SỨC MẠNH
LỜI CHÚA
(Mt 10:26-33)
Linh mục Đỗ Văn Lực
Hiện nay, kinh tế
toàn cầu đang trải qua cơn khủng hoảng. Thực phẩm và xăng dầu tăng vụt, khiến
mọi người, nhất là người nghèo, lâm vào tình trạng rất khó khăn. Nguyên nhân tại
đâu? Theo tường trình từ Sở Thống Kê Dân Số Thế Giới, một phần vì nhu cầu phát
triển kinh tế ở Trung Hoa và Ấn độ ngày càng tăng.
Năm 1800, dân số thế
giới mới có 1 tỷ. Phải đợi 130 năm sau, dân số thế giới mới thêm 1 tỷ. Năm 1999,
dân số thế giới mới có 6 tỷ. Năm 2012, dân số thế giới sẽ tăng lên 7 tỷ. Như
vậy, chỉ cần 13 năm sau dân số thế giới đã tăng thêm 1 tỷ. Càng nghèo đói, càng
tăng nhanh dân số. Các nước Phi châu, Á châu và Trung Ðông, trung bình một phụ
nữ có hơn 6 đứa con.[1]
Nhân loại sẽ đi về
đâu khi dân số tăng quá nhanh như vậy? Ðiều trước tiên, ai cũng thấy vấn đề lớn
nhất là lương thực. Nhưng liệu lương thực có giải quyết được mọi vấn đề không?
Vấn đề chính phải là phân phối lương thực cho công bình. Nếu người giàu khư khư
nắm hết nguồn lợi kinh tế, làm sao người nghèo không nổi loạn? Làm sao người
giàu có thể sống bình an? Làm sao giúp người giàu ý thức trách nhiệm đối với
người nghèo? Không trợ lực nào hơn Tin Mừng, vì Chúa quả quyết Tin Mừng dành ưu
tiên cho người nghèo (x. Lc 7:22) Nhưng làm sao rao giảng Tin Mừng tình yêu giữa
một xã hội đầy những người giàu nắm giữ mọi thế lực? Làm sao những sứ giả Tin
Mừng thoát khỏi nguy hiểm trong khi thi hành sứ mạng?
Chúa Giêsu cũng thấy
trước những mối đe dọa đang rình rập các môn đệ, nên Người đã trấn an: “Anh em
đừng sợ người đời.” (Mt 10:26) Dựa vào đâu, Chúa dám khuyên môn đệ như thế,
trong khi không có một tấc sắt trong tay?
TRẤN AN MÔN ÐỆ
Mới thoạt nghe Tin
Mừng hôm nay, ai cũng tưởng Lời Chúa xoay quanh sự sợ hãi. Nhưng càng đọc kỹ,
càng thấy điểm chính là việc rao giảng Lời Chúa và làm chứng cho Chúa Kitô. Sở
dĩ Chúa trấn an các môn đệ khi trao sứ mạng rao giảng cho các ông, vì giữa một
thế giới đầy kẻ thù, họ phải can đảm lắm mới dám lãnh nhận và thi hành sứ mệnh
của Chúa. Nhưng dù phải sống ngay trong lòng địch, các sứ giả Tin Mừng vẫn được
Chúa trấn an bằng tất cả sức mạnh của Người. Ðâu là sức mạnh của Chúa?
Trước hết, Lời Chúa
là chân lý. Tự bản chất, chân lý có một sức mạnh. Tất cả những phương tiện và
sức mạnh kẻ thù chỉ là những lực lượng thần chết, không thể nào đối địch với Tin
Mừng, vì “Lời Chúa là thần khí và là sự sống.” Còn chỗ dựa nào vững chắc hơn Lời
Chúa? Còn ai cần tin tưởng vào Lời Chúa bằng người môn đệ? Sứ giả Tin Mừng đích
thực luôn tìm được sức mạnh nơi Lời Chúa (x. Tv 119:114).
Sức mạnh đó phát
xuất từ niềm tin sứ giả, vì họ tin Thiên Chúa quan phòng đầy khôn ngoan, nhưng
cũng là người Cha dầy lòng thương xót. Chỉ Thiên Chúa mới có quyền năng tuyệt
đối bao trùm cả đời này lẫn đời sau, cả thể xác và linh hồn (x. Mt 10:28). Quyền
hành của loài thụ tạo đầy giới hạn, làm sao có thể so sánh với quyền năng Thiên
Chúa là Tin Mừng?
Thực tế, giá trị con
người được Thiên Chúa quy định và bảo đảm. Không dễ gì Thiên Chúa hủy bỏ một
công trình do Chúa dựng nên. Vì được Thiên Chúa đánh giá cao như thế, người môn
đệ càng tự tin vào công cuộc rao giảng Tin Mừng giữa mọi nghịch cảnh. Thật vậy,
Chúa Giêsu dùng hình ảnh minh họa để bảo đảm chắc chắn cho sinh mạng chứng nhân
và sứ giả Tin Mừng: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà,
không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Anh em đừng sợ, anh em
còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.” (Mt 10:29.31) Nghe đến đây, chắc người môn đệ
ngước mắt nhìn trời và nhận ra bài học thật đơn giản về đường lối Chúa quan
phòng cũng như sức mạnh Thiên Chúa.
Vả lại, sứ giả Tin
Mừng còn phải phóng tầm nhìn về thời cánh chung để tìm sức mạnh làm chứng cho
Chúa Kitô. Trước nhan Thiên Chúa, không ai có thể đứng vững, nếu Chúa Kitô không
bào chữa. Ngày sau cùng, ai cũng muốn được Thiên Chúa chấp nhận vào hưởng hạnh
phúc và vinh quang trong Nước Chúa. Làm sao có thể thấy trước giờ phút huy hoàng
đó, nếu không thấy mối tương quan giữa những chứng từ hôm nay và cánh chung (x.
Mt 10:32-33)
Sau cùng, khi vững
tin như thế, người môn đệ Chúa hiên ngang lên đường rao giảng Tin Mừng cho muôn
dân. Lời Chúa sẽ gặp cơn thử lửa khi cọ sát với thực tế. Trước đây trong một
phạm vi nhỏ hẹp giữa Thày trò, chắc chắn Lời Chúa chưa đặt ra nhiều vấn đề lắm.
Những lời Thày rỉ tai trong đêm tối, cần phải được loan truyền giữa thanh thiên
bạch nhật (x. Mt 10:27).
Lời Chúa như ánh sáng soi vào trần gian tràn ngập bất công tăm
tối. Ðó là thế yếu của trần gian. Người môn đệ Chúa Kitô phải thấy được thế yếu
đó, để đem lại sức mạnh công lý trong Lời Chúa dẹp tan mọi cơ chế bất công.
TỰ DO RAO GIẢNG TIN
MỪNG
Chắc chắn cơ chế bất
công phải tạo ra nỗi sợ có thể tồn tại. Nỗi sợ hãi bóp nghẹt tự do và làm tiêu
tan tất cả những giá trị cao đẹp như nhân phẩm, đạo đức. Bởi vậy, Chúa mới căn
dặn các môn đệ phải làm mọi cách để vượt qua nỗi sợ và sống trong tự do của
người môn đệ và con cái Chúa. Nếu có một niềm tin tuyệt đối vào sự quan phòng và
tình yêu Thiên Chúa, trở ngại bên ngoài không còn thành vấn đề cho những sứ giả
Tin Mừng nữa. Trở ngại chính nằm ngay trong lòng người.
Có vượt qua được nỗi
sợ, mới có thể có sức mạnh rao giảng Lời Chúa cho mọi người.
“Thật vậy, “dù là nam hay nữ, con người phải đáp lại hồng ân cứu độ không
phải chỉ là chấp nhận một cách vụn vặt, trừu tượng hay thuần túy lý thuyết,
nhưng bằng cả cuộc sống – trong mọi tương quan xác định rõ nét cuộc sống - để
đừng coi thường bất cứ điều gì mà cho đó là trần tục và thế gian không liên hệ
hay xa lạ với ơn cứu độ. Giáo hội có quyền công bố Tin Mừng trong hoàn cảnh xã
hội, làm cho lời giải thoát của Tin Mừng vang lên trong những thế giới phức tạp
nơi con người đang sinh sống với những việc sản xuất, lao động, giao thương, tài
chánh, thương mại, chính trị, luật pháp, văn hóa, truyền thông xã hội.”[2]
Dấn thân vào bất cứ lãnh vực nào, sứ giả Tin Mừng cũng gặp những áp lực khiến
mình sợ hãi. Kẻ yếu bóng vía đành co cụm lại và không dám hành động, lấy lý do
phải sống khôn ngoan. Sự khôn ngoan theo kiểu thế gian khiến người ta có thể bỏ
quên bổn phận và sứ mệnh quan trọng nhất.
Nhưng, “vì Tin Mừng
và đức tin có liên hệ tới quần chúng, vì những hậu quả do sự bất công, tức tội
lỗi, Giáo hội không thể vô tư trước những vấn đề xã hội. Giáo hội có quyền loan
báo các nguyên tắc đạo đức mọi nơi mọi thời, kể cả những nguyên tắc liên quan
tới trật tự xã hội, và phán quyết về bất cứ vấn đề gì của con người, tùy mức độ
đòi hỏi của những quyền căn bản của con người hay việc cứu độ các linh hồn.”[3]
Khi can thiệp vào các vấn đề như thế, nhờ Lời Chúa hướng dẫn, Giáo hội có thể
phục vụ con người một cách hữu hiệu, nếu các người lãnh đạo tỏ ra can đảm và đủ
bản lãnh. Nếu không dám hy sinh dấn thân, cơ chế bất công ngày càng đàn áp
con người. “Thực vậy, làm sao có thể công bố giới răn mới mà không cổ võ sự
tiến bộ đích thực của con người trong công lý và hòa bình ?”[4]
Giới răn mới trong Tin Mừng chính là tình yêu. Tình yêu khiến con người biết tôn
trọng và sống chung với nhau trong công lý và hòa bình.
Nếu không có tự do,
không thể loan báo Tin Mừng.
Tự do không phải chỉ lệ thuộc vào những điều kiện khách quan, nhưng cũng tùy
thái độ đức tin của người rao giảng Tin Mừng nữa. Nếu có một tinh thần như thánh
Phaolô, thì “dù gặp thời thuận lợi hay không thuận lợi, tôi vẫn cứ rao giảng.”
Dù ngay khi bị tù đầy, thánh nhân
cũng thấy “Lời Chúa không bị xiềng xích.” Thánh nhân
cảm thấy bổn phận bó buộc đến nỗi nói : “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao
giảng Tin Mừng.” (1 Cr 9:16) Thật vậy, “quyền (loan báo Tin Mừng) đồng thời cũng
là bổn phận, vì Giáo Hội sẽ phủ nhận chính mình và không còn trung thành với
Chúa Kitô, nếu bỏ bê bổn phận này.”[5]
Rất nhiều những người thợ đang bỏ dở dang công việc trên cánh đồng của Chúa, chỉ
vì quá sợ hãi. Ðối với những sứ giả Tin Mừng thực sự, không có nơi nào không thể
rao giảng Tin Mừng. Ðối với những người có lòng tin và đầy ân sủng, bất cứ nơi
nào cũng có thể rao giảng Tin Mừng để thiết lập Nước Thiên Chúa cho muôn dân
sống trong hòa bình và công lý.
Nhật bản là một
cường quốc gương mẫu cho mọi nước phát triển. Chắc chắn đời sống dân chúng được
các hệ thống an sinh xã hội bảo đảm. Của cải vật chất dư thừa. Mức tiến bộ về
mọi mặt phải làm cho thế giới nể phục. Thế nhưng, cuộc sống vẫn tràn ngập những
nỗi thất vọng, sợ hãi. Bằng chứng, theo Reuters, tại Nhật Bản, tỷ lệ tự tử cao
nhất thế giới. Năm 2007 vừa qua, hơn 33,000 người tự tử, mặc dù chính phủ đã tìm
mọi cách giảm bớt số người tự tử đó. Không giống các bệnh tật khác, phần lớn tự
tử vì những vấn đề xã hội,
[6] chứ không phải vì nghèo đói.
Rõ ràng ngay tại một
nước sung túc và phát triển mọi mặt, con người vẫn thiếu thốn và bế tắc. Như vậy,
vật chất không phải là giải pháp số một cho một nhân loại quá đông đúc hôm nay.
Vậy đâu là lối thoát cho con người ?
Tại quận hạt Akita,
Nhật bản, số người tự tử lên cao nhất năm 2003 khoảng 520 và xuống thấp cũng
khoảng 420 năm 2007. Theo một viên chức tại đó, “vấn đề không thể nào giải quyết,
nếu toàn thể cộng đồng không hiểu đây là một vấn đề. Khác với một vài bệnh tật,
tự tử bắt nguồn từ một phạm vi xã hội rộng lớn. Bởi vậy việc quan trọng là phải
có những thay đổi trong xã hội - chẳng hạn thất nghiệp tăng cao hay nợ nần leo
thang – và tiếp tục đưa ra những biện pháp mới phù hợp với những thay đổi đó.”[7]
Nghĩa là vấn đề thuần túy chỉ nằm trong lãnh vực xã hội. Nếu giải quyết được vấn
đề thất nghiệp hay nợ nần là mọi bế tắc đều được khai thông. Nhưng thống kê lại
cho thấy ngược lại. Thực vậy, “sau thập niên 1980, khi nền kinh tế bấp bênh, số
người già từ 60 trở lên tự tử là 9 %. Năm ngoái (2007)
số người già tự tử lên tới 12,100 người, trong khi số người trẻ giảm nhẹ.”[8]
Ở tuổi 60 trở lên, đa số người già đã về hưu, làm sao thất nghiệp còn ảnh hưởng
quá lớn đố với họ như vậy?
Ða số dân Nhật coi
tự tử là một vấn đề cá nhân. Nếu đó là vấn đề cá nhân, giải pháp phải nằm sâu
tận tâm linh con người ? Chính ở đây, vấn đề phải gây nhức nhối cho Giáo hội.
Tại sao bước chân sứ giả Tin Mừng đã đặt lên đất Phù Tang trước cả Việt Nam, đến
bây giờ vẫn chưa giúp cho người dân Nhật tìm được một giải pháp trong Tin Mừng?
Phải chăng chưa vượt qua được những giới hạn xã hội, văn hóa và tôn giáo, nên
các sứ giả chưa đủ khả năng đem Tin Mừng đến cho dân tộc Nhật bản?
Khác với Nhật bản,
giới hạn nào ngăn cản Giáo Hội Việt Nam đến với dân tộc? Giới hạn nào không cho
phép chúng ta đến với những người bị tù đầy, áp bức, nghèo đói, neo đơn? Bao
nhiêu thế hệ nữa mới có thể đem Tin Mừng đến người già cả và giới trẻ? Bao giờ
Tin Mừng thành niềm vui giải phóng cho những người vô thần?
Ngày xưa các tông đồ
rất nghèo phương tiện vật chất, nhưng đã rao giảng Tin Mừng cho rất nhiều người.
Ngày nay với biết bao phương tiện truyền thông hiện đại, chúng ta tưởng có nhiều
cơ hội rao giảng Lời Chúa. Nhưng thực tế chúng ta làm được ít chừng nào! Tại sao?
Vì nỗi sợ trong ta còn quá lớn …
Tóm lại, Chúa muốn
các môn đệ phải rao giảng Tin Mừng với bất cứ giá nào. Những mối đe dọa bất cứ
từ đâu không thể làm cho họ quên lãng hay bỏ bê sứ mạng cao cả đó, vì có những
bảo đảm vững chắc nơi Thiên Chúa quan phòng đầy quyền năng và lòng từ ái. Mối
tương quan giữa hiện tại và thời cánh chung cũng mạc khải cho họ thấy trách
nhiệm rao giảng Tin Mừng cho muôn dân được cứu độ. Nếu có lòng tin vững mạnh, họ
sẽ thấy tất cả sức mạnh toàn năng nơi Lời Chúa và tình yêu của Người dành cho
những ai được Chúa sai đi.
Lạy Chúa, cảm tạ
Chúa đã sai chúng con rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Xin cho chúng con luôn
vững tin vào Chúa để có thể vượt qua sự sợ hãi mà đem bình an và cứu độ đến cho
mọi người. Amen.
22.06.2008