KỈ NIỆM VỀ Đ/TGM PHILIPHÊ NGUYỄN KIM ĐIỀN

L.M.Cao Phương Kỷ

 

Nguyệt San DĐGD tháng Sáu, năm 2009, in hình Đ/TGM PHILIPHÊ NGUYỄN KIM ĐIỀN, để “Tưởng Niệm 20 năm cái chết đầy nghi vấn của Người Cha Can Trường và Thánh Thiện” (6/1988-6/2008), làm sống lại trong tôi những kỉ niệm rất đặc biệt mà tôi không bao giờ quên về người Tiểu Đệ Chúa Giêsu” (Petit Frère de Jésus), khi Ngài và tôi còn phục vụ Giáo Phận CẦN THƠ.

 Làm sao có thể quên được gương sáng thánh thiện, vui vẻ, đơn sơ, khiêm tốn của một “Người Em Nhỏ” Chúa Giêsu, khi chính người ấy đã đặt tay Truyền Chức Linh Mục cho tôi năm 1959, và đã cho phép tôi được gia nhập”Hội Xuân Bích, Việt Nam” năm 1964, trước khi đổi ra Tổng Giáo Phận HUẾ.

 

Giáo Phận NAMVANG

Trước năm 1955, Giáo Phận NAM VANG, gồm tòan thể nước Campuchia (Cao Miên) và các Tình miền Hậu Giang của Nam Việt. Các Linh Mục, tu sĩ Ba Nam và Nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng (Providence, Portier) thường di chuyển rất xa, từ Cà Mâu lên tới Battambang, SiemRiep, Nam Vang, Biển Hồ, Tonlesap. Năm 1959, trong dịp nghỉ hè, tôi được theo Cha Phước, từ Sóc trăng lên thăm viếng các Linh Mục và các bổn đạo gốc Việt còn sinh sống tại các tỉnh như Siemriep, Battambang, Biển Hồ, thủ đô Nam vang, Nhà Thờ Sacré Coeur (Thánh Tâm), Chủng Viện Nam Vang (cây số sáu), Dòng Kín Carmelites, Kep…Các Cha Sở cho biết: hầu hết bổn đạo Công giáo trên đất Chùa Tháp là người Việt, vì người Miên rất sùng Đạo Phật, từ hòang từ (SihaNuk) cho đến thứ dân, con trai trước khi cưới vợ, phải vô chùa tu tập mấy năm, dưới sự huấn đức của các vị sư, dân chúng gọi là”Ông Lục”. Nhân dịp này, tôi và phái đòan được thăm viếng khu vực rộng lớn chu vi hơn 10km, Đền Angkor Thom, Angkor Vatt (Đế Thiên Đế Thích), một Kỳ Công của thế giới. Tôi được chiêm ngưỡng những công trình kiến thiết những Ngôi Chùa, Tháp, xây cất tòan bằng những tấm đá lớn chạm trổ các hình về nghệ thuật Phật Giáo Therevada (Tiểu Thừa, các vị Sư bận Áo Vàng). Quần thảo các Ngôi Chùa bị quân xâm lăng Thái Lan tàn phá vào thời Trung Cổ, nay đã được trùng tu. Sau khi leo hơn một trăm bực thang đá, tôi nhìn thấy một cảnh tượng rất cảm động đang diễn ra trong Chùa: một vị NiCô làm lễ “thí phát”, tức cạo trọc đầu, không phải bằng dao, kéo, nhưng bằng mảnh sành, mảnh chai rất sắc. Theo bà con Việt kể truyện: công việc làm ăn trên đất Miên khá phát đạt, nhất là nghề đánh cá tại Biển Hồ TonLêsáp . Khí trời nóng nực hơn miền Hậu Giang, nhưng nhiều hoa trái thơm ngon, nhất là cam sành Battambang ngọt lịm, và dưa hấu ruột vàng. (Xin cáo lỗi: có thể nhiều danh từ viết không đúng chính tả của tiếng Campuchia, vì chỉ còn nhớ cách đọc mà thôi)

 

Tân Giáo Phận CẦN THƠ, Tân Giám Mục PHAOLÔ NGUYỄN VĂN BÌNH

Vì tình hình chính trị thay đổi, và giao thông khó khăn, nên Tòa Thánh đã chia Giáo Phận cũ ra hai: Giáo phận Nam Vang gồm tòan Nước Cappuchia và Tân Giáo Phận CẦN THƠ, gồm các Tỉnh miền Hậu Giang, như Long Xuyên, Châu Đốc (Cái Sắn), Rạch Giá, Hà Tiên, (Cù Lao Tây, Cù Lao Giêng, SaĐéc, Cái Vồn, Phong Hòa, Tân Qưới), Cần thơ (Phong Dinh), Ba Xuyên (Sóc trang), Bạc Liệu, Cà Mâu. Một diện tích rất rộng lớn.

Năm 1955, Tòa Thánh đã đặt Đức Giám Mục PhaoLô NGUYỄN VĂN BÌNH làm Giám Mục tiên khởi Giáo Phận Cần Thơ. (Ngài đã làm Cha Sở họ Cầu Đất, gần Đalat, và Chủng Viện Sàigòn)

Vì là Giáo phận mới, chưa có Tòa Giám Mục riêng, nên Đức Cha, Cha Thư Ký Pierre Nguyễn Văn Long, kiêm Quản lý, Cha Cố Vấn Tứ, đều tạm trú tại Nhà Cha Sở Nhà Thờ Cần Thơ là Cha Bề Trên Nguyễn Văn Thiện, (sau này thăng chức Giám Mục Vĩnh Long, năm 1960). Ngòai ra, còn có Cha Nhì phụ trách tờ Nguyệt San do Cha Bề Trên Thiện chủ nhiệm, và Cha Nguyễn Công Định là Cha phó, Cha Bằng coi Trường Đồng Tâm, và Cha Nghĩa (sau này coi Họ Đại Ngãi). Khi Đức Cha Bình nhận tôi gia nhập Giáo Phận, thì tôi cũng được một phòng trong Nhà Xứ, cùng dùng cơm với Đức Cha và các cha.

 Một không khí đầy tình Bác Ái, huynh đệ, bình dân, vui vẻ, tự nhiên, các Cha gọi nhau bằng tên: anh Hai, anh Ba, ông Năm, Ông Sáu… và trong bữa ăn, tôi được nghe những lời chia sẻ, những khó khăn, những công việc cấp bách cần giải quyết cho một Giáo Phận mới, do hàng Giáo sĩ Việt Nam đảm nhiệm, với một tinh thần trách nhiệm rất cao, và giầu kinh nghiệm. Chừng hơn một năm sau, Cha Quản Lý Long đã tạo mãi cơ sở gần nhà máy Đèn- Nước, sửa sang và xây cất thêm những dãy nhà mới, làm Tòa Giám Mục. Chính ĐC Bình ngỏ ý muốn theo kiểu mẫu các Nhà Chung ở miền Bắc để làm nơi vãng lai, tĩnh tâm, hội họp cho các Linh Mục trong Giáo Phận.

Trong dịp hội họp các Linh Mục, tôi được gặp “Anh Tiểu đệ” Nguyễn Kim Điền. Khi còn học tại Trường Thần học Xuân Bích, Thị Nghè (gần Viện Dưỡng Lão và Trường Nguyễn Duy Khang), đôi lúc tôi thấy Anh Tiểu đệ vô thăm Cha Giám Đốc Phêrô Bùi Đức Tín (Pierre Gastine) là bạn của Cha Vuillaume, Bề Trên Cả Dòng Tiểu Đệ do Chân Phước Charles De Foucault sáng lập. Tôi cũng nghe thuật lại cách sống, cách hòa mình của các anh Tiểu đệ với giới nghèo, lao động, chung quanh thành phố Sai gòn như Bàn cờ, Xóm chiếu, bến Chương Dương. Và Anh Tiểu đệ Điền làm nghề đạp Xich Lô (khiến Bà Cố của Anh khóc thương!).

Trong cuộc họp các Linh Mục Giáo phận Cần Thơ, tôi đươc tiếp chuyện, và biết Anh theo ĐC Bình xuống mở một “nhà” tại bến xe. Thực ra chỗ Anh trú ngụ với mấy anh em khác là một cái chòi lụp xụp, trông thấy nước đen dưới kẽ hở của sàn nhà, mái thấp lè tè, rất nóng nực, dựng một bàn thờ để các Anh qùi hàng giờ chầu Mình Thánh Chúa. Một lần sau cuộc họp các Linh Mục đến dùng cơm chung tại Tòa Giám Mục, tôi đi ngang qua bếp, thì thấy Anh Tiểu Đệ Nguyễn Kim Điền đang bới và lượm những cộng rau muống đã bỏ đi. Tôi hỏi nhỏ bà bếp, thì được bà cho biết: ngài thích lượm về những thứ đó để xào nấu lại làm bữa ăn khác.

Nhiều dịp sau này, tôi được trò chuyện với Anh, như cùng đi chung với ĐC Bình và ba cha khác đi thăm Xứ Hòn Chông (Hà Tiên), do cha Chánh Sở Tống lái xe như bay .

Sau Thánh lễ chiều Thứ Bảy, bà con thường ráng ở lại để coi “Chiếu Bóng Phim câm”, do thày Nhiệm điều khiển máy, và Anh Tiểu Đệ Nguyễn Kim Điền diễn giảng những câu truyện một các hùng hồn, xuôi chảy và rất hấp dẫn, mặc dầu là Phim câm, trắng đen như: truyện các thánh, phim hài hước Charlot, TinTin Milou….Anh có biệt tài kể chuyện và giọng nói lôi cuốn, mọi tình tiết câu chuyện đều mạch lạc, xuôi chảy.

Anh Tiẻu Đệ Điền và tóan Truyền giáo cũng thuờng đi ghe xuồng vào sâu những Họ Đạo bị bỏ hoang tàn vì chiến tranh: con chiên bổn đạo vô bưng, tán lọan, lâu năm không chịu các Bí Tích, Nhà Thờ, nhà Cha Sở sập đổ. Trong thời gian từ 1954- 1960, tình hình nông thôn tương đối êm tịnh, những phần tử nằm vùng chưa quậy, nên tóan Truyền giáo được dễ dàng họat động.

Anh Tiểu Đệ Nguyễn kim Điền tại Bến xe mới Cần Thơ, cùng với mấy Anh em khác tại khu lao động Bến Chương Dương, Sai gòn sống tu trì theo Linh Đạo của Cha Charles de Foucault, là hòa mình vào nếp sống nghèo khổ, lao động, các Anh còn chăm chú việc “chầu Thánh Thể” để tăng thêm nghị lực thiêng liêng. Ngòai ra, Anh Tiểu Đệ cũng được mời đi khắp nơi, giảng tuần Tĩnh Tâm hàng năm cho các Linh Mục Giáo Phận như: Cần Thơ, SàiGòn, Huế…và các dòng Tu nam Nữ, vì cảm phục đời sống tu trì khắc khổ, lòng nhiệt thành rao giảng và sống Phúc Âm, và ngưỡng mộ tài hùng biện của Anh Tiểu Đệ!

Vào khỏang thời gian trước khi Tòa Thánh chính thức thiết lập “Hàng Giáo Phẩm Việt Nam”, năm 1960, Đức Cha Nguyễn Văn Bình đã giới thiệu Anh Tiểu Đệ Nguyễn Kim Điền, lên làm Giám Mục, cai quản Giáo Phận Cần Thơ, thay thế Ngài sẽ đổi về làm Tổng Giám Mục SàiGòn.

 

Trong một mùa Hè, chủng sinh đi cắm trại, dựng lều, thăm các họ Đạo, tập nấu ăn..tại các hòn đảo nhỏ như: Hòn giang, Hòn Tre, Hòn chông, Hà Tiên, Phú Quốc. Khi đến Hòn Giang, nơi có nước ngọt, các chủng sinh đã được môt cụ già cho biết:  túp lều, vẫn còn tốt: đấy là Nhà chòi dùng làm Nhà Nguyện của Anh Tiêu Đệ Nguyễn Kim Điền đã dựng nên, để Anh ở, tu tập và cầu nguyện. Đòan chủng sinh cũng ra tới Đảo Phú Quốc, tỉnh Dương Đông, và xuống miền nam đảo thăm trại định cư Công Giáo (gốc Giáo Phận Vinh,) chuyên nghề đánh cá. Một giếng nước ngọt từ nước mặn phun vọt ra, mỗi khi thủy triều xuống, gọi là “Giếng Ngự”. Theo dân địa phương, Hòang tử Nguyễn Phúc Ánh chạy lọan, nhờ giếng nước ngọt này để cứu sống. Ngòai ra, trên đường trở về, các chủng sinh có dịp thăm viếng các Họ Đạo tại Hà Tiên, Hòn Chông, và Kinh 2 Cái Sắn.

 

Làm Giám Quản và Tổng Giám Mục Giáo Phận HUẾ

Vào khỏang năm 1965-1966, vì Đúc Cha Thục không về Huế được, nên Tòa Thánh đã đặt Đức Cha Điền là Giám Quản, rồi chính thức làm Tổng Giám Mục Giáo Phận Huế cho đến khi qua đời. Khi Đức Cha Điền từ giã Cần Thơ ra nhận Giáo Phận Huế, Tòa Thánh đặt Đức Cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, Cha Sở Họ Vĩnh Long lên làm Giám Mục Giáo phận Cần Thơ.

Đại Chủng Viện Vĩnh Long do các Linh Mục Hội Xuân Bích phụ trách. Cha Bùi Đức Tín (Pierre Gastine) làm Giám Đốc, và một số L.M.làm Giáo sư như Cha Bình (Bouyer), Cha Vi (Villard), Cha Bourgignon, Cha Sơn (Barnouin, mới qua đời, 2008) và một số các Cha Gíao sư được mời đến dạy học. Chủng viện này chung cho ba Giáo phận: Vĩnh Long, Cần Thơ và Mỹ Tho. Giáo Phận Long Xuyên thành lập Chủng Viện Thánh TÊRÊSA. Vì cần đóng góp một số Linh Mục Giáo sư cho Chủng Viện Xuân Bích, nên Đức Cha bằng lòng cho phép tôi từ giã Chủng viện Á Thánh Quý để gia nhập “Hội các Linh Mục Xuân Bích”. Tôi đã được Cha Giám Đốc Bùi Đức Tín chấp thuận cho dạy học tại Chủng Viện Vĩnh Long, trước khi đi học thêm tại Pháp.

 

Vận Nước đổi thay và cuộc KỲ NGỘ lần cuối cùng với ĐTGM NGUYỄN KIM ĐIỀN

Khi về nước năm 1972, vì Chủng viện Vĩnh Long đã có Giáo Sư môn Triết Lý Á Đông, nên tôi được chỉ định về Đà Nẵng dạy tại Chủng Viện Thánh Gioan, và phụ trách dạy Hán Văn tại Chủng Viện Hòa Bình (Ban Triết). Sau “mùa hè đỏ lửa”, tình hình chiến sự trở nên gay gắt, xáo động, nhất là từ sau Tết, vào tháng Ba, năm 1975, đồng bào các tỉnh miền Huế, Quang trị di tản, lũ lượt băng qua Đèo Hải Vân, kéo về Đà nẵng tạm cư.

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh năm 1975, Đức Cha Chi, Giám Mục Đà nẵng dâng Thánh Lễ Dầu, và Ngài cho các cha biết: Ngài được lệnh ở lại Giáo Phận, không di tản. Sau Thánh Lễ, Đức Cha Chi và các Cha xuống Phòng Ăn để dùng cơm trưa, bất ngờ tôi gặp Đức Tổng ĐIỀN cùng đi với một Linh Mục trẻ, từ Sài Gòn đến đây, cũng dùng cơm trưa. Sau bữa ăn, tương tự như “Bữa Tiệc Ly”, Đức Cha Chi và các Cha cùng tiễn đưa Đức Tổng Điền và Cha Thư Ký lên đường trở về HUẾ, trong lúc đồng bào, bổn đạo Cố Đô đang lũ lượt gồng gánh từ HUẾ, chạy ngược chiều, tìm mọi cách để vượt Đèo Hải Vân xuống Đà Nẵng: cảnh tượng thật não nùng thê thảm, sợ hãi, vì đạn “móochê” rớt trên đầu.

 

Gần đây, tôi có dịp ôn lại truyện cũ năm1975 với Cha Cố Ngô văn Trọng, (gốc Giáo Phận Huế,) cũng có mặt tại Đà Nẵng, cùng tham dự Lễ Dầu và dùng cơm trưa với các Đức Cha. Tôi hỏi Cố Trọng: Linh Mục còn trẻ đi cùng với Đức Tổng Điền trở về Huế là ai? Ngài trả lời: đấy là Cha Thư Ký NGUYỄN VĂN LÝ.

Thật là một Định Mệnh do CHÚA AN BÀI!