VIẾT TỪ CANADA
GIÁO HỘI VÀ QUÊ HƯƠNG
(Bài này đã được tác giả thuyết trình trong Ngày Hội Ngộ kỷ niệm Đệ Thất Chu Niên Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân được tổ chức ngày 15-06-2008 tại Trung Tâm CGVN, Santa Anna, California)
Giáo Hội và Quê
Hương Việt Nam đã cách xa chúng ta về phương diện địa dư từ trên 33 năm nay,
nhưng vẫn ở trong lòng những đứa con cuống rốn chưa lià, những kỷ niệm vẫn còn
sống động và những liên hệ vẫn tồn tại. Vì thế, khi suy nghĩ về Giáo Hội quê
hương, chúng ta không phải là người ngoài cuộc. Những ý kiến của chúng ta không
thể được coi như những nhận định thiếu cơ sở của kẻ bàng quan. Chúng ta đã cùng
trăn trở, cùng chia sẻ những thăng trầm, buồn vui với Giáo Hội quê nhà. Chúng ta
thật lòng mong cho Giáo Hội vượt qua những cơn sóng gió. Chúng ta có những nỗi
lo âu, nhưng đồng thời cũng có những niềm hy vọng. Tình hình Giáo Hội Việt Nam
không thể không liên hệ với tình hình đất nước. Một câu hỏi luôn được đặt ra là,
ngoài việc duy trì và phát triển Giáo Hội, Giáo Hội có thể đóng góp được gì cho
việc đoàn kết các thành phần dân tộc, xây dựng quê hương, cải thiện đời sống của
những con người Việt Nam? Nếu trong bài này có những băn khoăn, thắc mắc được
nêu lên thì đó cũng chỉ là cách tra vấn, tìm tòi một câu trả lời cho vấn nạn
trên. Chúng tôi không làm một bài nghiên cứu với những chi tiết và con số nhằm
xử dụng cho việc tra cứu, nhưng chỉ dựa vào hiện trạng để đưa ra một số nhận
định theo 5 tiểu mục sau đây:
1 - Những
khó khăn mà Giáo Hội còn phải gánh chịu
2 - Hội
Đồng Giám Mục VN hành động ra sao?
3 - Tòa
Thánh Vatican can thiệp như thế nào?
4 - Liên
hệ hai chiều giữa tình hình Giáo Hội và tình hình đất nước
5 - Chúng
ta có thể làm gì để góp phần cải thiện tình hình?
Từ sau 1975, Giáo
Hội tại miền Nam không còn được tự do tung hoành như trước đó, thời mà cha cố và
sư sãi có thể làm áp lực trên chính quyền, không vừa ý là kéo xuống đường phản
đối. Giáo Hội hai miền Nam Bắc khi gặp lại nhau sau một thời gian dài chia cách
đã tỏ ra rất thực tế, chấp nhận sống chung với chế độ cộng sản, cố gắng giữ
những gì có thể giữ, với niềm mong muốn rất khiêm tốn là được yên hàn giữ đạo,
nếu không thể phát triển thì cũng có thể xây dựng kế thừa. Trong thời gian đầu,
những mong ước khiêm tốn đó cũng gặp những trở ngại tưởng khó vượt qua. Nhưng từ
khi chế độ cộng sản bắt buộc phải áp dụng chính sách đổi mới, từ 1986, thì toàn
dân Việt Nam, trong đó có các giáo hội, được dễ thở hơn đôi chút. Việc hành đạo
được dễ dàng hơn, việc sửa sang, xây cất các cơ sở được cho phép thực hiện. Thêm
vào đó là những biện pháp dễ dãi cho việc chuyển tiền, cho phép các giám mục,
linh mục và tu sĩ xuất ngoại, đã tạo cơ hội cho Giáo Hội có nguồn tài trợ quan
trọng từ bên ngoài hầu thực hiện những dự án cần thiết, cũng như phung phí vào
những công trình chỉ có tính cách phô trương, chưa kể một số trường hợp lạm
dụng, gây tai tiếng. Nói như vậy không có nghiã là Giáo Hội đã được hoàn toàn tự
do. Giáo Hội vẫn còn phải đương đầu với những khó khăn lớn như sau:
1/ Tòa
Thánh Vatican vẫn chưa có toàn quyền bổ nhiệm các giám mục cho Giáo Hội Công
Giáo Việt Nam. Tòa Thánh đưa tên những vị Tòa Thánh chọn. Chính quyền Việt Nam
dành quyền chấp nhận hay bác khước. Họ là người có tiếng nói cuối cùng. Năm
2007, Tòa Thánh đề nghị hai giám mục cho hai giáo phận trống tòa là Phát Diệm và
Bắc Ninh, cả hai đều bị nhà cầm quyền từ chối. Hậu qủa là Tòa Thánh phải kiếm
những vị khác, những vị dễ được nhà nước cộng sản chấp thuận. Chỉ cần có tinh
thần độc lập đã khó được chấp thuận. Vậy nếu không cử người có cảm tình với cộng
sản, thì ít ra cũng phải chọn người hiền lành, không lập trường, không ý kiến.
Nếu tình trạng này kéo dài, trong một thời gian không lâu nữa, Hội Đồng Giám Mục
Việt Nam sẽ ra sao?
2/ Các ứng
viên linh mục cũng phải được phép của nhà nước mới được chịu chức, dù trước đó,
khi xin nhập đại chủng viện, họ đã bị tra xét lý lịch rất kỹ lưỡng. Hiện nay,
một số giám mục chỉ thông báo danh sách cho chính quyền, qúa một thời hạn nào
đó, nếu chính quyền không trả lời, các giám mục xúc tiến việc phong chức. Nhưng
tại nhiều địa phương, chính quyền đòi chuẩn y trước. Khi có quyền chuẩn y là có
quyền bác khước vì rất nhiều lý do, trong đó có cả lý do tống tiền, khiến không
ít “chuẩn linh mục” phải nhờ cậy cha mẹ, anh em, bạn bè góp tiền, góp vàng để
“mua” chức linh mục, khởi đầu sự nghiệp tông đồ bằng việc hối lộ.
3/ Nhà
nước kiểm soát chặt chẽ các đại chủng viện. Theo Thông tư ngày 30-06-1999 của
Ban Tôn Giáo của chính phủ do Trưởng Ban Lê Quang Vịnh ký, chiếu các Điều 18 và
29 của Nghị Định số 26/1999/NĐ-CP, thì
-
Nội dung giảng dậy
trong Đại Chủng viện không được trái với chính sách, luật pháp của nhà nước,
-
Môn Giáo dục Công
dân là một trong những môn học chính khóa trong chương trình đào tạo,
-
Giám đốc Đại Chủng
viện do giám mục giới thiệu và phải được Trưởng Ban Tôn Giáo của chính phủ chấp
thuận,
-
Các giảng viên phải
là công dân Việt Nam, chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật của nhà
nước… được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận,
-
Ban Tôn giáo và Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đại chủng viện phối hợp với Sở Giáo Dục-Đào Tạo xem
xét về nội dung, chương trình và giảng viên môn Giáo dục công dân,
-
Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý hoạt động của Đại chủng viện theo
những qui định của Thông tư này.
Đó là một số những
điều chính trong Thông Tư, qúa đủ để chứng minh nhà nước cộng sản kiểm soát việc
đào tạo linh mục ra sao. Cần nhấn mạnh môn Giáo dục công dân là môn học về chủ
thuyết cộng sản, về lịch sử và thành tích của đảng cộng sản Việt Nam do cán bộ
cộng sản giảng dậy. Trước những lo ngại của giáo dân về việc các linh mục tương
lai phải học môn này, Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam số 44 ngày 28-06-2007 đã trấn an:
“Việc cán bộ nhà nước vào dậy môn “Công
dân giáo dục” cho chủng sinh là sự thật, nhưng không gây trở ngại nhiều. Nhất là
chúng ta hoàn toàn có thể tín nhiệm vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa,
cộng với sự trưởng thành của các chủng sinh”. Mong được như vậy. Nhưng sau
giờ học, các linh mục giáo sư có dám giải độc cho chủng sinh, hay sợ sẽ bị tố
cáo nếu dám nói sự thật? Khi làm bài thi, các chủng sinh phải ca ngợi cộng sản
như đã được dậy nhưng trong lòng không tin (biết đâu có kẻ tin). Như vậy
có phải họ đã phải tập dối trá ngay trong thời gian được huấn luyện để
trở thành những người hướng dẫn lương tâm cho bổn đạo mai sau?
Cứng rắn từ chối môn học này thì sẽ khiến các đại chủng viện phải đóng cửa.
Các vị hữu trách đã có biện pháp nào để bảo vệ sự nhận thức khách quan và lòng
ngay thẳng của các mục tử tương lai?
4/ Việc
cấm hành đạo tại những địa phương xa xôi vẫn còn tiếp diễn, cụ thể là vụ đàn áp
cộng đoàn Công Giáo Mai Sơn, tỉnh Sơn La ngày 17-03-2007, vụ cấm 7 trên 10 giáo
điểm thuộc tỉnh Hòa Bình cử hành lễ Giáng Sinh 2007 như Đức Tổng Giám Mục Ngô
Quang Kiệt xác nhận, vụ cấm một cha xứ thuộc giáo phận Komtum làm lễ Giáng Sinh
2007 vì không xin phép, không nộp các bài đọc và bài giảng… Nhà nước chỉ cần
biểu diễn màn kịch tự do tôn giáo tại những nơi thị tứ
“nhĩ mục quan chiêm”. Tại những vùng
xa xôi hẻo lánh, họ để mặc các quan địa phương muốn hành hạ giáo dân cách nào
tùy ý.
5/ Vấn đề
trưng thu, cưỡng chiếm nhà đất của Giáo Hội vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng.
Trong thời gian qua, nhà nước đã trả lại một số bất động sản cho Giáo Hội. Vụ
trả “đột xuất” khu đại chủng viện Mỹ Đức, Thái Bình, là một tin vui nhưng cũng
gây nhiều suy nghĩ, kể cả sự liên hệ mật thiết giữa Đức Giám Mục Nguyễn Văn Sang
và nhà cầm quyền. Trong khi trả một số, nhà nước lại chiếm thêm một số khác, như
đất của Dòng Thiên An gần Huế. Thỉnh thoảng lại có tin tỉnh này tỉnh kia xảy ra
những vụ cưóp nhà, cướp đất hay lấn đất của Giáo Hội. Đức Giám Mục Vĩnh Long đã
công bố thư ngỏ phản đối chính quyền chiếm khu vườn trẻ thuộc tài sản của các nữ
tu Dòng Thánh Phaolô để làm khách sạn vào tháng 04/2008. Vụ mới nhất xảy ra ngày
12/06/2008 khi cơ quan quản lý nhà đất TP “HCM” giao cơ sở vốn là trường mẫu
giáo Măng Non của các nữ tu dòng Bác Ái Vinh Sơn (Saint Vincent de Paul) cho Ủy
Ban Nhân Dân Quận 3 để xử dụng làm vũ trường. Trong khi đó những cơ sở lớn và
những khu đất qúy giá bị tịch thu vẫn chưa được giải quyết, như tòa Khâm Sứ cũ,
đất nhà thờ Thái Hà ở Hà Nội, Giáo Hoàng Chủng Viện Pio X ở Đà Lạt. Riêng đất
thuộc khu Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang, Quảng Trị, đã được hứa trả lại một phần
lớn, nhưng cho tới nay thủ tục trao trả vẫn chưa được ấn định. Nếu tính tất cả
tài sản của Giáo Hội từ Bắc chí Nam bị trưng thu từ 1954 tới nay thì còn nhiều
vô số kể. Nhà nước trao trả nhỏ giọt một cách khó khăn. Giáo Hội cũng không dám
đòi hết, chỉ xin lại những gì cần thiết để xử dụng hay qúy giá về phương diện
tin thần.
Xem như vậy, Giáo
Hội Công Giáo Việt Nam mới được vuốt ve và trấn an theo kiểu chích thuốc gây tê
cho bớt đau, cấm đoán và kiểm soát ngặt nghèo vẫn còn đó. Giáo Hội mới được
hưởng một số tiện nghi bề ngoài, chưa được giải phóng về căn bản.
Trong tình trạng khó
khăn như vậy, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đối phó ra sao? Bề ngoài, người ta
thấy các vị có vẻ nhẫn nhục chịu đựng hoàn cảnh. Lần lên tiếng duy nhất của Hội
Đồng với nhà nước là bức thư “kín hở” năm 2002 đặt một số vấn đề nguyên tắc. Một
số vị chủ chăn, với tính cách riêng rẽ, chỉ lên tiếng đòi lại cơ sở đất đai
thuộc giáo phận mình bị chiếm. Chỉ riêng việc đòi khu Tòa Khâm Sứ cũ tại Hà Nội
là có một số giám mục cùng chung tiếng ủng hộ. Ngoài ra, các vị không hề lên
tiếng về các vấn đề căn bản như quyền tự do quản trị nội bộ Giáo Hội, quyền tự
do đào tạo, phong chức và bổ nhiệm các giáo sĩ và các vị lãnh đạo cao cấp, chưa
nói tới việc đòi hỏi quyền được sống xứng đáng với phẩm giá con người cho toàn
dân.
Trên thực tế, các vị
không ngồi khoanh tay bất động như nhiều người tưởng. Chính một số vị trong Hội
Đồng cho biết các vị vẫn tranh đấu một cách âm thầm theo phương thức đối thoại,
thay vì đối đầu với nhà cầm quyền. Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt còn tin rằng
“với thiện chí và với khả năng đối thoại
thì tất cả mọi sự sẽ được giải quyết một cách tốt đẹp” (Vietcatholic.net,
12-03-2005). Kết qủa ra sao, thực tế đã trả lời. Dĩ nhiên các vị lãnh đạo Giáo
Hội phải lựa thời lựa thế, tìm cách thích ứng với hoàn cảnh để đưa con thuyền
Giáo Hội đi giữa những phong ba, thác ghềnh. Tuy nhiên, sự nhẫn nhục qúa đáng đi
đôi với sự nể vì nhà nước, sợ nhà nước không ban phát thêm những ân huệ, đã
khiến cho giáo dân bức súc và làm cho đồng bào không Công Giáo nhìn Giáo Hội
bằng con mắt nghi ngờ, thiếu kính phục.
Phải công nhận rằng
thái độ và hành động hòa hoãn, kiên nhẫn của qúy vị có đem lại một số cải thiện
cho điều kiện sinh hoạt của Giáo Hội, nhưng cũng không tránh khỏi những chỉ
trích là các vị đã không làm tròn vai trò ngôn sứ nói lên sự thật và tiếng lương
tâm, tránh né những vấn đề nhạy cảm dễ làm mất lòng nhà nước, kể cả việc bênh
vực những giáo sĩ bị bắt, bị quản thúc một cách oan ức theo luật đời và vô tội
theo luật đạo (vì nếu có tội, tại sao không chế tài theo luật Giáo Hội?). Có vị
viện tới sự soi sáng của Chúa Thánh Linh để biện minh cho những hành động của
mình. Dĩ nhiên, tin Chúa thì trông cậy vào Chúa, hành động theo cách mình cho là
đẹp ý Chúa. Nhưng có phải lúc nào cũng biết làm theo đúng ý Chúa, hay theo ý
mình rồi cho là ý Chúa? Chúa có soi sáng cho việc tuyên bố và viết sách ca tụng
đảng cộng sản không? Chúa có soi sáng việc cho phép các linh mục ra ứng cử đại
biểu quốc hội vi phạm Giáo Luật điều 285 không? Chúa có dậy phải im lặng trước
việc vi phạm nhân quyền, trước những bất công xã hội và sa đọa luân lý không? Sở
dĩ Giáo Hội còn tồn tại là vì, may thay, vẫn còn những vị chủ chăn thánh thiện,
dám làm dù chưa dám nói. Điều khó là tâm trạng nghi ngờ, cộng thêm thái độ nể
nang trong Hội Đồng Giám Mục, khiến nhiều vấn đề không được đưa ra hoặc không
được thảo luận thẳng thắn đến nơi đến chốn, từ đó mới có tình trạng nương vào
trách nhiệm tập thể để tránh né trách nhiệm cá nhân.
Dư luận rất thắc mắc
về thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn mới đây về vấn đề cờ vàng ba sọc đỏ tại Ngày
Đại Hội Giới Trẻ tại Sydney vào tháng 07/08. Ngài cho rằng lá cờ này là một trở
ngại cho việc hiệp thông giữa những người trẻ trong và ngoài nước. Ai cũng hiểu
ý ngài là không muốn có lá cờ vàng trong ngày đại hội. Như vậy sẽ chỉ còn cờ đỏ
sao vàng. Cờ đỏ sao vàng, dù được công nhận về chính trị theo công pháp quốc tế,
không được chấp nhận như một biểu tượng cho giới trẻ VN hải ngoại. Đây là một
vấn đề nhậy cảm, có tính cách chính trị và liên quan tới sự khác biệt ý thức hệ.
Một vị lãnh đạo tôn giáo cấp cao như hồng y không nên dính vào. Hãy đứng ở trên
tất cả để dậy lời Chúa và tìm ra một cách thức phi chính trị để những người trẻ
VN trong và ngoài nước gặp gỡ nhau, hiệp thông với nhau. Đừng nên khơi ra những
khác biệt chính kiến trong một biến cố tôn giáo kẻo sẽ bị suy diễn là vô tâm,
hoặc phục vụ chính sách kiều vận của nhà nước VN và chỉ rước lấy những hậu qủa
trái ngược (effets contraires).
Chúng ta là những
giáo dân, là những con chiên nhỏ bé, có truyền thống vâng phục và nương tựa vào
những vị chủ chăn. Nhưng một khi chủ chăn không dậy những điều đáp ứng với thời
thế, đương đầu với sói lang, khi chủ chăn không bảo vệ con chiên, mặc cho con
chiên bị bắt bớ, mặc cho tượng thờ bị đập phá, thì chủ chăn có làm bổn phận
“hy sinh mạng sống vì đoàn chiên” như
Chúa dậy hay không? Sự lên tiếng của chúng ta không có nghiã là chỉ trích, báng
bổ, mà chỉ như những lời than phiền, rên xiết của đoàn chiên về những gì đoàn
chiên đang phải chịu. Dù những lời rên xiết này không lọt tai những vị hữu trách
của Giáo Hội thì cũng phải đến tai Thiên Chúa, nếu chúng ta biết cầu nguyện và
trông cậy.
Qua 15 cuộc gặp gỡ
giữa phái đoàn Tòa Thánh và nhà cầm quyền Hà Nội, chúng ta thấy đường lối can
thiệp của Vatican được tóm gọn trong mấy điểm sau đây:
1/ Cố gắng
duy trì liên lạc và đối thoại với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam,
2/ Không
can thiệp những việc có liên quan xa gần đến chính trị (vụ nhà thờ Vinh Sơn, vụ
Cha Nguyễn Văn Lý…). Không đề cập những vấn đề nhậy cảm đối với chính quyền, như
nhân quyền, bất công xã hội,
3/ Quan
tâm giữ cho Giáo Hội Việt Nam được hiệp thông với Tòa Thánh, với Giáo Hội hoàn
vũ, không trở thành một giáo hội quốc doanh. Cụ thể là các vị chủ chăn cầm đầu
giáo hội địa phương phải được Giáo Hoàng La Mã bổ nhiệm,
4/ Can
thiệp cho những vấn đề thuần túy tôn giáo để giúp Giáo Hội Việt Nam được sinh
hoạt bình thường và có điều kiện phát triển, như giảng đạo, đào tạo nhân sự, xây
cất cơ sở…
Vatican không làm áp
lực với Hà Nội, chỉ dùng ảnh hưởng tinh thần để thuyết phục người đối thoại chấp
nhận những điều hợp lý. Tuy nhiên, Vatican tuy không dùng võ khí chính trị nhưng
vẫn tế nhị xử dụng những hành động phản đối của Linh mục Lý cũng như của các
giáo sĩ và giáo dân trong lẫn ngoài nước để làm lợi khí điều đình với nhà cầm
quyền cộng sản. Tất cả mọi hành vi phản kháng, vận động, dù không đem lại kết
qủa trực tiếp tức thời , cũng sẽ được xử dụng một cách gián tiếp, lúc này hay
lúc khác, để làm áp lực trên đối phương trong những cuộc mặc cả. Chúng ta đừng
quên rằng chính phủ Hoa Kỳ đã nhiều lần dùng khí thế chống cộng của người Mỹ gốc
Việt như một lý do để hù họa, đòi hỏi hoặc từ chối trong các cuộc điều đình với
cộng sản Việt Nam.
Lần này, theo Đức
Ông Barnabê Nguyễn Văn Phương, một nhân vật cao cấp của Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh,
phái đoàn Vatican đến Việt Nam vào tháng 6, ngoài việc thảo luận việc bổ nhiệm
một số giám mục mới, còn có việc nói chuyện về đất đai. Người ta nghĩ vụ Tòa
Khâm Sứ, Thánh địa La Vang, Giáo Hoàng Học Viện sẽ được đề cập. Việc thiết lập
quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Hà Nội cũng có thể được bàn luận. Có quan hệ
ngoại giao không có nghiã là có tự do hoàn toàn cho Giáo Hội, nhưng Tòa Thánh sẽ
có lợi thế trong việc đặt đại diện thường trực tại chỗ để nhìn tận mắt, xét đoán
tình hình, can thiệp và điều đình khi cần, không phải chờ phái đoàn từ Vatican
mỗi năm đến một lần. Về phiá nhà cầm quyền, bang giao chỉ giúp họ được tiếng là
đã được “chơi” với một thế lực tinh thần quan trọng của nhân loại, đã tiến thêm
một bước trong việc hội nhập toàn cầu và tuyên truyền cho chính sách tôn giáo
của họ. Tuy nhiên, họ rất e ngại sự hiện diện thường xuyên của đại diện Tòa
Thánh. Đó là lý do họ kéo dài việc điều đình để đòi cho được những điều kiện bảo
đảm quyền toàn trị mà họ đang nắm giữ. Ngoài ra, phái đoàn cũng đặt vấn đề Giáo
Hội phải được đóng góp vào việc xây dựng đất nước, đặc biệt trong lãnh vực xã
hội và giáo dục để xoa dịu phần nào những đau khổ của nhưỡng người bị gạt bên lề
xã hội và đào tạo những công dân tốt, những nhân tài cho đất nước. Hiện nay Giáo
Hội chỉ được phép mở lớp dậy trẻ em cấp tiền mẫu giáo dưới 5 tuổi.
Phái đoàn điều đình
lần thứ 15 này do Đức Ông Pietro Parolin, Thứ Trưởng Ngoại Giao Tòa Thánh, hướng
dẫn, đã thảo luận với các viên chức của nhà cầm quyền Hà Nội trọn ngày 10/06/08,
sau đó đi thăm Huế, La Vang, Đà Lạt và từ Sài Gòn về lại Roma ngày 16/06/08.
Theo thông cáo chính thức của phái đoàn được phổ biến ngày 18/06/08, phái đoàn
đã có các phiên họp làm việc với Ban Tôn Giáo của chính phủ do ông Trưởng Ban
Nguyễn Thế Doanh cầm đầu, trong không khí thẳng thắn và thân mật. Đề tài thảo
luận là việc bổ nhiệm các giám mục, trao trả từ từ các tài sản của Giáo Hội, sự
đóng góp vào việc thăng tiến con người, liên đới với những tầng lớp yếu thế nhất
trong dân chúng, giáo dục luân lý cho các thế hệ trẻ. Không có một kết quả nào
được công bố, kể cả việc họp với Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội để thảo luận vụ
tòa Khâm Sứ. Về vấn đề này, bản thông cáo ngầm ý cho biết hai bên vẫn còn đang
tìm kiếm những giải pháp thích hợp. Phái đoàn cũng được Phó Thủ Tướng kiêm Bộ
trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm tiếp kiến. Vấn đề quan hệ ngoại giao được nêu
lên, “hai bên dự kiến rằng Nhóm Làm Việc,
với nhiệm vụ xác định thời gian và thể thức, sẽ khởi sự công việc sớm nhất trong
thời gian tới đây”. Trừ việc bổ nhiệm các giám mục còn được giữ kín, người
ta thấy cuộc điều đình lần này không đạt được kết qủa nào cụ thể. Việc trao trả
toà Khâm Sứ chưa bàn xong. Việc hoàn trả Giáo Hoàng Học viện Đà Lạt chưa bàn
tới. Yêu cầu đóng góp vào lãnh vực xã hội và giáo dục chưa được trả lời. Việc
bang giao còn trong giai đoạn nghiên cứu và ủy ban nghiên cứu cũng chưa nhóm họp
phiên nào. Có thể nói phái đoàn Tòa Thánh ra về gần như tay không, khiến giới
quan sát càng thêm thắc mắc tại sao cả ba vị tổng giám mục của ba tổng giáo phận
trên toàn quốc đều đi ra khỏi nước trong thời gian phái đoàn Vatican điều đình
và thăm viếng tại VN. Phải chăng đó là một sự tình cờ có hậu ý?
Không ai có thể phủ
nhận sự liên hệ chặt chẽ giữa Giáo Hội và đất nước. Không có đất nước Việt Nam
thì không có Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Giáo Hội cùng nổi trôi với vận nước.
Khi đất nước bị kềm kẹp thì Giáo Hội cũng không thoát khỏi gọng kềm. Khi gọng
kềm được mở rộng ra dần, Giáo Hội cũng được dễ thở theo. Tuy nhiên, Giáo Hội
không thể đóng vai thụ động, mặc cho tình thế đưa đẩy. Giáo Hội không có sứ mạng
thay đổi thể chế chính trị, nhưng có bổn phận cải tiến xã hội. Những người cầm
quyền hiện tại đang áp dụng một mô thức quản trị xã hội theo hai chiều trái
ngược. Một mặt, họ giải phóng sinh hoạt kinh tế (trừ quy hoạch vĩ mô và cái đuôi
‘định hướng xã hội chủ nghiã’), nhờ đó kinh tế có phát triển, giảm bớt nghèo
đói, nhưng đồng thời cũng tạo ra những bất công, hố ngăn cách giầu nghèo ngày
càng mở rộng, những tệ nạn gia tăng, đặc biệt nạn tham nhũng và suy thoái luân
lý. Mặt khác, về phương diện chính trị, họ vẫn duy trì chế độ độc tài toàn trị,
tiếp tục trấn áp mọi quyền tự do căn bản của con người. Có thể nói, con người
trong xã hội Việt Nam hiện nay mặc nhiên chia thành hai phe. Phe theo chính
quyền vì dinh líu quyền lợi hơn là vì ý thức hệ. Họ là thiểu số, nhưng có quyền
và có tiền nên vẫn nắm nhiều thế lực. Phe chống, công khai hay thầm lặng, gồm đa
số nhân dân, bất mãn vì bị tước đoạt tự do, vì thấy trước mắt những bất công, và
nhiều khi là nạn nhân của bất công. Tình trạng này đã tạo nên một khát vọng và
một khuynh hướng hình thành một xã hội công dân có khả năng bảo vệ quyền lợi của
mình, thực hiện một nếp sống dân chủ, công bằng và nhân ái. Có những dấu hiệu
cho thấy khuynh hướng này ngày càng lớn mạnh và không thể đảo ngược. Câu hỏi đặt
ra cho Giáo Hội là Giáo Hội đứng vào phe nào? Muốn đồng hành với khuynh hướng
tiến bộ của đa số thành phần dân tộc hay vẫn muốn bám cứng thế lực thủ cựu để
bảo vệ những gì đã thụ đắc? Đây không phải là thái độ chính trị ủng hộ hay chống
đối, nhưng là môt lựa chọn có tính cách luân lý xã hội. Nếu Giáo Hội biết dùng
sức mạnh tinh thần của mình để tác động trên những biến chuyển theo chiều hướng
tốt thì những biến chuyển đó sẽ đạt thành qủa mau hơn và to lớn hơn. Đổi lại,
khi tình hình đất nước được cải thiện, Giáo Hội cũng sẽ có những điều kiện thuận
lợi để phát triển một cách tự do và lành mạnh hơn, lại không bị mang tiếng là
không đoàn kết liên đới trong cuộc tranh đấu chung của đại khối dân tộc.
Khẩu hiệu “sống giữa
lòng dân tộc” không có nghiã chỉ sống với những người có quyền, có tiền, mà ưu
tiên phải sống với những người nghèo khổ, những người bị áp bức, bị đối xử bất
công. Khi Giáo Hội hành động như vậy, lời rao giảng Tin Mừng mới dễ được đón
nhận vì Giáo Hội đã triển dương công lý và bác ái bằng hành động. Không cần phải
ra mặt chống đối chính quyền, vẫn có thể tiếp tục đối thoại và hợp tác khi những
quyền lợi của Giáo Hội được tôn trọng. Tuy nhiên, Giáo Hội không nên đầu tư bằng
uy tín và danh dự của mình vào cửa đang bị nguyền rủa và có triệu chứng ngày
càng mất dần quyền lực.
Một số người cho
rằng giáo dân Việt Nam ở hải ngoại chỉ biết làm hai việc: góp tiền và chỉ trích.
Nếu góp tiền bừa bãi để làm hư một số tu sĩ, để xây cất những cơ sở không cần
thiết như một thách thức với dân nghèo và với những tôn giáo khác; nếu chỉ trích
chỉ nhằm đả phá, gây chia rẽ, thì những việc này nên được chấm dứt càng sớm càng
tốt. Tuy nhiên, nếu chỉ muốn người ta góp tiền mà không cho góp ý thì thiếu công
bằng và có vẻ chơi không đẹp. Việc yểm trợ từ ngoài vào trong vẫn có mặt tích
cực và vẫn cần thiết, nếu được thực hiện một cách hữu lý và hữu hiệu.
1/ Yểm trợ
tài chánh: không ai có thể phủ nhận việc yểm trợ tài chánh của giáo dân hải
ngoại đã giúp Giáo Hội trong nước xây dựng được rất nhiều thánh đường, cơ sở
hoạt động và thực hiện những chương trình hữu ích. Vấn đề đặt ra là cần sự cộng
tác giữa trong và ngoài để điều hợp việc phân phối ngân khoản cho hợp lý, tránh
phí phạm, tránh dồn vào chỗ đã có qúa nhiều trong khi tại những vùng sâu, vùng
xa, chủ chăn và giáo dân vẫn phải tiếp tục sống đạo trong những điều kiện thiếu
thốn. Cách quyên góp ở nước ngoài cũng nên được xét lại để tránh những cảnh
không đẹp, có thể làm mất uy tín của các chủ chăn. Nhiều người ở hải ngoại đã
nêu vấn đề phối hợp quyên góp và phân phối, nhưng cho đến nay, các vị hữu trách
trong nước vẫn giữ im lặng, không đáp ứng.
2/ Yểm trợ
tinh thần và ngoại vận: mỗi khi Giáo Hội trong nước bị đàn áp, bị bắt bớ, bị
cướp tài sản, người ở ngoài khi biết tin, không cần chờ trong nước yêu cầu, vẫn
mau mắn lên tiếng bênh vực nạn nhân, tố cáo những vi phạm, vận động dư luận, các
chính quyền, các cơ quan quốc tế, để nhờ họ can thiệp với nhà cầm quyền Việt
Nam. Có khi đạt kết qủa. Có khi không. Tuy nhiên, phải nhìn nhận yểm trợ bằng
lên tiếng và vận động đã góp một phần không nhỏ vào việc thay đổi cách ứng xử
của nhà cầm quyền và khiến họ phải suy nghĩ kỹ hơn khi muốn lấy quyết định đàn
áp mới. Điều đáng phàn nàn là khi trong nước cần bên ngoài yểm trợ thì thúc đẩy
tận tình. Khi không cần, thì lại sẵn sàng “giung giăng giung giẻ” với cộng sản.
Những hành động ca tụng cộng sản, hãnh diện nhận huy chương của cộng sản, chỉ
trích người ở ngoài là qúa khích, đòi hỏi qúa nhiều về chính trị, thật sự là
những cái tát vào mặt những người đã rút từng đồng tiền tiết kiệm gửi về và chạy
xuôi chạy ngược để vận động cho lợi ích của anh chị em ở quê nhà.
3/ Yểm trợ
ý kiến: khi thấy những điều vô lý, những điều chướng tai gai mắt, nhiều giáo dân
hải ngoại đã lên tiếng. Đôi khi có những lời nói qúa, có thể gây tổn thương.
Nhưng đa số là những phát biểu có tính cách phân tích tình trạng, trình bầy cái
nhìn khách quan từ bên ngoài, cho biết những phản ứng của giáo dân (nguồn yểm
trợ tinh thần và vật chất), và luôn luôn đưa những đề nghị xây dựng nhằm cải
thiện tình trạng. Giáo dân trong nước không có điều kiện nói. Hầu hết giáo sĩ cả
trong lẫn ngoài không dám nói. Khi giáo dân hải ngoại lên tiếng thì bị kết án là
“chống cha chống Chúa”, bị một vài đấng bậc viết bài chửi xéo hoặc xúi một số
người viết những bài phản bác, đôi khi chửi bới, rất thiếu trình độ và tư cách.
Điều đáng buồn là không có đối thoại vì không có lý luận giá trị, chỉ có chụp mũ
và kết án. Sau một hồi điều qua tiếng lại, giáo dân hải ngoại đã ngưng việc
tranh cãi và đề nghị các vị hữu trách của Giáo Hội trong nước mở những cuộc đối
thoại nghiêm chỉnh để tạo tình thông cảm và tìm sự thật khách quan. Qúy vị vẫn
im lặng, không đáp ứng, trong khi qúy vị vẫn luôn đề cao việc đối thoại với nhà
cầm quyền. Hành động của các vị làm người ta có cảm tưởng các vị chỉ muốn đối
thoại với “người trên”, người có quyền, không muốn đối thoại với “người dưới”.
Điều này đã làm uổng phí không ít những tài nguyên chất xám của giáo dân hải
ngoại muốn cống hiến cho Giáo Hội trong nước.
Tuy có những điều
đáng phàn nàn như thế, bổn phận của chúng ta là vẫn phải tiếp tay yểm trợ và xây
dựng Giáo Hội quê nhà qua ba việc trên, dĩ nhiên bằng cách hữu lý và hữu hiệu.
Tích cực hơn nữa, chúng ta phải tìm cách tham dự vào tiến trình thay đổi của đất
nước và thúc đẩy Giáo Hội đồng hành với sự chuyển mình của dân tộc. Tham dự và
thúc đẩy cách nào, đó là việc phải thảo luận. Tương lai của đất nước và tương
lai của Giáo Hội không cho phép chúng ta bất động nhìn Giáo Hội đứng bên lề của
cuộc chuyển mình đang diễn ra.
Khi nhìn về thực
trạng của Giáo Hội và quê hương, chúng ta thấy giữa những điểm đen, có rất nhiều
điềm hy vọng. Tuổi trẻ Việt Nam đã bắt đầu thức tỉnh và vượt qua sự sợ hãi. Công
nhân và nông dân đã ý thức quyền lợi của mình. Trí thức đã dám phê bình và bàn
tới những giải pháp tương lai. Hàng ngàn người đã công khai ký tên đứng vào hàng
ngũ tranh đấu cho tự do dân chủ. Tôi muốn nói đến Khối 8406. Trong Giáo Hội,
nhiều linh mục và nam nữ tu sĩ trẻ đã dấn thân phục vụ những đồng bào nghèo khổ,
bệnh tật, thiếu may mắn. Họ sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, thiếu thốn khi đi
rao giảng lời Chúa tại những vùng xa xôi, nghèo đói, chậm tiến, thiếu đủ mọi thứ
tiện nghi. Công việc của họ cần phải được giúp đỡ ưu tiên. Những dấu hiệu hy
vọng này giúp chúng ta tin tưởng rằng ngày Giáo Hội và quê hương được đổi mới,
đồng bào được sống trong tự do, nhân phẩm và tình người, sẽ không còn xa. Chúng
ta đặt niềm tin nơi Thiên Chúa và niềm kỳ vọng vào thế hệ trẻ đang lên.
OAN THỊ KÍNH
Người Việt Nam “tiền
cộng sản” không mấy ai không biết truyện Thị Kính, Thị Mầu. Thị Kính giả trai đi
tu chùa (chắc để tránh sexual harassment), sớm kinh tối kệ rất ngoan hiền. Thị
Mầu lẳng lơ nên đeo thúng trước bụng. Bị làng tra hỏi tác giả của cái thúng, Thị
Mầu khai đại là chú tiểu Kính. Đến ngày khai hoa nở nhụy, Thị Mầu vác trẻ sơ
sinh đến chùa “trả” cho chú Kính. Chú Kính không nói một lời, ẵm trẻ vô chùa
nuôi nấng. Khi chú Kính lià trần, lúc tẩm liệm, người ta mới biết chú Kính là
phụ nữ. Từ đó tục ngữ Việt Nam mới có câu “Oan Thị Kính”.
Giới trẻ Công Giáo
Việt Nam hải ngoại chưa đi dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008 ở Sydney, Úc, đã bị
mắc oan Thị Kính rồi. Họ bị tiên thiên kết án là
“làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của
các bạn trẻ VN” nếu họ vác cờ vàng ba sọc đỏ đến Sydney. Trong “Tiếng Vọng
Gioan Baotixita” tháng 4, 2008, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn gửi một thư ngỏ cho 3
vị giám mục trong nước (chắc là 3 vị sẽ hướng dẫn phái đoàn từ VN), nhưng chủ
tâm là phổ biến ra nước ngoài. Nội dung thư ngỏ cho biết Ngài rất bận công tác
mục vụ di dân, nhưng nể tình Đức Hồng Y G. Pell năn nỉ, Ngài sẽ đi dự Đại Hội
Giới Trẻ ở Sydney vào mùa hè này với tư cách cá nhân. Vì thế Ngài mới lo ngại
bọn trẻ VN hải ngoại, như những lần trước ở Pháp, Canada, Đức, lại vác cờ vàng
ba sọc đỏ đến đại hội, sẽ làm tắc nghẽn sự hiệp thông với những người trẻ đến từ
VN.
Tội cho bọn trẻ hải
ngoại qúa Đức Ngài ơi! Tụi nó chắt bóp dành từng xu để đi hiệp thông với giới
trẻ thế giới và để hâm nóng đức tin. Tụi nó có muốn ngăn chặn hiệp thông với ai
đâu? Tụi nó có muốn đem cờ quốc gia đi đấu với cờ cộng sản đâu? Mỗi phái đoàn
đều có lá cờ biểu tượng của mình. Phái đoàn từ VN sang cứ việc trưng cờ đỏ sao
vàng. Nếu không muốn hay không dám trưng là quyền của họ. Chẳng lẽ vì thế mà bắt
phái đoàn VN hải ngoại phải đi chân tay không để nhập đoàn hay sao? Họ cũng có
lá cờ riêng của họ chứ. Cả thế giới (trừ chính phủ cộng sản VN) chẳng ai phiền
lòng về việc trưng lá cờ này, cớ chi Đức Ngài phải thắc mắc qúa thể như vậy? Nếu
muốn cho giới trẻ trong và ngoài nước gặp nhau để tìm hiệp thông và cùng cầu
nguyện bằng tiếng mẹ đẻ, các vị giám mục và linh mục hướng dẫn có thiếu gì cách
khôn ngoan để thực hiện việc này. Tuổi trẻ vốn ham vui, thích kết đoàn, gặp nhau
là sáp lại ngay. Chính người lớn làm cho tụi trẻ e ngại, nghi ngờ nhau. Người
lớn mới hay đặt vấn đề vì lập trường khác biệt, vì “ăn cây nào rào cây nấy”, vì
bị áp lực, vì sợ bị kết án mất lập trường, nên mới đè đầu lũ trẻ mà đổ tội cho
chúng.
Đức Hồng Y còn dậy
thêm: “Người mẹ VN, lúc mặc áo vàng (cờ
vàng), lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ), lúc mặc áo lành, lúc mặc áo rách, vẫn là người mẹ
đã dày công sinh thành dưỡng dục con dân VN, vẫn là người mẹ đã để lại cho dân
tộc VN một di sản vô giá”. Đức Ngài ơi! Người mẹ với cái áo là hai chuyện
khác nhau. Bắt mẹ mặc cái áo mẹ không thích có phải là ơn trả nghiã đền với mẹ
không? Thằng con thích áo mẹ mầu đỏ có thể kết án thằng con thích áo mẹ mầu vàng
là bất hiếu được không? Chưa chắc thằng nào yêu mẹ hơn thằng nào. Yêu mẹ vì mẹ
là mẹ chứ không phải vì mầu áo của mẹ hoặc áo mẹ lành hay rách. Nếu mỗi thằng
khăng khăng đòi mặc một mầu áo khác cho mẹ là gia đình có vấn đề. Hãy tìm phương
cứu chữa tận căn bản. Giảng luân lý xuông không giải quyết được gì.
Đức Hồng Y thuyết
thêm rằng Giáo Hội Công Giáo chưa bao giờ được xây trên nền tảng một chủ nghiã
thế trần, dù tư bản, cộng sản hay quốc gia, vì những chủ nghiã tạo nên sự đối
kháng và loại trừ nhau trong lòng một dân tộc, trong hàng ngũ con cái chung một
mẹ. Mọi người là con một Cha, anh em chung một nhà, tình huynh đệ giữa đồng bào
có thể phát huy trên cơ sở một sắc tộc và một nền văn hóa dân tộc.
Thưa đúng như vậy.
Giáo Hội không dựa vào chủ nghiã nào. Nhưng Giáo Hội được sống trong chủ nghiã
quốc gia có đỡ khổ hơn sống trong chủ nghiã cộng sản không? Tại sao Đức cố Giáo
Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị lại phải giúp dân Ba Lan thay đổi chế độ nhỉ? Giáo Hội
gặp chủ nghiã nào cũng phải sống với chủ nghiã đó, nhưng không thể sống theo
kiểu đồng lõa với chủ nghiã bằng cách im lặng trước những tội ác và bất công.
Giáo Hội phải sống vì con người. Còn nói đến tình huynh đệ, anh em một nhà, con
một Cha, cùng giòng giống, cùng văn hóa, thì điệp khúc này đã được ca hơi nhiều.
Người Việt ở nước ngoài không thiếu những tình cảm này. Họ yêu anh em đồng bào ở
trong nước “hết lòng, hết sức, hết trí khôn”. Chẳng vậy mà hàng năm họ gửi về
cho anh em gần chục tỷ đô la, mỗi khi thấy anh em bị ăn hiếp là họ chạy đôn chạy
đáo, bớ làng bớ xóm để hô thiên hạ đến cứu anh em. Họ chỉ chống những người làm
khổ anh em thôi.
Kẻ viết bài này ở
gần bọn trẻ hải ngoại khá lâu, nên cũng hiểu kha khá tâm lý của bọn chúng. Vậy
xin mách Đức Ngài một kế mọn để thuyết phục tụi nó. Ngài cứ nói nhỏ với tụi nó
thế này: “Các con ơi! Các con có thương
cha thì đừng vác cờ vàng ba sọc đỏ chụp hình chung với cha. Thú thiệt với các
con là việc này sẽ gây rầy rà cho cha lắm”. Ngài ca vọng cổ như thế may ra
tụi nó sẽ mủi lòng vì nghĩ rằng Ngài nói thiệt. Còn cứ rào đón, chặn trước chặn
sau, bắn xéo bắn xiên, khi này khi khác là tụi nó không chịu đâu. Tụi nó đã qúa
ớn cái trò này của cộng sản rồi. Tụi nó cũng đã thuộc lòng câu ca dao mới:
Khi Thị Kính, khi Thị Mầu