"Chủ Nghĩa Thực Dụng-Realism"
Tác Hại Ra Sao Trong Giáo Hội Quê Nà?
Trần Phong Vũ      

* Bài học cay đắng mà Mỹ quốc và các nước Tây Âu đang phải đối diện trước những biến động tại Bắc Phi là hệ quả tất nhiên của chính sách thực dụng (realpolitik).
* Hơn một lần đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã lên tiếng cảnh cáo về sự xâm thực nguy hiểm của chủ nghĩa thực dụng (realism) trong đời sống đức tin của người Công giáo.
* Lời cảnh cáo nghiêm khắc của vị lãnh đạo tinh thần tối cao thế giới Công giáo đã và đang ứng vào cảnh ngộ đau thương, nghiệt ngã mà GHCGVN đang phải đối mặt hôm nay.

I.- Biến cố Bắc Phi phơi trần mặt thật của các nước Âu Mỹ

        Biến cố được mệnh danh là cuộc "Cách Mạng Hoa Nhài" bùng nổ ở Tunisia, hiện đang lây lan qua hầu hết các nước Bắc Phi là một biến cố bất ngờ đối với công luận toàn thế giới. Phản ứng ngỡ ngàng, lúng túng của siêu cường số 1 Hoa Kỳ và các quốc gia Tậy Âu, kể cà Nga sô, Trung cộng sau khi biến cố xảy ra là bằng chứng điển hình.

        Tiếp theo cảm giác choáng váng ban đầu, những nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ quốc và Âu châu hẳn đã nhận ra những giới hạn và những hệ quả tai hại, lâu dài của cái mà dư luận quen gọi là "Chính Sách Thực Dụng – Realpolitik" mà họ đã áp dụng từ nhiều thập niên qua trong mối giao tiếp với các chế độ độc tài, cụ thể là các quốc gia Phi châu. Bằng cái nhìn cảnh giác, cho phép người ta bao gồm luôn cả cung cách ứng xứ gọi là hòa hoãn, mềm dẻo của Hoa Thịnh Đốn, Paris, Bá Linh, Luân Đôn đối với các chế độ cộng sản Bắc Kinh và Hànội ngày nay.

        Sự vùng dậy của quần chúng Tunisia, Ai Cập, Libya dù gây nhiều ngỡ ngàng cho dư luận, nhưng không phải ngẫu nhiên trong sớm chiều mà có. Nó là tích lũy những đau thương, oan trái, bất hạnh trong nhiều thập niên dài người dân đen Bắc Phi đã phải chịu đựng dưới ách thống trị độc tài, hà khắc của những Ben Ali, Mubarack, Khadafi. Nhửng nhà độc tài khét tiếng này từ đâu mà có? Họ đã dựa vào những siêu quyền lực nào để tồn tại trong suốt mấy chục năm qua?

        Câu trả lời tìm thấy khá dễ dàng, Truy lùng đến tận căn, nó không ngoài chủ trương "Duy Lợi" hay còn gọi là "Chính sách Thực dụng" trong đường hướng đối ngoại thực tiễn của các cường quốc Âu Mỹ mà ra. Có khá nhiều điều để ngưới ta nhân danh, hoặc công khai hoặc ngấm ngầm. Vì cần tiêu diệt nạn khủng bố; vì nhu cầu duy trì sự ổn định trong vùng; vì muốn giới hạn việc ủng hộ và tiếp trợ vũ khi cho Palestine; vì phải cầm chân các thế lực thù địch với Do Thái qua chủ trương sắt máu của các nhóm Hồi Giáo cực đoan… Chính từ những cái "vì" ấy mà cả Hoa Kỳ và Tây Âu đã mặc nhiên trở thành "những bà mụ đỡ đầu", hay nói một cách nghiêm chỉnh, những đồng minh thân cận của những nhà độc tài khét tiếng ở Bắc Phi như Ben Ali, Mubarack, kể cả khuôn mặt dị hợm khi nóng khi lạnh bất thường của viên đại tá vẫn còn đang gan lì trì giữ chiếc ghế độc tài, sắt máu của y tại Libya. Đấy là những nhân danh người ta có thể nói ra công khai. Và tuồng như cũng được cộng luận vô cảm mặc nhiên tán thành.

        Bên cạnh đó, dù được che đậy dưới nhiều dạng thái khác nhau, ai cũng thấy rõ những nguồn lợi to lớn mà Hoa Thịnh Đốn và các cường quốc Âu châu thủ đắc trong nhiều thập niên qua do sự tồn tại của các chế độ độc tài Bắc Phi: Nơi đây luôn là nguồn cung cấp khí đốt lớn lao và cũng là nơi tiêu thụ vô giới hạn vũ khí, bom đạn và các loại cơ giới cung ứng cho chiến trường.

        Chính sách lập lờ, lưỡng lự, chân trong chân ngoài của Hoa Kỳ và sự chia rẽ của các quốc gia Âu châu trong việc yểm trợ các lực lượng quần chúng Libya lúc ban đầu nhằm chống lại Khadafi trung tuần tháng 3-2011 khi các lực lượng này đang bị chế độ độc tài tàn sát, có cơ nguy bị dẹp tan, một phần nào cũng cho thấy ảnh hưởng rơi rớt của chủ nghĩa nguy hiểm này.

        Bằng lương tâm ngay chính, những câu hỏi rốt ráo được đặt ra: nếu các cường quốc Au Mỹ luôn trung thành với lý tưởng công bằng, tự do, dân chủ, nhân quyền mà họ không ngớt rao giảng để biết thành tâm gạt bỏ chính sách thực dụng, duy lợi thì bộ mặt của các quốc gia Bắc Phi ngày nay ra sao? Có cần phải chờ tới 23 năm như ở Tunisia, 3 thập niên dài ở Ai Cập, và cuộc tắm máu khủng khiếp mà người dân Lybia phải chịu đựng vì cơn điên của hung thần Khadafi trung tuần tháng 3-2011, quảng đại quần chúng khổ đau của những xứ sở bất hạnh này mới có cơ may thay đổi vận mạng đen tối của mình? Liệu bài học Bắc Phi hiện nay có khiến các cường quốc Âu Mỹ xét lại cung cách suy nghĩ và hành xử của họ đối với những hành vi tàn ác, gian trá, lật lọng của Bắc Kinh và Hànội không?

        Và, vượt lên trên phạm vi đời thường, tác hại của chủ nghĩa duy lợi, thực dụng, coi mọi giá trị đều tương đối đã tác hại ra sao trong lãnh vực tôn giáo, cách riêng Giáo hội Công giáo VN?

II.- Giáo Hoàng Biển Đức XVI nghĩ gì về Chủ Nghĩa Thực Dụng?

        Trong chuyến tông du mục vụ Hoa Kỳ tháng 4-2008, đương kim Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã hơn một lần nghiêm khắc lên án sự xâm thực dưới hình thức này hay hình thức khác của Chủ Nghĩa Thực Dụng (Realism) trong đời sống đức tin của người tín hữu Công Giáo. Nó ẩn giấu dưới dạng thức "tương đối hóa" mọi sự, kể cả những giá trị thiêng liêng bất biến của Tin Mừng, để từ đấy thỏa hiệp với cả những căn nguyên của sự ác.

        Trong các cuộc tiếp xúc với các Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ và giới trẻ Mỹ, ngài đã không ngần ngại đề cập tệ nạn ấu dâm phát hiện nơi một số giáo sĩ trong Giáo hội Công giáo, cách riêng tại Hoa Kỳ, vào những thập niên gần đây. Truy tầm căn nguyên sâu xa, một cách gián tiếp Đức Giáo Hoàng Biển Đức cho rằng: tệ trạng đáng đau buồn vừa kể là sản phẩm của chủ nghĩa thực dụng, hay nói cách khác, của quan niệm tương đối hóa mọi giá trị đời sống. Đề cập những giá trị tiên thiên không thể bị hiểu khác của nhân phẩm và những quyền căn bản của con người khi lên tiếng trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc hôm 18-4-2008, ngài nhấn mạnh:

        "Không chính quyền nào, không tôn giáo nào có quyền để thay đổi hoặc giới hạn nhân quyền, bởi vì những quyền ấy đến từ phẩm giá của mỗi con người đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa."

        Từ quan niệm cơ bản: Nhân Quyền là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa trao ban cho loài người từ lúc mới hoài thai cho đến khi chết, không ai, không quyền lực nào có thể tước đoạt mà không bị lên án, trong dịp tới chủ tọa Đại Hội Giới Trẻ thế giới cuối năm 2008 tổ chức tại Úc châu, Đức Thánh Cha nói:

        "Các bạn thừa hiểu rằng phẩm cách tiên thiên của mỗi cá nhân tùy thuộc vào căn tính của họ vốn là hình ảnh của Đấng Tạo Hóa. Do thế, nhân quyền mang đặc tính toàn cầu, phổ quát đặt nền tảng trên quy luật tự nhiên, không dựa trên những dàn xếp, bảo trợ hay, thỏa hiệp. Vì vậy các bạn hãy nghĩ tới những người nghèo khó, già yếu, những người di dân và những người thấp cổ bé miệng trong xã hội của chúng ta."

        Cũng trong dịp này, lập lại những ý tưởng từng được ngài nhấn mạnh trong chuyến du hành mục vụ Hoa Kỳ mấy tháng trước đó, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI tiếp tục lên tiếng chỉ trích điều mà ngài mệnh danh là "chủ nghĩa tương đối", cha đẻ của "chủ nghĩa duy lợi và thực dụng" đang góp phần xoi mòn những gì gọi là tuyệt đối, là lý tưởng, là thánh thiêng. Ngài nói:

        "Còn có một điều xấu khác phát xuất từ thực tế là sự tự do và lòng bao dung thường bị phân cách ra khỏi sự thật. Sự kiện này đã phát sinh từ ý niệm, mà ngày nay nhiều người chia sẻ. Đó là: trên đời này không có chân lý tuyệt đối. Chủ nghĩa tương đối, với chủ trương đề cao giá trị mọi việc khiến người ta thích đi tìm những "kinh nghiệm" đó. Đúng, kinh nghiệm, nếu bị tách rời khỏi chân lý và điều thiện, có thể đưa tới, không phải sự tự do thật sự, mà là sự đảo lộn về luân lý và lý trí dẫn tới sự hạ thấp mọi tiêu chuẩn làm mất lòng tự trọng, và từ đấy là căn nguyên phát sinh sự tuyệt vọng."

III.- Não trạng thực dụng trong GHCGVN

        Những biến động lớn lao trong lòng Giáo hội Công giáo Việt nam mấy năm qua nếu đã tạo nên những vết thương đau đớn trong lòng tập thể người tín hữu trong và ngoài nước thì nó cũng tiềm tàng một điều may mắn không nhỏ. Sau nhiều thập niên sống trong tình trạng huyễn hoặc, không thực, với bối cảnh sáng tối, đen trắng, chân giả, thật hư lẫn lộn, tuyệt đại đa số người tín hữu bị dẫn giắt đi như một bày chiên mù lòa, không còn đủ sáng suốt và điều kiện để phân biệt ai là chủ chăn chân thật và ai là kẻ chăn thuê?

        Những biến cố dồn dập bùng nổ sau ngày 15-12-2007, khi đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục giáo phận Hànội gửi ra lá thư kêu gọi giáo dân tham gia phong trào cầu nguyện đòi lại tòa Khâm Sứ cũ từng bị nhà nước cưỡng chiếm để dùng vào những sinh hoạt bất xứng, và qua đó cũng để đòi phục hồi công bằng, tự do, nhấn phẩm và quyền sống cho người dân Việt Nam… quả thật đã để lại không ít những vết hằn nhức nhối trong Giáo hội mà sự kiện đức cha Giuse bị áp lực tứ bề khiến ngài phải sống âm thầm như nhà ẩn tu ở Châu Sơn hiện nay. Tuy nhiên, cũng từ đấy đã mở toang bức màn "vô minh" bao phủ mọi sinh hoạt trong Giáo hội, giúp mọi người nhìn rõ chân tướng của mình, của người, của sự viêc chung quanh.

        Sự xâm thực lần hồi của chủ nghĩa thực dụng

        Vì vô tình hoặc bị rơi vào bẫy sập do chế độ vô thần giăng ra, trước và sau tháng 4-1975, không ít chủ chăn đã vì những cái "tiện", những điều dễ dàng trước mắt mà thỏa hiệp với những căn nguyên, cội rễ của sự ác. Người đầu tiên rơi vào trường hợp này chính là cố TGM giáo phận Sàigòn: Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Bình. (Cần mở dấu ngoặc để nói một lần cho rõ là người viết không làm công việc lên án bất cứ ai. Đấy là công việc của Thiên Chúa. Nhưng không phải vì thế mà tránh né sự thật, những sự thật nhờ những yếu tố chủ quan cũng như khách quan, đang càng ngày càng được phơi ra dưới ánh sáng mặt trời).

        Trong suốt 20 năm cai quản giáo phận Sàigòn, vị Giám mục nổi tiếng hiền hòa, nhân hậu (như chính tên gọi của ngài –Bình-) đã hơn một lần thú công khai nhận là ngài đã không có chọn lựa nào khác hơn là phải nương tay đối với những linh mục "quốc doanh", kể cả cái cơ cấu nhân danh Công giáo nhưng luôn có những hành vi phản bội Giáo hội có tên Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam, cũng như tờ Công giáo & Dân tộc, chỉ vì muốn cho "được việc".

        Câu chuyện bắt đầu từ thái độ làm ngơ cho nhóm Tứ Nhân Bang (Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Vương Đình Bích) từng vỗ ngực tự nhận là "linh mục cán bộ" (?!), mặc tình nhân danh cái Ủy Ban kia để léo lái mọi đường đi nước bước của TGP Sàigòn ngay từ những năm đầu CS mới thôn tính được miền Nam, khi mà cố TGM Huế Nguyễn Kim Điền có thái độ dứt khoát và quyết liệt đối với tổ chức ngụy danh GH này ra sao ai cũng biết. Từ đấy, cũng vì cái quan niệm dễ dãi, thực dụng để "được việc" trên đây, cố TGM Nguyễn Văn Bình đã liên tiếp nhượng bộ hết trường hợp này đến trường hợp khác mà hầu hết đều gây nên những hệ quả vô cùng tai hại cho sự hợp nhất và tinh tuyền của Hội Thánh. Điển hình nhất là ngài đã gián tiếp thỏa hiệp với nhà nước chấp nhận cho LMQD Huỳnh Công Minh, người từng công khai tuyên tín với chủ nghĩa Mác-xít-Lê-nin-nít, cùng một lúc giữ hai chức vụ quan trọng là Cha Sở Nhà Thờ Chính Tòa Sàigòn kiêm Tổng Đại Diện một tổng giáo phận lớn nhất Việt Nam.

        Minh họa thêm cho tính bi đát của sự kiện này, trong cuốn hồi ký toàn tập của ĐC Phaolô Lê Đắc Trọng cố GM Phụ Tá TGP Hànội do nguyệt san DĐGD ấn hành cuối năm 2009 dưới tiêu đề Chứng Từ Của Một Giám Mục, có đoạn như sau:

        "Một Đức Giám Mục nói về Tổng Đại Diện của mình đang thao túng mọi việc trong Giáo phận vị đó đã là và nay vẫn còn tinh thần patriot, Toà Thánh đã biết, dư luận chống đối, muốn vị đó từ chức. Đức Giám Mục nói: "Ông ấy tốt, giúp nhiều việc, làm sao bãi chức ông được. Khi nào tôi chết, tức khắc ông ấy hết quyền". Bi đát làm sao! Truyện thật 100%! Những ấn loát muốn được ra mắt, phải dán nhãn hiệu "Đoàn Kết". Các tác phẩm mất giá một phần, bị nghi ngờ. Nay dưới nhãn hiệu "Xuất bản của Toà Tổng Giám Mục".

        Tác giả hồi ký cay đắng kết luận:

        "Lãnh tụ đã vào ngự toà rồi!" (Sđd trang 262).

        Ngoài ra, cũng chính cố TGM Nguyễn Văn Bình đã cam tâm nhắm mắt bưng tai trước những lời tố cáo có bằng chứng hiển nhiên về việc LMQD Phan Khắc Từ có vợ, có con tiếp tục làm Cha Sở nhà thờ Thánh Gẫm, Vười Xoài!

        Cả hai trường hợp kể trên không phải chỉ tồn tại ở TGP Sàigòn trong thời gian ĐC Nguyễn Văn Bình tại vị mà còn kéo dài cho tới ngày nay dưới thời HY Phạm Minh Mẫn.

        Đấy chính là những bằng chứng điển hình về sự xâm thực lần hồi của chủ nghĩa thực dụng trong đời sống đức tin của người tín hữu Công giáo Việt Nam dưới chế độ chuyên chính, độc tài, vô thần cộng sản. Nó manh nha và lớn lên từ những yếu đuối tiên thiên của con người muốn được yên thân, nhất là trước những cơn cám dỗ của tiền tài, danh vọng và tính dục. Nó không có luật trừ đối với những thành phần lãnh đạo trong Giáo hội. Từ đấy, chủ nghĩa duy lợi, tương đối hóa tất cả mọi giá trị, bao gồm những giá trị siêu nhiên, thánh thiêng bắt đầu lấn sâu vào phạm trù tôn giáo. Và những hiện tượng tiêu cực nảy sinh.

        Tôn giáo ngẫu tượng

        Sau thời gian dài tìm mọi thủ đoạn độc ác nhằm triệt tiêu niềm tin Kitô giáo nhưng bị thảm bại, đảng và nhà nước cộng sản xoay sang kế sách khác. Một mặt chúng cho phép mở cửa lại một số chủng viện nhưng ép các Giám mục phải nhường quyền duyệt xét danh sách các ứng viên đi tu không ngoài mục tiêu kiểm soát và nhất là "cấy" những "hạt giống đỏ" vào hàng ngũ chủng sinh. Mặt khác, chúng khuyến khích việc xây cất các cơ sở thờ tự thật to, thật nguy nga, với kinh phí lên tới hàng chục tỷ đồng, biến GH thành một thứ GH giàu sang, phản lại Tin Mừng ngay giữa bối cảnh sống nghèo nàn, khốn khó của tuyệt đại đa số nhân dân trong nước.

        Trong một bài mang tựa đề "Suy nghĩ về ‘những suy nghĩ’ trong bài viết của tác giả J.B. Nguyễn Hữu Vinh (Hà Nội)" đăng trên DĐGD số 68 phát hành tháng 7 năm 2007, tôi đã có dịp nói tới mối nguy Giáo hội đã và đang bị tha hóa vì hiện tượng các nhà thờ thi nhau mọc lên "như nấm sau mưa" –ngôn ngữ của NHV-. Theo tác giả, một người hiện đang sống ờ Hànội, để có phương tiện xây nhà thờ to, rộng, người ta (bao gồm một số những giáo dân và giáo sĩ đã bị tha hóa trong Giáo hội quê nhà) đã cam tâm nhắm mắt làm bất cứ điều gì mà với lương tâm ngay chính của người Công giáo, không được phép làm. Thí dụ như gục đầu chịu sự sai khiến của những thế lực hứa cho tiền để công bố kinh phí xây cất một ngôi thánh đường nào đó gấp năm, gấp bảy lần kinh phí thật sự! Một câu hỏi đặt ra là để làm gì nếu không là để tạo cơ hội cùng nhau chia chác?! Chia chác giữa những cá nhân thuộc thế lực tài trợ, và chia chác giữa thế lực này với những kẻ chấp nhận việc man khai!

        Chưa hết, vẫn theo tác giả, có giáo xứ (hoặc giáo phận) còn lập ra nhiều dự án xin hải ngoại tài trợ với những mục tiêu khác nhau như dự án giúp đỡ học sinh nghèo, dự án thiết lập trạm y tế, viện cô nhi, hoặc nhà hưu dưỡng… nhưng thực tế khi nhận được ngân khoản lại dồn vào việc lo hoàn thành một dự án duy nhất là xây cất một công trình phụng tự lớn lao, bề thế ở địa phương, khiến cho miệng lưỡi nhân gian lại có dịp lập lại điệp khúc buồn: nếu không có XÂY thì làm sao có cơ hội đề CẤT? Trong điều kiện không đáng trông chờ ấy, tôn giáo trong mắt và trong tâm hồn nhiều người đã trở thành một thứ tôn thờ ngẫu tượng. Nói theo tác giả Nguyễn Hữu Vinh thì "thật đáng tiếc, có khi, có nơi, khi xây xong Thánh đường rộng rãi, bề thế, thì mất đi nhiều Thánh đường khác quan trọng hơn, đó là TÂM HỒN NGƯỜI TÍN HỮU"

        Những người thường có dịp đi về Việt Nam khi đọc những nhận định chua xót trên đây hẳn không thể không nghĩ tới những công trình xây cất "lạ lùng và hoang phí đến độ kỳ cục" trong khuôn viên TGM Bùi Chu và một vài nơi tôn nghiêm khác trên đất nước VN hôm nay.

        Cũng trong cái não trạng thích phô trương bề ngoài như thế, ngoài thói tục cử hành thường xuyên những kiểu mừng Lễ Bạc, Lễ Vàng trong giới giáo sĩ, kể cả những giáo dân giàu có, trong những năm gần đây nhiều cuộc tập hợp lớn lao mà ngôn từ trong nước gọi là "hoành tráng" đã liên tiếp diễn ra từ đơn vị giáo xứ, giáo hạt, giáo phận tới hệ cấp tối cao trong Giáo hội. Chỉ riêng trong năm 2010 và đầu năm 2011, người ta đếm được khá nhiều những cuộc tập hợp mang quy mô lớn. Đầu tiên là Năm Thánh ghi dấu việc thành lập hai Giáo phận Đàng Trong, Đàng Ngoài và sự hình thành cơ chế HĐGMVN. Tiếp theo phải kể đến ba ngày gọi là Tọa Đàm nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố TGM Nguyễn Văn Bình ở Sàigòn. Sau đó là Đại Hội Dân Chúa cũng ở Sàigòn và lễ Bế Mạc Năm Thánh được tổ chức rầm rộ ở Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc La Vang vào những ngày đầu tháng 01-2011 vừa qua.

        Trong trường hợp bình thường, việc tổ chức những đại lễ này không những không thể chê trách mà còn là niềm vui cho người tín hữu. Nhưng nếu đặt vào bối cảnh một Giáo hội đang bị kiềm chế, bách hại bởi một cơ chế đối nghịch với tôn giáo như chế độ cộng sản để nhìn sâu vào đàng sau sự việc hầu thấy được những tác hại ngấm ngầm bên trong, chúng ta sẽ nhận ra là quả thật nó đã để lại trong tâm hồn người tín hữu những dư vị cay đắng về một Giáo hội đã bị rút ruột chỉ còn cái mã bề ngoài! Chỉ cần nhìn vào thái độ ngạo mạn, trịch thượng của Nguyễn Thiện Nhân trên khán đài Lễ Bế Mạc Năm Thánh ở La Vang vừa qua là đủ rõ.

        Chính lối sống đạo mang tính khoa trương bề ngoài trong khi nội dung tôn giáo bị bào mòn trên đây đã khiến cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, một linh mục già Dòng Thánh Phanxicô khó khăn (còn có tên gọi là Dòng Anh Em Hèn Mọn) ở Sàigòn mệnh danh là "Tôn giáo Lễ Hội" mà nếu cần phải chỉ danh thì vẫn chỉ là thứ tôn giáo thờ ngẫu tượng mà thôi, một thứ tôn giáo từ hai ngàn năm trước Chúa Giêsu đã lớn tiếng cảnh giác là chỉ biết tôn thờ Ngài ngoài môi ngoài miệng trong khi trong lòng chứa đầy giả dối, gian ác! Truy nguyên cho đến cùng, nó là kết quả tất nhiên của cái não trạng "duy lợi", "tương đối hóa" mọi giá trị nơi một số các Đấng Bậc Làm Thày trong Hội Thánh mà ra như chính ĐGH Biển Đức đã nghiêm khắc cảnh cáo. Cũng vì phủ nhận những giá trị tuyệt đối nằm trong cốt lõi của đức tin Kitô giáo nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất, bề ngoài, nhất thời, người ta dễ dàng chạy theo chủ nghĩa thực dụng để lần hồi đồng hóa chuyện đạo với chuyện đời, không phải đâu xa mà ngay trong lòng một chế độ luôn tìm mọi cách để truy diệt tôn giáo và một thời coi tôn giáo là "thuốc phiện đầu độc con người"!

        Dù đau lòng và có thể trở thành đối tượng cho những lời dèm xiểm là "chống cha" (mà "chống cha" lại thường dễ dàng bị gắn liền với "chống Giáo hội", thậm chí "chống Chúa"), nhưng vì những réo gọi của lương tâm, người tín hữu thật lòng yêu mến Giáo hội vẫn phải buộc lòng nói lên những sự thật hết sức "THỰC" kể trên. Nó cũng là căn nguyên khiến tác giả Gioan Baotixita Nguyễn Hữu Vinh, một trí thức trong nước, phải đau đớn viết ra những lời lẽ sau đây:

        "Để có điều kiện vận động tiền của, được cấp phép, được đi nước ngoài xin tài trợ… thậm chí có những khi có vị đã chấp nhận im lặng trước những điều vô lý của cá nhân, của xã hội… với rất nhiều hiện tượng bất công, tham nhũng cũng như nhiều tệ nạn khác với phương châm "im lặng là vàng" mà người Công giáo làm chứng cho sự thật không được phép im lặng."

        Liệu có cần nhắc lại ở đây nội dung bài giảng của GM Bùi Văn Đọc tại Rôma cách đây vài năm trong đó chỉ vì muốn biện hộ cho thái độ "im lặng là vàng" của hàng giáo phẩm trong nước trước sự lộng hành của những thế lực gian ác mà ngài đã cam tâm cắt xén cà Lời Chúa?! Và liệu có cần phải trưng dẫn những lời "vàng ngọc" rất thời sự của GM Nguyễn Chí Linh, đương kim phó chủ tịch HĐGMVN khi lên tiếng tại New Orleans, tại San Jose nhân cuộc Mỹ du không kèn không trống trung tuần tháng 3 vừa qua không?!

        Đâu là hệ quả của hiện tượng mất ý niệm về tội lỗi nơi người tín hữu CGVN??

        Trong bài "Vấn đề xưng tội" vừa được công bố trên mạng nhân Mùa Chay Thánh năm nay, cha già Đỗ Xuân Quế Dòng Đa Minh viết:

        "Xưng tội bây giờ là vấn đề đáng quan tâm, một phần vi nhiều người ít hiểu nên ngại, một phần vì tội lỗi lan tràn khắp nơi, khiến cho người ta mất ý thức về tội, ít nghĩ đến tội, không còn sợ tội để mà xa lánh."

        Khi xác quyết là "tội lỗi lan tràn khắp nơi", hẳn linh mục tác giả không chỉ muốn nói tới tình trạng băng hoại khắp mặt về nhân tính, đạo nghĩa trong xã hội dưới chế độ độc tài, chuyên chính, phi tôn giáo cộng sản ở trong nước hiện nay, mà còn gián tiếp khơi gợi tới những gương mù, gương xấu đang bày ra ngay trong lòng Giáo hội, trong đó, thật đau đớn, lại bao gồm cả cung cách ăn ở, hành xử của hàng giáo sĩ, giáo phầm.

        Cha viết:

        "Có nhiều căn cớ gây nên tình trạng này, như lương tâm bị chai lỳ không còn nhậy cảm với tội, như ít đi xưng tội nên cũng chẳng mấy khi nghĩ đến tội. Thêm vào đó là trào lưu tục hóa và khuynh hướng tương đối hóa của người thời nay."

        "Tục hóa", "tương đối hóa". Vẫn chỉ là những căn bệnh có họ hàng gần xa với chủ nghĩa "duy lợi", chủ nghĩa "thực dụng" đã được bàn đến trên đây.

        Đôi giòng tạm kết

        Sư an nguy của một nước là trách nhiệm của toàn dân, không phân biệt giai cấp, địa vị, thành phần hay trẻ già, trai gái. Vì thế tiền nhân có những câu: "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách", "Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh". Tuy nhiên, trên thực tế, thiện chí, sức mạnh của toàn dân có được vận dụng hữu hiệu hay không hoàn toàn tùy thuộc vào hệ thống cầm quyền trong nước. Nếu may mắn quốc gia có được những nhà lãnh đạo thành tâm yêu nước thương dân để trên dưới một lòng giữ nước và xây dựng đất nước mang lại phúc lợi cho mọi người thì thật vạn hạnh. Nhược bằng trái lại, thì chuyện gì sẽ xảy ra? Nhìn vào những chế độ Ben Ali của Tunisia, mubarack của Ai Cập, Khadafi của Lybia và những gì đã và đang xảy ra cho vùng trời Bắc Phi đã cung ứng cho chúng ta một câu trả lời cụ thề.

        Quan sát vấn đề trên phương diện con người, sự hưng vong của một tôn giáo cũng không khác. Nó tùy thuộc vào thiện chí và sự đóng góp công lao, sức lực của mọi chi thể thuộc tôn giáo đó. Là một tôn giáo được Chúa Giêsu thiết lập theo cơ chế phẩm trật, được sự quan phòng gìn giữ và tác động của Ngôi Ba Thiên Chúa. Nhưng, vì Thiên Chúa đã ban cho con người quyền tự do tuyệt đối (kể cả tự do chối bỏ Ngài) nên những thăng trầm trong Hội Thánh từ hai ngàn năm qua trên nguyên tắc vẫn nằm trong trách nhiệm chung của mọi tín hữu. Dù vậy, vì là một cơ chế phẩm trật nên trách nhiệm chính yếu vẫn thuộc về các Giám Mục: từ Giám Mục Rôma tức là Đức Giáo Hoàng tới các Giám mục cai quản các Giáo hội địa phương.

        Những nhận định trên đây hẳn đã giúp mọi người nhận ra tình trạng băng hoại, xuống cấp, niềm tin bị xói mòn trong Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay là do trào lưu tục hóa, duy lợi, thực dụng, tương đối hóa mọi giá trị đời sống mà ra. Trách nhiệm chung thuộc về hết thảy chúng ta. Nhưng trước hết và trên hết, phần lớn vẫn nằm trong cung cách hành xử của các Giám mục, nói chung Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

        Vấn đề là bao giờ các ngài mới thật sự nhận ra điều ấy?

Nam California, Hoa Kỳ 21-3-2011

1. TTX/VN ngày 07-7-1976 đã ghi lại nguyên văn lời tuyên bố sau đây của LMQD họ Huỳnh trước Quốc Hội CS: "Bá cáo chính trị càng làm cho tôi xác tín hơn nữa rằng: con người mới, xã hội mới mà mọi người đều mơ ước, mà mọi người tin vào Chúa Kitô Giêsu mãi mơ ước, con người mới đó, xã hội mới đó không thể có được, không bao giờ có được nếu không có đảng Lao Động Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân lao động."

Ở đây có thể hiểu là tác giả muốn ám chỉ cả người kế vị ĐC Bình là HY MẪN.

2. Tâm Thư của một nhóm tu sĩ, giáo dân gửi HĐGMVN, cách riêng ĐC Bình ngày 15-8-1989, trong đó có đoạn như sau: "Chúng con xin đề nghịquý ĐC thẳng thắn loại bỏ ra khỏi hàng ngũ những linh mục đã biến chất, mang nhiều tai tiếng vế tác phong, vi phạm trầm trọng đến lời khấn độc thân, đã có vợ con mà vẫn thi hành mục vụ. Cụ thể là trường hợp ông Phan Khắc Từ, Tổng Thư Ký của tổ chức gọi là UBĐKCGYN thành phố. Ông này đã từng tở chức ăn thôi nôi và sinh nhật con ông…"

3. Trong bài viết trên DĐ số 68, tôi đã nêu lên vài nhận định trước khi nhắc đến chứng từ của tác giả Gioan Baotixita Nguyễn Hữu Vinh.

"Có điều nhìn vào thực tế trước mắt, những người lo việc xây cất nơi phụng tự cho tôn giáo mình ở quê nhà đã không có được sư lương thiện cần và đủ mà chính tôn giáo mình đòi hỏi phải có, nhất là không có được cái dũng lược và sự ngay thẳng tối thiểu để chấp nhận điều thách đố của lương tâm: thà không có nhà thờ to rộng mà vẫn giữ được sự trong sáng của tâm hồn, thà không được phép xây cất hơn là phản lại đạo làm người, đi ngược lại giáo lý tôn trọng sự thật và cách hành sử công chính trong đạo Chúa. Do đó, tác giả bài viết đã phải đau xót ghi nhận là:

4. "…nhiều nơi, sự minh bạch, công khai không được bảo đảm, dẫn đến những nghi kị trong cộng đồng đối với những người có trách vụ. Và thật đáng tiếc, có khi, có nơi, khi xây xong Thánh đường rộng rãi, bề thế, thì mất đi nhiều Thánh đường khác quan trọng hơn, đó là TÂM HỒN NGƯỜI TÍN HỮU….. nhiều nơi vẫn làm chui, làm lén khi đi làm những thủ tục cấp phép, tạo điều kiện cho những quan chức nhà nước tham nhũng, nhận hối lộ…việc xây dựng các công trình đã gần như một cuộc tranh đua. Để có điều kiện vận động tiền của, được cấp phép, được đi nước ngoài xin tài trợ… thậm chí có những khi có vị đã chấp nhận im lặng trước những điều vô lý của cá nhân, của xã hội địa phương với rất nhiều hiện tượng bất công, tham nhũng cũng như nhiều tệ nạn khác với phương châm "im lặng là vàng" mà người Công giáo làm chứng cho sự thật không được phép im lặng."