đáng buồn cho dân tộc Việt Nam, sau bao năm tranh đấu hy vọng thoát vòng nô lệ của thực dân, đế quốc, để giành lại Quyền Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, thì ngày nay, vẫn còn bị thuyết mác xít trá hình, vá víu áp đặt trên Quê Hương, khiến toàn thể Người Dân Việt không thể tự PHÁT TRIỂN, tân tiến, ngang hàng với các Nước trên thế giới.