CHÚNG
TA NGHE VÀ CẢM NHẬN GÌ QUA
“TIẾNG VỌNG GIOAN BAOTIXITA” NGÀY 04-6-08?
Trần Phong Vũ
I.- Sự kiện:
Mạng lưới www.conggiaovietnam.com[1]
vừa phổ biến một lá thư nói là của đức HY Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn đề ngày
04-6-2008 trong một tiết mục quen thuộc hàng tháng có tên là Tiếng Vọng Gioan
Baotixita. Đối tượng của lá thư là ba vị giám mục trong HĐGMVN. Đó là các đức
cha chủ tịch Ủy Ban Giám Mục đặc trách Mục vụ Giới Trẻ, chủ tịch Ủy Ban Giám Mục
đặc trách Giáo Lý Đức Tin và đức cha cai quản giáo phận Lạng Sơn là những vị sẽ
tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Úc Châu năm 2008. Nội dung thư gồm 6 đoạn.
Đoạn 1: Sau khi miễn cưỡng nhận lời tham dự Đại Hội, đức Hồng Y chia sẻ với ba
GM vài ý nghĩ với
“mục đích là cùng nhau giúp cho các bạn trẻ, - là sức sống của Giáo Hội, của đất
nước -, khai thông con đường hiệp thông với Chúa…”.
Đoạn 2: Nhắc lại sự xuất hiện lá cờ vàng ba sọc đỏ tại các Đại Hội Giới Trẻ Thế
Giới ở Pháp, Canada và Đức trước đây đã “làm tắc nghẽn con đường hiệp thông
của các bạn trẻ VN”.
Đoạn 3: Quảng diễn về biểu tượng của một lá cờ. Nhắc lại bài học lịch sử của vị
Giám Mục của HY 30 năm trước. Mẹ Việt Nam lúc mặc áo vàng (cờ vàng). Lúc mặc áo
đỏ (cờ đỏ)…
Đoạn 4: Giáo Hội CG không bao giờ xây trên nền tảng một chủ nghĩa trần thế, hay
một thói đời mang tính đối kháng. Trong khi ấy, một chủ nghĩa trần thế bao giờ
cũng tạo nên sự phân rẽ mang tính đối kháng và loại trừ nhau.
Đoạn 5: Bản chất của GHCG là hiệp thông với Chúa, với con người.
Đoạn 6:
Kết thúc lá thư với lời khẩn cầu cho mọi người, mọi giới được tràn đầy ơn Thánh
Thần và thấm nhập tinh thần hiệp thông.
Tóm lại, cái cốt lõi tìm thấy nơi nội dung lá thư là thái độ không thoải mái vì
sự có mặt của lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của những người quốc gia không
chấp nhận chế độ độc tài, độc đảng CS trong nước, tại các ĐH Giới Trẻ Thế Giới ở
Pháp, Canada và Đức Quốc trước đây. Theo nhận định của ngài: nó
“làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN”.
Lá thư có mục tiêu rõ ràng là ngăn ngừa trường hợp tương tự có thể xảy ra tại
Đại Hội năm nay ở Úc.
(Cũng cần mở dấu ngoặc để nói tới nguồn dư luận cho rằng đây là một lá thư giả
mạo nhằm gây nên sự hiểu lẩm về nhân cách HY Mẫn. Khi lá thư này được công bố
rộng rãi trên NET, có người đã quả quyết rằng: với địa vị và trình độ của một
người như ngài không thể viết một lá thư với nội dung như thế, vì nó có thể mang
lại hệ quả tai hại, không những cho cá nhân ngài mà còn liên lụy tới cả thanh
danh Giáo Hội và 7 triệu tín đồ CGVN. Người viết bài này thiết tha mong cho
nguồn dư luận kể trên trở thành sự thật. Do đó, những nhận định trong bài này
chỉ được kể tới khi lá thư gửi ba giám mục của HY Tổng Giám Mục TGP Sàigòn là có
thật.)
II.- Vài Nhận Định:
Vào những ngày đầu tháng 6-2008 vừa qua, người Việt tị nạn ở hải ngoại, bao gồm
cả tập thể đồng bào Công Giáo, không khỏi ngạc nhiên đến sững sờ khi đọc lá thư
trên đây được cho biết là của Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Câu hỏi đặt ra là không hiểu
tác giả lá thư đứng trên quan điểm nào để phát biểu những điều nghịch thường như
vậy?
- Trên quan điểm của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam? Câu trả lời tìm thấy hiển
nhiên là KHÔNG. Giản dị là vì Giáo Hội với tư cách và vị thế siêu việt của mình
đâu cần phải quan tâm tới những chuyện lặt vặt bên lề như vậy!
- Trên quan điểm của phái đoàn giới trẻ Công Giáo Việt Nam trong nước tham dự
Đại Hội? Điều này cũng không có sở cứ, vì nếu cần lên tiếng thì chính các bạn
trẻ này lên tiếng mà không phải cầu viện đến một giới chức mang phẩm phục đỏ cầm
đầu một Tổng giáo phận lớn nhất nước như ngài.
Để tìm ra câu trả lời chính xác, không gì khác hơn là tìm xem AI, ĐỐI TƯỢNG NÀO
cảm thấy nhức nhối về sự hiện diện của những lá cờ vàng ba sọc đỏ trong những
cuộc tập hợp của những bạn trẻ trong tập thể người Việt ở hải ngoại, nhất là
trong những Đại Hội mang tầm vóc quốc tế như Đại Hội Giới Trẻ thế giới? Và AI,
ĐỐI TƯƠNG NÀO trực tiếp thủ đắc lợi lộc khi lá cờ ấy bị loại bỏ ra khỏi cộng
đồng người Việt tị nạn, (để nếu được, thay thế bằng lá cờ đỏ mà những nạn nhân
của nó thường mệnh danh là CỜ MÁU)?
Không cần phải mất công suy nghĩ nhiều,
ai cũng có thể mau mắn tìm được câu trả lời:
kẻ ấy, đối tượng ấy không ai khác hơn là chế độ cộng sản Việt Nam và những khuôn
mặt lớn xoay quanh chế độ này.
Không thể đứng trên quan điểm của Giáo Hội CGVN; cũng không có lý do để nhân
danh phái đoàn giới trẻ Việt Nam tham dự ĐH, như vậy đâu là nguyên ủy dẫn tới lá
thư? Truy bắt sự viêc cho đến ngọn nguồn, người ta miễn cưỡng phải nghĩ tới một
điều khó nói –dù rất chính xác-, là tác giả lá thư đã tự nguyện hoặc bị cưỡng
bách phải thay mặt đảng và nhà nước cộng sản VN để lên tiếng.
Câu trả lời thật buồn và cũng thật đau đối với người tín hữu Chúa Giêsu Kitô,
nhưng biết làm sao bây giờ? Im lặng thì mang tội đồng lõa. Mà nói ra thì lại
mang tiếng là “vạch áo cho người xem lưng”! Mọi chọn lựa, dù là chọn lựa chính
đáng, cũng không khỏi gây nên những chấn thương.
Sau đây chúng ta thử đi sâu vào nội dung lá thư của HY Phạm Minh Mẫn gửi ba vị
Giám Mục Việt Nam, mà trong đó ngài hé mở cho hay là sẽ cùng với ngài có mặt tại
Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Úc Châu tháng 7 năm nay.
Chúng tôi sẽ lướt
qua thật nhanh 4 đoạn gồm đoạn 1, 4, 5 và 6 trước khi phân tích hai đoạn được
coi là cốt yếu trong thư: đoạn 2 và 3.
Đoạn thứ nhất chỉ là đoạn mở đầu, không có gì đáng bàn thêm.
Đoạn 4, lá thư ghi nhận
(1) đời sống cũng như tinh thần hiệp thông trong Giáo Hội Công Giáo chưa bao giờ
được xây trên nền tảng một chủ nghĩa trần thế, hay một thói đời mang tính đối
kháng.
Điều này rất đúng nếu xét trên căn tính của Hội Thánh Công Giáo dựa vào sứ mạng
và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu Kitô, Đấng sáng lập Giáo Hội. Tuy nhiên,
trên thực tế, dù là một Giáo Hội của Chúa Giêsu nhưng lại do con người điều hành
với tất cả tự do, bao gồm cả cái mạnh và cái yếu của mình, nên đã có những lúc
Giáo Hội không tránh được vong thân dưới dạng thái này hay dạng thái khác. Ấy là
khi những thành phần thay mặt Giáo Hội tự đóng cửa, ngăn cản hoạt lực của Chúa
Thánh Thần.
Những mảng tối vào thời trung cổ trong lịch sử 2000 năm Giáo Hội đã chứng minh
điều ấy. Và một cách nào đó, cung cách sống và hành sử vai trò lãnh đạo theo
“chủ nghĩa tương đối”, “du di”, “thỏa hiệp” của những người có trách nhiệm trong
GHCGVN dưới chế độ cộng sản là một chứng minh khác. Đồng ý là không có dấu tích
nào cho thấy GHCGVN xây trên nền tảng một chủ nghĩa trần thế, nhưng khó có thể
loại bỏ được ý nghĩ là GH ấy –hay ít nữa là một số những thành phần cốt cán
trong GH ấy- đã và đang để mặc cho “một chủ nghĩa trần thế” lần hồi xâm thực GH,
làm suy giảm tính chất tinh tuyền của GH bằng những thủ đoạn tinh vi của thế
quyền nhằm can thiệp trực tiếp vào việc đào tạo chủng sinh, phong chức linh mục,
tuyển chọn, bổ nhiệm giám mục. Từ đấy, nhiều người đã tự đánh mất chức năng ngôn
sứ của mình trước những thủ đoạn tàn độc của “một chủ nghĩa trần thế” đã và đang
tiếp tục xúc phạm trầm trọng tới nhân quyền, nhân phẩm của con người, trong khi
CON NGƯỜI vốn được coi là “đường đi của Giáo Hội”, là đích điểm phục vụ ưu tiên
hàng đầu của Giáo Hội Chúa ở trần gian như lời khẳng định không khoan nhượng của
cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lúc sinh thời.
Đoạn 5 ghi nhận: “Bản chất của Giáo Hội Công Giáo là hiệp thông với Chúa, với
nhau, với mọi người anh em đồng bào và đồng loại. Và đời sống hiệp thông của
Giáo Hội chỉ có thể được xây đắp trên nền tảng một niềm tin, tin rằng Thiên Chúa
là Cha trên trời giàu lòng từ bi bao dung, tin rằng mọi người là con một Cha, là
anh em một nhà, tin rằng tình huynh đệ giữa đồng bào còn có thể phát huy trên cơ
sở một sắc tộc và một nền văn hoá
dân tộc.”
Những nhận định
trong lá thư về bản chất GHCG và về điều kiện giúp tăng trưởng đời sống hiệp
thông trong GH trên đây hoàn toàn chính xác vì nó được khai triển từ nền tảng
đức tin và giáo lý của Hội Thánh. Nếu có điều cần xét lại thì chính là cách hiểu
và cách xử sự của các phía liên hệ về điều gọi là “tình huynh đệ giữa đồng bào”
và về “văn hóa dân tộc”. Thêm nữa là làm sao và bằng cách nào những người có
trách nhiệm trong GH mỗi khi cần lên tiếng để biện minh điều gì, có đủ sự khôn
ngoan, lòng đạo đức và ý thức cảnh giác để không tự mình sa đà vào cái gọi là
“chủ nghĩa tương đối”, một chủ nghĩa nguy hiểm mà trong chuyến du hành mục vụ
Hoa Kỳ vừa qua, ĐTC Biển Đức XVI đã hơn một lần lên tiếng cảnh giác.
Đoạn 6 gói ghém một lời khẩn cầu cho mọi người tham dự ĐH Giới Trẻ Thế Giới được
tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, được thấm nhập tinh thần hiệp thông của con cái
Chúa. Nói chung, toàn là những lời lẽ và những ý nguyện ngay lành.
Bây giờ xin được nhìn trở lại đoạn 2 và đoạn 3 được coi là cái đinh của lá thư.
Trong đoạn 2, lá thư nhắc tới sự kiện lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay tại ba kỳ
Đại Hội Giới Trẻ ở Pháp, Canada và Đức quốc mà tác giả cho là “một
sự cố
làm tắc nghẽn
con đường hiệp thông
của các bạn trẻ VN”.
Người ta tự hỏi: không hiểu HY Mẫn dựa vào đâu để đưa ra lời kết luận mang tính
vu khoát và võ đoán trên đây. Nếu theo dõi sát chuyện thời sự liên quan tới phản
ứng sôi động của giới trẻ Việt Nam trong và ngoài nước gần đây, chắc chẳn ngài
sẽ không vội vã như vậy. Mặc dầu giới trẻ Việt Nam ở quốc nội và hải ngoại chưa
có cơ hội làm việc chung với nhau, nhưng qua vụ Trung Cộng vẽ lại bản đồ để lấn
chiếm các hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, họ đã thực sự ‘gặp nhau’
trong cùng một lý tưởng yêu nước, cùng một lòng phẫn hận trước thái độ nhu
nhược, cam tâm bợ đỡ kẻ thù chung của những người cầm đầu Bắc Bộ Phủ. Một biểu
thị rõ ràng và cụ thể là đã có những sinh viên từ trong nước du học ở các quốc
gia Âu Mỹ đã can đảm đứng chung một lằn ranh với giới trẻ Việt Nam tị nạn chống
lại những hành vi chà đạp nhân quyền của Bắc Kinh khi cùng nhau công khai tham
gia những cuộc biểu tình chống Đuốc Thế Vận khi di chuyển qua các quốc gia Úc,
Pháp, Anh và Hoa Kỳ mới đây.
Thế hệ những người trẻ Việt Nam ở quốc nội ra đời sau tháng tư 1975 chưa bao giờ
biết tới lá cờ vàng ba sọc đỏ. Họ không biết, nhưng cha ông họ, những người
thuộc thế hệ tác giả lá thư không những biết mà hẳn rằng cũng đã có một thời
đứng dưới lá cờ ấy, vì ít nữa là từ năm 1948 đến năm 2008 –chẵn sáu thập niên
qua- lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ, liên kết ba miền Bắc-Trung-Nam, đã từng là
biểu tượng cho quốc gia, dân tộc, cho hồn thiêng sông núi. Theo sự suy diễn
thông thường, khi được may mắn chọn tham dự phái đoàn giới trẻ trong nước xuất
ngoại tham dự ĐH Giới Trẻ Thế Giới, họ đâu có biết gì để đặt ra vấn đề tắc nghẽn
hay không tắc nghẽn của con đường gọi là hiệp thông do sự xuất hiện của những lá
cờ vàng ba sọc đỏ mà từ khi sinh ra họ chưa từng biết tới? Hiệp thông vốn là từ
ngữ quen thuộc được dùng trong GHCGVN. Nhưng khi sử dụng trong trường hợp liên
quan tới cờ vàng, cờ đỏ mà trong đoạn 3, HY Mẫn đã nhấn mạnh, khiến người ta
không khỏi liên tưởng tới một từ khác mà người cộng sản VN quen dùng trong chiến
dịch hải-ngoại-vận của họ. Đó là từ “hòa hợp, hòa giải” –dĩ nhiên là theo cách
hiểu của người CS-. Và như thế, nếu đổi câu “làm tắc nghẽn con đường hiệp
thông” thành câu “làm tắc nghẽn con đường hòa hợp hòa giải” chắc sẽ
đúng và thích hợp với hoàn cảnh thực tế hơn.
Qua đoạn 3, lá thư viết:
“Một
lá cờ biểu tượng cho điều gì? Có lúc lá cờ được coi là biểu tượng cho một đất
nước, lúc khác được coi là biểu trưng một chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa
cộng sản, chủ nghĩa quốc gia... Có lúc chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối
kháng. Giám mục của tôi, cách đây
hơn 30 năm, lúc còn sinh thời, đã để lại cho các tín hữu và cho bản thân tôi bài
học lịch sử nầy : người mẹ VN, lúc
mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách, vẫn
là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân VN, vẫn là người mẹ đã để
lại cho dân tộc VN một di sản vô giá.
Di sản đó là truyền thống văn hoá của dân tộc VN, một nền văn hoá khá
phong phú với những giá trị tinh thần và đạo đức.
(như Tứ hải giai huynh đệ; Chuyện hôn nhân
là
chuyện trăm năm, là mối tình chung thuỷ;
Lá lành đùm lá rách...)”
Đức Hồng Y viết: “Có lúc (lá cờ) chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối
kháng”. Dường như khi viết câu này tác giả hàm ý nếu không chê trách thì ít nữa
cũng có chút mỉa mai. Phải chăng vì là một người tu, hơn thế lại là một nhà lãnh
đạo cao cấp trong Giáo Hội Công Giáo, ngài chỉ quen nói tới “khoan dung”, “nhân
từ”, “bác ái” mà không thích ai nói tới chữ “đối kháng”. Điểu này hợp lý và là
quyền tự do của ngài. Nhưng nếu hiểu “đối kháng” với ý nghĩa là nói lên một điều
để phản bác một điều khác thì khi đọc toàn bộ lá thư kể trên, người ta thấy hình
như tác giả đã và đang hành sử cái “thói đời mang tinh đối kháng” ấy rồi! Bởi vì
qua lá thư kể trên, ngài minh nhiên bày tỏ thái độ không đồng tình với “sự cố”
giới trẻ Việt Nam hải ngoại trương lá cờ vàng ba sọc đỏ trong ba lần Đại Hội ở
Pháp, Canada và Đức.
Nói về lá cờ cho dễ hiểu.
Khi hưởng ứng lời kêu gọi cầu nguyện để đòi lại Tòa Khâm Sứ cũ cạnh Nhà Chung
Hànội cuối năm ngoái, hàng ngàn giáo dân, trong số có cả giáo sĩ, tu sĩ cũng đã
mang theo cờ Tòa Thánh, cờ Đạo Binh Đức Mẹ ngoài Thánh Giá và ảnh tượng. Cho dù
là cầu nguyện để xin Thiên Chúa lay chuyển tâm địa gian tham, độc ác của giới
cầm quyền để họ biết nhìn ra điều phải trái mà trả lại những đất đai, tài sản
của Giáo Hội, nhưng hàm ẩn bên trong và đàng sau một cuộc tập hợp đông người
cách công khai như thế, dù muốn dù không, nó cũng mang tính phản kháng hay “đối
kháng” rồi. Bởi lẽ nếu chỉ mang ý nghĩa thuần túy cầu nguyện thì cầu nguyện
trong nhà thờ, cao hơn nữa là cầu nguyện trong lòng, đã quá đủ để Đấng Toàn Năng
Toàn Trí thấu rõ mọi sự, cần chi phải kéo nhau ra chốn công cộng trước mặt mọi
người? Nếu nhìn những lá cờ Tòa Thánh, cờ Đạo Binh Đức Mẹ trương cao trong những
buổi cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ cũ, ở Nhà Dòng Chúa Cứu Thế ấp Thái Hà, Hànội theo
cách suy diễn của đức HY, thì khách bàng quan cũng không có cách nào hiểu khác
hơn là những lá cờ ấy cũng “chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng”. Vì
thế, nếu suy nghĩ cân nhắc kỹ, hẳn rằng tác giả không viết như thế.
Về chuyện đức HY nhắc lại vị giám mục của ngài 30 năm trước đã dạy ngài một bài
học lịch sử về “người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ
đỏ), lúc mặc áo lành, lúc áo rách,
vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân VN, vẫn là người mẹ đã
để lại cho dân tộc VN một di sản vô giá. Di sản đó là truyền thống văn hóa của
dân tộc VN, một nền văn hóa khá phong phú với những giá trị tinh thần và đạo đức”
cần được nghiêm chỉnh xét lại.
“Cờ vàng”, “cờ đỏ” ở đây, theo hàm ý tác giả lá thư, ai cũng hiểu là lá cở biểu
tượng cho chủ nghĩa quốc gia, dân tộc và lá cở tượng trưng cho chủ nghĩa cộng
sản quốc tế. Người viết bài này tô đậm mấy giòng chữ trên đây để lưu ý độc giả
về tính vu khoát của nó.
Quả thật không sai nếu nhìn chung vào chiều dài lịch sử để nói rằng Mẹ Việt Nam
đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân Việt, đồng thời đã để lại cho
dân tộc Việt Nam một di sản quý giá. Nhưng nếu một mực bảo rằng lúc nào,
thời nào Mẹ cũng vui và cũng hài lòng với những di sản còn để lại qua những giai
đoạn con cái Mẹ khoác cho Mẹ áo vàng hay áo đỏ thì tuồng như không được chính
xác, nếu không muốn nói là có phần bất công đối với Mẹ, có phần hơi “ép” Mẹ.
Hơn nửa thế kỷ ở miền bắc (1954-2008) và 33 năm ở miền nam (1975-2008), Mẹ đã
được khoác trên mình manh áo đỏ chói chang, Mẹ có thật sự thoải mái và hài lòng
không? Và có thật sự Mẹ nghĩ rằng thời khoảng ấy đã để lại một di sản quý giá
cho các con của Mẹ không?
Lòng Mẹ (VN) bao la như biển Thái Bình.
Những công trình kiến trúc nguy nga, hào nhoáng bề ngoài ở Hànội, Huế, Sàigòn và
những trung tâm du lịch đồ sộ đây đó hiện nay có đem lại cho Mẹ những phút giây
hạnh phúc nào không? Những cuộc tập họp mang tính quốc tế như hội nghị APEC, đại
lễ Tam Hợp (Vesak) diễn ra tại Sàigòn, Hànội dưới sự canh chừng của màng lưới
công an dày đặc và những bước chân đi vào thế giới của nhà cầm quyền với ý đồ
thiếu ngay thẳng có khiến cho Mẹ thêm nở mày nở mặt không?
Hay nó sẽ chỉ làm cho lòng mẹ thêm tan nát:
* mỗi khi nghĩ tới tuyệt đại đa số con cái Mẹ là những nông dân chân lấm tay bùn
tại các làng quê, những buôn sóc xa xôi hẻo lánh, những công nhân lao động cực
nhọc trong những xí nghiệp của người ngoại quốc ở vòng đai các đô thị với khoản
thù lao còm cõi trong khi phải đối diện ngày đêm với tình trạng vật giá leo
thang đến chóng mặt? (trong khi một thiểu số vung tay ném hàng triệu đô la vào
những trò chơi đen đỏ, với thái độ sống chết mặc bay, mà vụ PMU 18 là một điển
hình).
* mỗi khi nghĩ tới tình cảnh đau thương của hàng ngàn, hàng chục ngàn người con
gái quê của Mẹ vì miếng cơm manh áo phải bán thân làm nô lệ tình dục ở xứ người;
những đám dân oan đang sống lê lết tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, trên hè phố
Sàigòn; những thế hệ trẻ đang đối diện với một nền giáo dục phá sản không có
ngày mai; những thanh thiếu niên hút xách, nghiện ngập, nạn nhân của căn bệnh
liệt kháng (Aids) và hàng triệu thai nhi vô tội bị cướp đi mạng sống một cách
công khai tại những y viện của nhà nước?
* mỗi khi trạnh lòng trước những hiện tượng tham ô, thối nát tràn ngập khắp nơi,
những thủ đoạn độc tài, phi luật pháp thể hiện ngay chốn pháp đình với những
phiên tòa “bịt miệng”, trắng trợn chà đạp lên tự do, dân chủ, nhân quyền, nhân
phảm Việt Nam? Nhất là khi phải nhìn những phần thân thể của quê hương đất nước,
như Ải Nam Quan, như thác Bản Giốc, như các hải đảo Trường Sa, Hoàng Sa, lần hồi
bị rơi vào tay kẻ thù truyền kiếp là Trung Cộng?
Đấy là tâm sự của Mẹ Việt Nam.
Cỏn Mẹ Giáo Hội thì sao?
Hẳn rằng người Mẹ trìu mến ấy cũng chẳng vui gì! Chuyện Giáo Hội và những tín
hữu của Con Cực Thánh Mẹ bị chống đối, bị giết chóc, bách hại không phải là
chuyện mới mẻ, ngày nay mới có. Nó còn in hằn dấu vết nơi những hang toại đạo ở
Rôma, và gần gũi hơn, nơi những hình cụ mà các vua quan triều Nguyễn một thời đã
sử dụng để lấy đi mạng sống của hàng trăm ngàn tiền nhân Tử Đạo Việt Nam, những
người con cưng của Chúa và của Mẹ. Nhưng làm sao diễn tả được nỗi đau xé lòng
của Mẹ khi chứng kiến sự phản bội phát xuất ngay từ trong lòng Giáo Hội của Mẹ.
Nó lý giải cho sự kiện: trong những dịp hiện ra đây đó, đã hơn một lần Mẹ phải
đau đớn lên tiếng cảnh giác là con đường dẫn xuống hỏa ngục được lót bằng không
ít xương sọ của các Đấng Bậc Làm Thày trong Hội Thánh!
Vì sợ hãi, vì bị mua chuộc, bị hủ hoá và vì những quyền lợi vật chất, đã có
những hiện tượng “du di, thỏa hiệp, tương đối hóa” trong đời sống Giáo Hội, kể
cả trong việc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng niềm tin! Đến nỗi những người có
trách nhiệm trong GH đã cam tâm ngoảnh mặt làm ngơ khi Thánh Tượng Đức Mẹ Sầu Bi
ở Nho Quan, Phát Diệm bị những kẻ vô thần đập phá tan nát![2]
Đến nỗi việc ứng dụng và giải thích về Đức Ái, về Gương Tha Thứ đã được hiểu như
một thái độ nhu nhược, hèn yếu để biện hộ cho cung cách thỏa hiệp, đồng lõa,
sống chung với tội ác! Đến nỗi như nhận định của linh mục Nguyễn Văn Lý trong
Tuyên Ngôn 10 Điểm Về Tình Trạng GH công bố năm 1994 và được công bố lại năm
2000:
“Những gì các ngài thu được trước mắt sẽ còn di lụy lâu dài trong lịch sử, làm
méo mó hình ảnh một Giáo Hội hiên ngang xây dựng Nước Trời, tự do rao giảng
tiếng nói lương tâm, mạnh dạn phê phán mọi bất công, sai lầm bất cứ từ đâu đến.
Thay vào đó chỉ tạo nên hình ảnh một Giáo Hội yếu nhược, quỵ lụy ngày càng rõ
nét chạy theo một vài quyền lợi trước mắt, chỉ biết “cộng tác” (collaborer) mà
thiếu hẳn tinh thần “đề kháng” (résistant)
(mô thức “collaborer en résistant” do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề xướng),
làm nản lòng đại bộ phận Dân Chúa và các người thiện chí trước đây vốn khâm phục
Giáo Hội Việt Nam”.
III.- Đôi lời tâm tình trước khi kết thúc
Với thái độ dè dặt thương lệ, trước khi viết bài này, chúng tôi đã tham khảo ý
kiến của một số bạn bè ở trong cũng như ngoài nước và đã nhận được sự đồng tình,
đồng cảm của đa số người thân, trong số bao gồm cả giới linh mục, tu sĩ. Dĩ
nhiên cũng có anh em suy nghĩ khác. Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới lá
thư của một anh bạn vốn là giáo chức và là hiệu trưởng một trường công lập ở
Sàigòn trước tháng tư năm 75. Tuy không hoàn toàn chia sẻ, nhưng lời lẽ nhẹ
nhàng, trầm tĩnh và lối suy tư chân thật, thẳng thắn của anh giúp chúng tôi thấy
rõ được vấn đề hơn. Với phong cách của một người trí thức Công Giáo có tinh thần
độc lập, không bị ràng buộc với lập trường và quan điểm của chế độ, anh nêu lên
những khó khăn, bác tạp của vấn đề, không phải ở phía kẻ cầm quyền nhưng ở phía
giới trẻ trong nước tham dự ĐH là những thành phần dù không muốn vẫn phải chịu
sự chi phối nghiệt ngã của chế độ mà họ đang bắt buộc phải sống, không có chọn
lựa. Vì thế, cho dù không đồng thuận, người đối thoại vẫn có thể tiếp nhận để
soi sáng cho quan điểm của riêng mình.
Tự hỏi: nếu trong lá thư gửi ra hôm 04-6-2008, đức HY Phạm Minh Mẫn có được
phong cách tự do, thông thoáng không nghiêng về một lập trường xơ cứng nào để
bình tĩnh, chân thành và thẳng thắn bày tỏ lẽ thiệt hơn thì phản ứng của người
đọc chắc chắn sẽ khác. Có thể nhiều người vẫn không hoàn toàn chia sẻ quan điểm
của ngài, nhưng hẳn sẽ không có thành kiến là ngài nói thay cho nhà nước, cho
những thế lực đã và đang là căn nguyên gây ra những tai ương cho Mẹ Việt Nam
trong hơn nửa thế kỷ vừa qua.
Đây không phải lần đầu vị chủ chăn TGP Sàigòn có những tiếng nói lạ tai.
Sau khi linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn
giáo, cho nhân quyền nhân phẩm Việt Nam vào đầu thiên niên kỷ mới, trước khi
bước lên phi cơ sang Hoa Kỳ, TGM Phạm Minh Mẫn đã gửi ra một bài viết mang tiêu
đề “Đi Tìm Ánh Sáng Soi Đường”. Một cách úp mở, tác giả gián tiếp chê bai và phủ
nhận tiếng nói Ngôn Sứ của người mục tử từng ra tù vào khám nhiều phen chỉ vì đã
kiên trì bước theo vết chân vị chủ chăn gương mẫu của cha là đức cha Philipphê
Nguyễn Kim Điền, nguyên TGM Huế. Cuối năm qua ngài cũng đã công bố một bài nhận
định trong đó gợi lại cung cách “cầu nguyện cho bạo chúa từ chóng chết đến
sống lâu” của một bà già xưa, một lời cầu thiếu hẳn phẩm chất phải có trong
tôn giáo, nhằm nhắn gửi một điều gì đó nhân những buổi cầu nguyện của giáo dân
Hànội để đòi lại Tòa khâm Sứ cũ. Ngưới ta cũng nhớ tới nội dung lá thư của ngài
gửi linh mục Liêm, Chủ tịch LĐCGVN tai Hoa Kỳ cách đây không lâu. Nội dung lá
thư công khai nói lên chủ trương muốn kiểm soát và chi phối sinh hoạt của tập
thể giáo dân Công Giáo Việt Nam ở hải ngoại, nói riêng tại Hoa Kỳ. (Ngoài tính
tương cận về ý nghĩa khiến phải nhắc tới trong bài viết này, vì tầm rộng lớn và
nghiêm trọng của nó, chúng tôi mong sẽ có dịp bàn rộng và sâu hơn trong một dịp
khác).
Và mỗi lần như thế, người ta không khỏi liên tưởng tới những nguồn dư luận nói
về những điều cam kết của ngài với đảng và nhà nước CSVN để đánh đổi lấy vai trò
lãnh đạo một TGP lớn nhất nước là Sàigòn, mà lẽ ra phải là đức cha Huỳnh Văn
Nghi, người đã được Tòa Thánh chính thức bổ nhiệm nhưng bị bạo quyền ngăn cản!
Ngay lập tức, người ta cũng nghĩ tới một khuôn mặt khác luôn kèm sát bên ngài
như hình với bóng. Đó là linh mục Huỳnh Công Minh, người cầm đầu nhóm linh mục
được bà con giáo dân cả nước gán cho danh hiệu: Tứ Nhân Bang: Minh-Cần-Từ Bích.
Nam California 11-6-2008
Để rộng
đường dư luận, dưới đây chúng tôi xin đăng tải 3 bài viết tiêu biểu với lời lẽ
ôn hòa, lễ nhượng nhất trong số trên 10 bài do các đồng đạo gửi về, để độc giả
Diễn Đàn Giáo Dân cùng theo dõi:
THƯ NGỎ CỦA HỒNG Y PHẠM MINH MẪN và
viễn ảnh "VẼ
ĐƯỜNG CHO HƯƠU CHẠY"
Thanh Hà (Úc châu)
Với
tư cách là giáo dân Công Giáo tỵ nạn CS thuộc Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc
Châu,
chúng
tôi thật bàng hoàng và tủi nhục
khi đọc nội
dung lá "thư ngỏ" viết bởi Hồng Y Gioan B. Phạm Minh Mẫn TGP SàiGòn gởi đến Giám
Mục Giuse Vũ Văn Thiên đặc trách Mục Vụ Giới Trẻ, Giám Mục Phaolô Bùi văn Đọc
đặc trách Giáo Lý Đức Tin và Giám Mục Giuse Đặng Đức Ngân cai quản Giáo Phận
Lạng Sơn là những vị Giám Mục sẽ đi tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới vào tháng
7 năm 2008 tổ chức tại thành phố Sydney, Úc Châu. Nội dung chính bày tỏ sự lo
ngại về hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ và đưa ra những "biện luận" trong mục tiêu
nhằm ngăn ngừa trường hợp hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ hiện diện tại Đại Hội
Giới Trẻ Thế Giới Úc Châu.
Trước
nội
dung nghiêm trọng
ấy, là giáo dân Công Giáo tỵ nạn CS,
chúng tôi không thể làm ngơ.
"Thư
ngỏ" viết ngày 4/6/2008 công bố vào ngày thứ Sáu 6/6/2008 được gửi đến các địa
chỉ điện thư một cách RỘNG RÃI cho Dân Chúa và Đồng Bào Việt Nam ở khắp nơi. Hai
ngày sau đó, phải chăng gặp sự phản ứng mạnh mẽ qua các bài viết đóng góp ý kiến
xác đáng từ các vị thức giả khắp nơi, lá thư ngỏ ấy đã "biến mất" trên trang
mạng
http://www.conggiao vietnam.net trong tiểu mục LỜI CHỦ CHĂN!
Hình
ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng và là căn cước tỵ nạn của những người
Việt tỵ nạn CS khắp nơi trên toàn thế giới,
không bao giờ chấp nhận sống dưới chế độ độc tài toàn trị CS đã phải liều thân
bỏ nước ra đi tìm sự sống trong sự chết kể từ sau ngày Quốc Hận 30/4/1975.
Trong
những ngày qua, với bản tính dè dặt thường lệ, chúng tôi tự tìm hiểu:
1. Vì
sao Hồng Y Phạm Minh Mẫn, vị lãnh đạo cao cấp của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
đứng hàng thứ nhì sau Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng, đã tự nguyện thay mặt chế độ
Việt gian csVN ngang nhiên đả phá hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ?? Nhận thấy lời
kêu gọi của Hồng Y Phạm Minh Mẫn rất nguy hiểm vì có tầm ảnh hưởng lớn rộng đối
với các Giáo Sĩ và Giáo Dân Công Giáo còn kém ý thức hoặc còn mơ hồ về lịch sử
cờ vàng ba sọc đỏ để có thể phân biệt rõ đâu là biểu tượng đích thực và nguyên
thủy của quốc gia đất nước VN.
2. Vì
sao Hồng Y Phạm Minh Mẫn và một số Giám Mục, tu sĩ, được chế độ CS cho phép
thường xuyên xuất hiện tại những Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn CS tại Hải Ngoại
qua những chuyến đi gọi là "mục vụ"? Mặc dầu trên thực tế, chúng tôi nhận thấy
những người Công Giáo tỵ nạn CS tại Hải Ngoại không có nhu cầu "mục vụ" đòi hỏi
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam phải có bổn phận giúp đỡ.
Nhằm
minh chứng, căn cứ vào Danh Sách Ban Thường Vụ và Đặc Trách các Ủy Ban của Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam nhiệm kỳ 2007-2010, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đặc trách về
Uỷ Ban Di Dân. Trong chức vụ này, Hồng Y Phạm Minh Mẫn
đã
hình thành ba Ban Mục vụ Di Dân: Di dân nội địa, Di dân người nước ngoài tại VN,
Di dân Hải Ngoại.
Trong
một lá thư Hồng Y Phạm Minh Mẫn gửi LM Nguyễn Thanh Liêm là Chủ Tịch Liên Đoàn
Công Giáo VN tại Hoa Kỳ khi đề cập về Mục Vụ Di Dân, xin trích dẫn ở đoạn 1 như
sau, viết theo chữ nghiêng:
Đối
với người Công Giáo VN tại Hải Ngoại, Giáo Hội tại VN có bổn phận:
·
Giúp
họ duy trì và củng cố sự hiệp thông với đời sống Giáo Hội tại VN;
·
Giúp
họ bảo tồn những giá trị tinh thần và đạo đức trong truyền thống văn hoá của dân
tộc mình.
"……Trong Ban MV Di Dân hải ngoại có nhiệm vụ liên hệ với các cộng đoàn CGVN hải
ngoại, nhằm nắm bắt tình hình và nhu cầu mục vụ, rồi cùng nhau xem xét coi cần
và có thể làm những gì để đáp ứng nhu cầu của CGVN hải ngoại, đặc biệt trong 2
nhiệm vụ đã nêu trên…"
Phải
chăng những lời đưa đẩy của Hồng Y Phạm Minh Mẫn đặc trách về Muc Vụ Di Dân là
những giải pháp đề nghị có tác dụng "hữu hiệu" giúp cho chế độ Việt gian csVN
theo Nghị Quyết 36 nương nhờ vào Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nhằm chính thức thò
tay ra kiểm soát giáo dân Hải Ngoại…. hay nói theo kiểu ví von là "vẽ đường cho
hươu chạy" trước tiên là bằng cách dị ứng lá cờ vàng ba sọc đỏ để khỏi làm tắc
nghẽn con đường "hiệp thông" hay nói cho đúng nghĩa hơn là con đường "hòa hợp
hòa giải"!!
Tóm
lại:
Là những người Quốc Gia tỵ nạn CS tại Hải Ngoại, chúng tôi luôn ý thức đề cao
cảnh giác và tẩy chay trước những lời đề nghị, kêu gọi
với nội dung đầu độc, lợi
dụng tôn giáo làm công cụ tuyên truyền …..
có lợi cho CS.
Là những bậc phụ huynh của thế hệ các em sinh ra và trưởng thành tại Hải Ngoại,
chúng tôi luôn hướng dẫn những thế hệ tiếp nối. Thế hệ thanh thiếu niên tại Hải
Ngoại đều ý thức, thấu hiểu rõ về nguồn gốc tỵ nạn CS của bậc cha ông mình và
lịch sử lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng chính đáng nhất của Dân Tộc Việt.
Là những người Việt tỵ nạn CS trong đại gia đình Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc
Châu. Chúng tôi sẽ cùng với các thanh thiếu niên trẻ tham dự đông đảo ngày
WYD2008, những lá cờ vàng ba sọc đỏ CHÍNH NGHĨA sẽ tung bay chào đón Đức Giáo
Hoàng Benedicto XVI sang
thành
phố Sydney Úc Châu tham dự Đại Hội
Giới Trẻ Thế Giới
2008.
Úc Châu, tháng 6 - 2008
II
Thư Ngỏ của TS Nguyễn Tiến ích
Ngaøy 19
thaùng 6, 2008
Kính göûi:
Ñöùc Hoàng Y Gioan Baotixita
Phaïm Minh Maãn
Toång Giaùm Muïc Toång Giaùo Phaän Thaønh Phoá Hoà Chí Minh
Thaønh
Phoá Hoà Chí Minh, VIEÄT NAM
Thöa ñöùc Hoàng Y,
Con teân laø PhanXiCoâ Xavieâ
Nguyeãn Tieán Ích, hieän cö nguï taïi thaùnh phoá Anaheim, California, Hoa Kyø.
Con xin pheùp Ñöùc Hoàng Y cho con ñöôïc goùp vaøi lôøi vaøo laù thö Ñöùc Hoàng
Y göûi cho caùc Ñöùc Giaùm muïc ñaëc traùch Muïc vuï Giôùi Treû, ñaëc traùch
Giaùo lyù Ñöùc tin, vaø Ñöùc Giaùm muïc Laïng Sôn.
Trong ñoaïn 1, con thaáy Ñöùc
Hoàng Y keå leå veà laù thö cuûa Ñöùc Hoàng Y G. Pell laø thöøa. Con nghó neáu
coù thö môøi thì Ñöùc Hoàng Y chæ caàn töï hoûi loøng mình xem ñaùng ñi thì
nhaân lôøi, khoâng ñaùng ñi thì töø choái phaét, keå leå laøm chi vì con chaéc
trong thö traû lôøi Ñöùc Hoàng Y ñaâu coù ñöa maáy doøng laåm caåm ñoù vaøo laøm
chi. Thaønh ra trong thö traû lôøi
coù nhöõng phaàn Ñöùc Hoàng Y chæ chia seû rieâng vôùi caùc Ñöùc Giaùm Muïc
khaùc maø thoâi, khoâng cho ngöôøi nhaän thö traû lôøi bieát. Ngoaøi ra, Ñöùc
Hoàng Y duøng töø “giuùp cho caùc baïn
treû”. Chuùng con ñöôïc Ñöùc Hoàng Y giaùo duïc cho veà maët Ñöùc Tin laø
moät ñaïi haïnh, nhöng neáu Ñöùc Hoàng Y duøng töø
“ñoùng goùp vôùi caùc baïn treû” thì noù ñôõ naëng muøi daïy doã hôn vaø
tuoåi treû coù leõ deã chaáp nhaän hôn. Ngöôøi ta vaãn nhaén nhuû nhau laø ñöøng
neân laøm thaày ñôøi maø chæ neân laøm baïn ñôøi thoâi.
Ñoïc caùc ñoaïn 2 vaø 3 con
caûm thaáy Ñöùc Hoàng Y chöa tu thaønh chính quaû cho neân ngoân töø thieáu bình
tónh, chaúng khaùc gì maáy con hoà ly tinh trong chuyeän Taây Du, khi bò Teà
Thieân ñöoåi gaáp quaù phaûi bieán thaønh ngoâi chuøa thôø Phaät, nhöng thay vì
laø laù phöôùn treo tröôùc cöûa chuøa thì noù laïi laø caùi ñuoâi con hoà ly.
Caùc ñoaïn 4 vaø 5 khoâng coù
gì ñaëc bieät. Tuoåi treû trong nöôùc thì khoâng bieát sao nhöng tuoåi treû beân
Myõ naøy hoï cuõng raát thoâng hieåu Kinh Thaùnh. Hoï bieát phaân bieät ñaïo vaø
ñôøi. Hoï chaéc phaûi bieát con ngöôøi soáng trong hai chieàu: theå xaùc vaø lyù
trí trong khi phaàn lôùn caùc ñoäng vaät khaùc chæ coù theå xaùc vaø baûn naêng.
Ngoaøi ra, con ngöôøi coøn coù chieàu kích taâm linh, caûm nhaän ñöôïc söï hieän
höõu cuûa moät Ñaáng Taïo Hoùa duø khoâng theo haún moät toân giaùo naøo.
Con nghó tuoåi treû Vieät Nam
ñeàu ñaõ ñuû khoân lôùn ñeå bieát nhaän dieän nhau laø anh em duø ôû trong nöôùc
hay ngoaøi nöôùc, mình khoûi phaûi baän taâm vaø chæ caàu xin Chuùa Thaùnh Thaàn
môû loøng môû trí cho hoï ñeå ngaøy Ñaïi Hoäi Giôùi Treû Theá Giôùi naêm nay
taïi UÙc seõ thaønh coâng vöôït böïc nhö nhöõng naêm tröôùc.
Con xin kính chaøo Ñöùc Hoàng Y
Nguyeãn Tieán Ích
III
Cờ Vàng Là Biểu Tượng Tự Do - Không Thể Nói Khác
Sơn Hà (tháng Sáu - 2008)
Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn vừa mới gửi ra một bức thư ngỏ gây nhiều xôn xao trong
cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Trong ấy, có một điều được xem là nhức nhối,
cho cả cộng sản Hà Nội lẫn nhân dân Việt Nam, bất kể trong hay ngoài nước. Ông
đã nói đến một ý niệm biểu tượng của lá cờ. Mặc dù Đức Hồng Y không nói rõ ràng
là nên triệt hạ lá cờ đỏ hay lá cờ vàng, nhưng ông đã có nói rằng, chính những
lá cờ này đã gây sự phân cách, dù nó là biểu tượng cho một chế độ, một quốc gia
hay "chỉ biểu trưng một thói đời mang
tính đối kháng".
Mỗi biểu tượng đều mang tính chất thiêng liêng của nó, không thể phủ nhận được.
Cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của người Việt Nam yêu chuộng tự do. Dù là người
Việt ở trong hay ở ngoài nước. Cờ vàng là biểu tượng của đại đa số nhân dân Việt
Nam. Cờ đỏ sao vàng là biểu tượng của người cộng sản, của đảng cộng sản, một thứ
biểu tượng mang màu máu. Không ai có thể chối cãi được điều này. Nguyên văn một
đoạn trong thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn gửi ra khắp nơi trước khi ông lên
đường đi dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008, được tổ chức vào những ngày từ 15
đến 20 tháng Bảy, 2008, tại Sydney, Australia.
Đức Hồng Y viết: "Một lá cờ biểu tượng
cho điều gì? Có lúc lá cờ được coi
là biểu tượng cho một đất nước, lúc khác được coi là biểu trưng một chủ nghĩa,
chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa quốc gia... Có lúc chỉ biểu
trưng một thói đời mang tính đối kháng.
Giám mục của tôi, cách đây hơn 30 năm, lúc còn sinh thời, đã để lại cho
các tín hữu và cho bản thân tôi bài học lịch sử nầy:
người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo
lành, lúc áo rách, vẫn là người mẹ đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân VN,
vẫn là người mẹ đã để lại cho dân tộc VN một di sản vô giá.
Di sản đó là truyền thống văn hoá của dân tộc VN, một nền văn hoá khá
phong phú với những giá trị tinh thần và đạo đức.
(như Tứ hải giai huynh đệ; Chuyện hôn nhân là chuyện trăm năm, là mối
tình chung thuỷ; Lá lành đùm lá
rách...)".
Dù phải nói cách này hay cách khác, tựu trung, Đức Hồng Y cũng đã công nhận cờ
vàng là một biểu tượng của người Việt chống cộng sản, và cờ đỏ là của đảng cộng
sản, không thể nói khác được. Người ta cầm cờ vàng là biểu hiện một ý niệm chống
cộng sản và ôm ấp niềm mơ ước giành lại Tự Do cho cả một dân tộc Việt Nam. Họ ôm
ấp biểu tượng ấy hơn nửa thế kỷ qua.
Giả thử, có người nào thắc mắc về biểu tượng thánh giá mà người theo đạo Chúa
vẫn tôn thờ. Chắc chắn sẽ làm cho các Kitô hữu buồn lòng nếu có ai đem biểu
tượng của họ ra mà đặt vấn đề. Khi Chúa Giêxu bị đóng đinh trên thập giá ở núi
Sọ, hai bên cũng có hai thập giá khác. Trên hai thập giá đó là hai tên trộm phải
mang hình phạt của chế độ La Mã, bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng chỉ có thập
giá ở giữa, là thập giá có Chúa Giêxu bị đóng đinh đã trở thành biểu tượng của
người theo đạo Chúa. Họ gọi đó là Thánh Giá, biểu trưng cho công cuộc cứu chuộc
của Chúa Giêxu. Điều này sẽ rất khó hiểu đối với những người không phải là tín
hữu Kitô giáo. Không ai có thể bắt người theo đạo Chúa phải bỏ biểu tượng thánh
giá của họ được. Còn biết bao biểu tượng khác đã trở thành quen thuộc và được
tôn thờ.
Người Việt Nam tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại đã chọn Cờ Vàng làm biểu tượng và có
lẽ họ sẽ mang theo suốt đời, không thể xa rời. Người quốc gia ở trong nước, chưa
thoát được nanh vuốt của cộng sản nhưng đã chọn biểu tượng Cờ Vàng, cho dù họ
chỉ sử dụng trong âm thầm và vẫn canh cánh bên lòng. Làm sao tước đoạt được của
họ.
Cờ đỏ là biểu tượng của đảng cộng sản Việt Nam. Họ chỉ là thiểu số rất ít so với
toàn thể nhân dân. Đảng cộng sản là kẻ cướp chính quyền từ tay nhân dân và lên
ngôi thống trị toàn cõi đất nước. Nhân dân Việt Nam là đại đa số quần chúng
thuộc thành phần bị trị và phản kháng lại chế độ cộng sản hà khắc. Biểu tượng
của thành phần phản kháng với chế độ chắc chắn phải
"mang tính đối kháng". Đó là Cờ Vàng
của đa số nhân dân Việt Nam, là những người đối kháng với chế độ cộng sản. Một
sự phân ranh rõ ràng không thể nói khác được. Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn không thể
nào nói khác được.
Đức Hồng Y đưa ra câu hỏi: Một lá cờ biểu
tượng cho điều gì?. Rồi tiếp theo sau đó, chính Đức Hồng Y lại giải thích
trong ý niệm biểu tượng của hai bên. Thật vậy, Cờ Vàng là biểu tượng của Tự Do
và Cờ Vàng là biểu tượng của những người đối kháng với Cộng Sản. Không thể nói
khác hơn được.
Sơn Hà (tháng Sáu - 2008)
[1]
Chỉ vài ngày sau khi công bố, lá thư đã được gỡ bỏ. Cái gọI là Thông Tấn
Xã Công Giáo cũng có hành vi tương tự sau đó.
[2]
Sau này, khi cao trào phẫn nộ trong quần chúng tín hữu dâng cao, TGM
Hànội Ngô Quang Kiệt đã lên tiếng yêu cầu “xếp lại nội vụ!”
VỀ
BỨC
THƯ CỦA ĐHY PHẠM MINH MẪN.
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh
Tôi không tính viết về vấn
đề này vì nó khá tế nhị, dễ bị đụng chạm. Nhất là nó liên quan đến vấn đề bản
sắc của một cá nhân hay đoàn thể hay một lý tưởng mà người ta đang theo đuổi.
Nhưng sau khi thăm hỏi nhiều ý kiến và suy nghĩ đắn đo tôi quyết định viết. Viết
không phải để làm “tắc nghẽn” đường hiệp thông nhưng để làm sáng tỏ vấn đề cho
những ai “không biết” hoặc “cố tình” không muốn biết .
Hơn nữa, cổ nhân nói
(thuyết TRI-HÀNH hiệp nhất của Vương dương Minh): “Biết mà không làm là chưa
biết / Vị hữu tri nhi bất hành giả, Tri nhi bất hành, chỉ thị vị tri”. Nói
một cách khác biết điều sai trái mà không lên tiếng phản đối là đồng lõa. Chúa
Giêsu cũng đã nói: “…hãy lên mái nhà mà nói; hãy nói ra giữa ban ngày điều
anh em nghe trong bóng tối hoặc nghe rỉ tai…” (Mt. 10: 27)
Đó là lý do tôi viết bài
này. Rất ngắn gọn và chỉ nói về một vài điểm cần phải nói mà thôi.
Khi quí vị đọc bài này thì
quí vị cũng đã đọc bức thư của ĐHY Mẫn gửi ba giám mục Việt Nam nói về lá cờ
vàng ba sọc đỏ trong đại hội giới trẻ thế giới 2008 tại Sidney, Úc Châu (WYD
2008). Mở đầu bức thư bằng lý do tại sao ĐHY đi dự đại hội giới trẻ thế giới rồi
nhân đó kết án lá cờ vàng ba sọc đỏ lồng khung trong bộ áo tôn giáo đạo đức.
TẠI SAO HY MẪN LẠI NÓI TỚI
CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ?
Bức thư của HY Mẫn thực sự
không phải là thư mục vụ gửi cho giới trẻ tham dự đại hội WYD 2008 mà là thư gửi
cho ba giám mục Việt Nam sẽ tham dự đại hội. Bức thư lại được phóng ra hải ngoại
và hải ngoại đọc được bức thư trong khi ở trong nước chưa ai biết. Có thể ba
giám mục kia cũng chưa kịp đọc thư nữa. Tại sao HY Mẫn lại viết một cách gián
tiếp như vậy ? Với tư cách là HY, người cha nhân lành viết thẳng cho giới trẻ,
nhắn nhủ khuyên biểu chúng thì hay biết mấy!
Vấn đề nổi cộm là HY Mẫn
lại xác định chắc như đinh đóng cột là cờ vàng ba sọc đỏ “đã làm tắc nghẽn
con đường hiệp thông của các bạn trẻ” khi nhắc tới ba lần đại hội trước ở
Pháp, Đức, Canada mà không đưa ra bằng chứng, trong khi ĐHY đã ca ngợi ba lần
đại hội trước là thành công! Có chăng là cờ vàng đã làm tắc nghẽn nghị quyết 36.
Hay là lần này vì HY chính thức tham dự đại hội nên sợ có cờ vàng ba sọc đỏ xuất
hiện mà HY không ưa?
CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ CÓ LÀM
TẮC NGHẼN SỰ HIỆP THÔNG KHÔNG?
Thực sự cờ vàng ba sọc đỏ
có làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của giới trẻ không? Theo nhận xét thì có
thể nói không một bạn trẻ nào ở hải ngoại lại e dè, hận thù hay ghét bỏ những
người trẻ hiện đang sống ở trong nước. Chúng tôi sinh hoạt gần gũi và thường
xuyên với giới trẻ nên biết rất rõ vấn đề đó. Trong gia đình con cháu chúng tôi
cũng vậy. Chúng được giáo dục khai phóng, tự do, cởi mở thân thiện với mọi
người, đừng kể giới trẻ công giáo với tinh thần bác ái yêu thương mọi người thì
chuyện tắc nghẽn hiệp thông giữa giới trẻ trong và ngoài nước lại càng không bao
giờ có. Không rõ giới trẻ trong nước có e dè gì với giới trẻ ở hải ngoại không?
Tôi cũng nghĩ là không? Bởi lẽ không một người trẻ nào ở trong nước ra hải ngoại
chơi mà không mong ước được ở lại. Hiện nay khá nhiều du sinh Việt Nam sau khi
học xong đã tìm mọi cách để được ở lại ngay cả chấp nhận ở lại bất hợp pháp. Đó
là chưa nói về tình gắn bó thắm thiết của đồng bào hải ngoại với quốc nội. Mỗi
khi người trong nước bị ức hiếp bất công hoặc bị tai ương bão lụt thì đồng bào
hải ngoại cấp kỳ lo lắng giúp đỡ để họ mau thoát cảnh khốn khổ. Bằng cớ là đồng
bào hải ngoại gửi về cho bà con anh em ho hàng cả hảng tỷ mỹ kim mỗi năm. Xem
vậy đủ biết không có vấn đề tắc nghẽn hiệp thông giữa hai giới trẻ trong và
ngoài nước như HY Mẫn nói. Giới trẻ Việt Nam hải ngoại khi giương cao cờ vàng ở
đại hội là biểu lộ bản sắc của mình, tinh thần tự do dân chủ mà họ hằng bảo vệ
và trân quí, cũng như bất cứ một quốc gia nào khác như Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban
Nha…giương cờ quốc gia của họ mà thôi. Họ đâu có ý phản đối hay “sự cố” làm tắc
nghẽn con đường hiệp thông của ai đâu…Có chăng là cung cách ĐHY viết về lá cờ
vàng đã khơi mào làm tắc nghẽn hiệp thông giữa trong và ngoài nước, nhất là đồng
bào công giáo. Có thể vì ngài không ưa lá cờ vàng ba sọc đỏ nên ngài không muốn
nhìn nó mà thôi? Hay ngài sợ nhà cầm quyền Việt Nam, đảng CSVN phật lòng? Nếu
vậy thì ngài lại tự mẫu thuẫn, không thành thực với lòng mình, với cả giáo huấn
của Giáo Hội: “….Giáo Hội Công Giáo chưa bao giờ được xây dựng trên nền tảng
một chủ nghĩa trần thế” (4).
Từ chỗ không ưa cờ vàng ba
sọc đỏ mà HY đã cắt nghĩa biểu tượng lá cờ một cách chủ quan, gượng gạo và ví
von áp đặt…Cờ vàng ba sọc đỏ không bao giờ và sẽ chẳng bao giờ là biểu trưng
một “thói đời” mang tính đối kháng. Đồng bào hải ngoại liều chết bỏ
nước ra đi “vì không thể sống dưới chế độ cộng sản độc tài áp chế được nên phải
tìm một lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội công dân thật sự
với đầy đủ tự do dân chủ và nhân quyền…” mà Thiên Chúa đã phú bẩm cho họ từ lúc
mới thụ thai và lúc vừa mới sinh ra. Đó là lý tưởng của họ, quyền tự do của họ,
không ai có quyền lăng mạ.
THẾ NÀO LÀ BIỂU TƯỢNG MỘT
LÁ CỜ
Lá cờ luôn luôn là biểu
tượng lý tưởng của một đoàn thể, tổ chức hay quốc gia dân tộc. Lá cờ là linh
hồn của đất nước. Lá cờ rất quan trọng và phải được gìn giữ, bảo trọng hơn cả
vị nguyên thủ quốc gia. Diễn giải biểu tượng lá cờ với hình thức giả dụ ví von
dài dòng với mục đích đi đến chỗ chà đạp lá cờ mà mình không ưa và muốn khai trừ
nó là thiếu tình bác ái, không tôn trọng tự do của người khác. “Lá cờ…có lúc
chỉ là biểu trưng của một thói đời mang tính đối kháng”. Đọc câu diễn tả lá
cờ như vậy, người ta nghĩ là nó chỉ có thể được nói ra nơi cửa miệng của
một chính trị gia mưu sỉ và hiểm độc. Nếu giới trẻ có giương lá cờ vàng nơi đại
hội thì cũng không đến nỗi bị một giáo chủ của mình quở trách thậm tệ đến như
thế. Một khi đã chà đạp lá cờ vàng như vậy thì hẳn là có ý muốn nêu cao lá cờ đỏ
của phía đối nghịch? ĐHY Mẫn lại ví von Mẹ Việt Nam mặc áo Vàng, áo Đỏ, lúc Lành
lúc Rách nhưng vẫn là “Mẹ đã dày công sinh thành dưỡng duc con dân Việt Nam,
vẫn là mẹ đã để lại cho dân tộc VN một di sản vô giá…một nền văn hóa khá phong
phú với những giá trị tinh thần và đạo đức….” Đúng vậy, nhưng không phải bà
mẹ Việt Nam nào cũng là mẹ hiền, luôn luôn đùm bọc che chở, giúp đỡ tất cả mọi
đứa con đồng đều như nhau từ đứa giàu nghèo, trí thức, công nhân, thợ thuyền,
thương gia cho đến lao động tay chân. Bà mẹ nào chủ trương đấu tranh giai cấp,
gây cảnh con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bè tố cáo nhau…Bà mẹ nào ăn cướp tài
sản ruộng vườn của dân? Bà mẹ nào chiếm đoạt nhà thờ, chùa chiền, học đường, nhà
thương, cơ sở bác ái giáo dục của các tôn giáo? Chắc chắn không phải bà Mẹ Việt
Nam mặc áo vàng. Đâu là di sản vô giá và văn hóa phong phú của dân tộc với những
giá trị tinh thần và đạo đức mà bà Mẹ áo đỏ đem lại như ĐHY miêu tả? Phải chăng
là một nền văn hóa người bóc lột người, một nền văn hóa sự chết mà ĐGH Gioan
Phaolo II đã kết án, một xã hội tha hóa với đầy dẫy tham nhũng, bất công, hận
thù, kỳ thị, áp bức, gian dối, trí trá và lừa bịp.
Không thể lấy hình ảnh bà
Mẹ hiền để nhập nhàng trí trá đánh lận giữa Hiền với Ác hầu khỏa lấp che dấu tội
lỗi của Ác mẫu.
Đánh tráo giữa hai hình ảnh
bà Mẹ vẫn chưa đủ, ĐHY lại đem Chúa và Giáo Hội ra làm bùa hộ mệnh để đánh bóng
cho biện luận của mình. ĐHY đã dấu kín con người “chính trị” trong cái áo
Mẹ Hiền và Tôn Giáo bằng những lời hay ý đẹp thì quả là mưu trí.
KẾT LUẬN
Tôi sinh ra đời vào một
thời tao loan, chịu ảnh hưởng của cả hai Mẹ: Có nước mắt, có mồ hôi, có tiếng
cười tiếng khóc, có cả no cả đói, có tiếng than van thở dài lo âu. Rồi lớn lên
trong chinh chiến bom đạn. Tôi đã từng thắc mắc ai nêu cảnh tang thương này để
phải ba lần chạy trốn rời bỏ nơi thân yêu. Lần đầu mẹ bế chạy giặc ra Hanội. Lúc
đó tôi chưa hiểu gì cả. Lần thứ hai phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn vô Nam,
tôi được bố mẹ và các cha xứ biểu “vào Nam để giữ đạo”. Lúc đó tuy chưa
khôn lớn đủ nhưng cũng biết thắc mắc tại sao phải vào Nam mới giữ được đạo?
Lần thứ ba gần đây nhất đã phải chạy trối chết vượt sóng gió đại dương bất kể
hiểm nguy để có được Tự Do, để bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ.
Tôi được bà mẹ áo vàng nuôi
dưỡng giáo dục thành nhân và thành danh. Khi tốt nghiệp vì bổn phận công dân tôi
đáp lời sông núi ra đi bảo vệ quê hương. Tôi đã từng chứng kiến biết bao nhiêu
đồng bạn ngã gục trong lửa đạn. Những đêm dài nằm nghe tiếng súng pháo kích để
sáng mai nhìn thảm cảnh đàn bà con nit, ông già bà già vô tội tan thây nát xác,
nhà tan cửa nát. Chúng tôi có lúc đã phải xông pha lửa đạn để cứu những thương
bệnh binh và dân lành vô tội để rồi khi bà mẹ áo Đỏ chiếm đoạt được miền Nam đã
lừa chúng tôi vào những trại cải tạo để giáo dục: “Các anh là kẻ có
tội vì đã cứu sống / chữa lành những tên ngụy cho chúng khỏe mạnh để chúng tiếp
tục đánh phá cách mạng. Các anh tuyên úy đã giải tội và tha tội cho lính để
chúng được thảnh thơi thoải mái trở lại tiếp tục truy lùng đánh giết cách mạng.
Tất cả các anh đáng tội phải chết”. Và khá nhiều bạn bè chúng
tôi đã nằm xuống một cách rất thê thảm …
Những Đại Lộ kinh hoàng,
Mùa hè Đỏ Lửa, những trận mưa pháo vào dân lành, vào bệnh viện, vào những bệnh
nhân, vào những xác chết hai lần, vào linh địa La Vang…, tất cả tôi đều chứng
kiến tận mắt. Rồi thảm trạng Tết Mậu Thân ở Huế đã hằn xâu vào tim óc chúng tôi
để nhận ra ai là mẹ áo Đỏ ai là Mẹ áo Vàng. Những người lính chiến đã liều chết
để treo cho được lá cờ vàng lên cố đô Huế, lên cổ thành Quảng trị. Đến khi mẹ Áo
Vàng không thể bảo vệ được chúng tôi thì chúng tôi bằng mọi cách thoát khỏi Mẹ
Áo Đỏ tìm nơi tự do hầu bảo vệ lá cờ vàng, tượng trưng cho tự do, dân chủ và
tình người. Không ai có quyền ngăn cản chúng tôi, có quyền xỉ nhục lá cờ vàng ba
sọc đỏ.
Thiết nghĩ tất cả đồng bào
Việt Nam ở hải ngoại ra đi sau 1975 đều có cùng một tậm trạng như chúng tôi.
Pace Island, Florida
17-6-2008
NTC