Vài suy nghĩ chia sẻ với
Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Kỳ III

Đaminh Trần Ngọc Vân

            Đôi lời tâm tình của người viết: Bài chia sẻ này tôi không viết với tư cách một ký giả, một người làm văn, mà với tư cách một công dân Việt Nam được nuôi dưỡng trong niềm tin Công Giáo và may mắn đang được sống trên một đất nước tự do. Tôi đã cầu nguyện xin ơn soi dẫn của Chúa Thánh Linh để có được một tâm hồn thanh thản và thái độ khách quan tối đa khi viết những dòng này gửi những anh chị em phụ trách phần nội dung Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Việt Nam kỳ III.
        Đây là những suy tư bỏng cháy và chân thật rút ra từ những thực chứng xoay quanh biết bao vấn đề thời sự đang diễn ra từng ngày, từng giờ trong lòng Giáo Hội và Quê Hương Việt Nam chúng ta hôm nay. Nó phản ánh niềm khát khao được sống với phẩm giá con người, được tự do sống đạo và hành đạo của hơn 7 triệu đồng bào Công Giáo ở quê nhà, trong đó bao gồm đông đảo những người trẻ. Tất cả được khơi gợi từ những bản tin thời sự, những bài nhận định, những suy tư sâu sắc của những chi thể trong Giáo Hội, bao gồm mọi thành phần Dân Chúa, -từ giáo dân, tu sĩ, linh mục tới giám mục. Không phải đâu xa mà được trích đăng ngay trên NS Diễn Đàn Giáo Dân số 91 phát hành tháng 6-2009 mà độc giả đang có trên tay và những số báo gần đây.


        Suy nghĩ về chủ đề Đại Hội:
        Be Not Afraid – Đừng Sợ!
        Cũng như thời Chúa Giêsu, con người ngày nay có nhiều thứ để sợ. Ngoài nỗi sợ bẩm sinh như tham sống, sợ chết, ưa nhàn, sợ khó, sợ khổ, sợ sống ngay lành, thánh thiện, không được chạy theo những tham vọng, những ham muốn trần thế…, con người còn mang nỗi sợ hãi trước những cạm bẫy, những đe dọa của bạo lực do chính con người gây ra.
        Đối với 85 triệu đồng bào, trong số bao gồm hơn 7 triệu đồng đạo trên quê hương, hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi cộng sản áp đặt một thể chế độc tài độc đảng, thì nỗi sợ hãi đã trở thành một căn bệnh trầm kha. Trong khi ấy, tập thể người Việt ở hải ngoại cũng bị ám ảnh bởi những nỗi sợ vu vơ. Sợ thất nghiệp, sợ không có công ăn việc làm để lo sinh kế cho bản thân, cho gia đình. Sợ con cái hư hỏng trước lối sống xô bồ, cuồng vội, thiên trọng về vật chất của xã hội tây phương. Sợ động đất. Sợ lụt lội. Sợ cuồng phong. Sợ khủng bố… Sợ nghị quyết 36 với với bàn tay bạch tuộc nối dài nhằm săn đuổi người tị nạn của nhà nước cộng sản Việt Nam. Tệ hơn nữa là không ít người –trong số bao gồm cả các tu sĩ, linh mục- còn sợ không dám tham gia những cuộc mít tinh, biểu tình chống lại sự ác chỉ vì e ngại bị Hànội cản trở ý định “áo gấm về quê”! Bên cạnh nỗi sợ hãi mang tính vật thể ấy, còn có những người sợ không dám xưng mình là người Công giáo trước đám đông, sợ sống đạo đức, thánh thiện, sợ phải tiết chế lối sống ăn chơi, buông thả.
        Chính từ cái thực trạng ấy, việc anh em chọn chủ đề “Đừng Sợ - Be Not Afraid!” cho Đại Hội Kỳ III khai diễn đầu tháng 7 năm nay, thật là sáng suốt, chính đáng, đúng lúc và đúng chỗ.
        Hơn hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã được Chúa Cha sai đến để cứu độ trần gian. Trước khi chấp nhận khổ hình Thập giá, trong suốt ba năm cuộc sống công khai, mỗi lần lên tiếng trước các môn đệ hoặc đám đông dân chúng, Người không ngớt trấn an mọi người “đừng sợ” bất cứ điều gì, kể cả cái chết. Bởi vì, theo Chúa Giêsu: “Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không hủy diệt được linh hồn”.
        Đọc trong những posters quảng bá Đại Hội đăng trên bìa hai nguyệt san DĐGD số 90 phát hành tháng 5-2009 và lá thư chào mừng các tham dự viên nơi trang 80, người ta thấy:
        * Những khẩu hiệu:
        Be Not Afraid to pursue the life of Faith!
        Be Not Afraid to trust God!
        Be Not Afraid to stand for the right value!
        “Đừng Sợ! Cứ nói đi… vì Thày ở với con” (Act CV: 18. 9-10)
        * Và những mục tiêu do Đại Hội đề ra, bao gồm:
        Để gặp gỡ những kỷ niệm một thời
        Để nhận thấy tình yêu Chúa bao la
        Để dấu ấn tình yêu Kitô luôn in hằn trong trái tim mình
        Và để tìm lại nguồn bình an thực sự nơi mỗi người trẻ chúng ta…

        Từ những khẩu hiệu tới những mục tiêu… tuồng như chỉ mang tính chung chung, chưa nói lên được những trọng điểm cụ thể mà Đại Hội giới trẻ kỳ này nhắm tới, và nhất là những gì tập thể người tín hữu Công Giáo ở hải ngoại chờ đợi nơi những người trẻ chiếu theo những vấn đề thời sự đang diễn ra từng ngày từng giờ trong lòng Giáo hội và Quê hương hôm nay.
        Nhìn vào thành phần các diễn giả trong ba ngày Đại Hội, chúng tôi đọc được danh tính những vị sau đây:
        Linh mục Đồng Minh Quang, Linh mục Nguyễn Bá Thông, Linh mục Nguyễn Hoài Chương, S.D.B, Linh mục Nguyễn Tầm Thường, S.J, Linh mục Nguyễn Trường Luân, C.S.s.R, Linh mục Nguyễn Uy Sĩ, Linh mục Nguyễn Văn Thanh, S.V.D, Sư huynh Rufino Zaragoza, O.F.M, Sư huynh Trần An Phong, F.S.C, Linh mục Trần Công Danh, S.D.B.
        Xét về thành phần, ta thấy trong số 9 diễn giả có 7 linh mục và hai sư huynh.
        Không có nữ tu và cũng vắng bóng giáo dân.
        Trong cả hai bích chương, chúng tôi không thấy liệt kê nội dung các đề tài thuyết trình và thảo luận trong Đại Hội. Tuy nhiên, với sự hiện diện:
           * của linh mục Nguyễn Trọng Tước (tức nhà văn, nhà thơ Nguyễn Tầm Thường), người từng có dịp đi về Việt Nam và trong quá khứ không xa đã viết những bài gói ghém trọn vẹn mối băn khoăn thao thức của cha về những nan đề trong Giáo hội quê nhà hiện nay.
        * của linh mục Nguyễn Uy Sỹ, Giám đốc Trung tam CGVN giáo phận Orange, người mục tử từng công khai nói lên những tiếng nói cho công lý và sự thật trong những buổi thắp nến cầu nguyện ở TTCG, ở sân chợ Viễn Đông, Westminster trước sự hiện diện của nhiều ngàn đồng bào, đồng đạo để bày tỏ tình hiệp thông với giáo dân Thái Hà,
        * của sư huynh Trần An Phong, người rất am tường tâm lý và nỗi khát khao tìm kiếm chân lý của giới trẻ…
Tất cả… cho phép chúng tôi hy vọng nội dung Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo kỳ III sẽ đi sát với đời sống thực tế hơn là chỉ khoanh vùng với những đề tài quen thuộc thường thấy qua những buổi tĩnh tâm được tổ chức trong khuôn viên giáo đường, cho dẫu diễn giả chỉ toàn những linh mục và tu sĩ, một điều hơi có vẻ nghịch thường!

Những chuyển động trong lòng Giáo hội Việt Nam hôm nay
        Không phải chỉ vài năm gần đây khi bùng lên những buổi cầu nguyện ngoài trời với sự tham dự của nhiều ngàn giáo dân, bao gồm giáo sĩ, tu sĩ và cả những giám mục từ các giáo phận xa để đòi lại tài sản đất đai –và qua đó đòi công lý, tự do, nhân quyền và nhân phẩm- ở tòa Khâm sứ cũ, ở giáo xứ Thái Hà, Hànội… mà ngay từ những ngày đầu chế độ cộng sản được áp đặt tại miền nam vĩ tuyến 17 đã có những tiếng nói ngôn sứ cất lên khắp nơi. Chúng tôi nhớ tới khuôn mặt chói sáng của đức cha Nguyễn Kim Điền, cố TGM giáo phận Huế, đức cha Nguyễn Minh Nhật, cố giám mục giáo phận Xuân Lộc thời ngài đảm nhiệm vai trò chủ tịch HĐGMVN. Bên cạnh đó là những phản ứng mang dấu tích Tin Mừng của cha Chân Tín, của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Lan. Tiếp theo là linh mục Nguyễn Văn Lý, người mục tử hiện đang sống trong ngục tù cộng sản lần thứ tư sau phiên tòa ô nhục, cha bị bịt miệng ngày 30-3-2007, chỉ vì tấm lòng thiết tha yêu mến Giáo hội và Quê hương Việt Nam. Tưởng cũng cần nói tới những linh mục bạn của cha Lý như linh mục Nguyễn Hữu Giải và linh mục Phan Văn Lợi.
        Nội dung lá thư ngỏ của Hội Đồng Giám Mục gửi Quốc hội và các nhân vật hàng đầu trong bộ máy cầm quyền cộng sản Việt Nam ngày 03-01-2003 tiếp theo hội nghị thường niên từ ngày 07 đến 12 tháng 10 năm 2002 (vừa được tái công bố trên nhiều trang báo điện tử của ngườI CG ở trong nước) là một bằng chứng cụ thể cho thấy sự quan tâm của các đức cha đối với những tệ đoạn trong xã hội Việt Nam thời cộng sản. Các ngài đã nhân danh Tin Mừng của Chúa Giêsu nhấn mạnh tới mục tiêu tối thượng của Giáo hội Công giáo là “Vì con người và cho con người”, dám vượt lên trên sự sợ hãi thường tình để công khai vạch ra những khuyết tật, những hiện tượng bất toàn nhan nhản trong đời sống đạo đời, mà căn nguyên chỉ vì những bất công, phi đạo lý, chà đạp nhân quyền, nhân phẩm người dân phát sinh từ một chế độ thiếu vắng tính người được xây dựng trên cường quyền, bạo lực với cơ chế Xin-Cho (phải “Xin”, phải cầu cạnh, nài nỉ, lo lót để được “Cho”, được ban phát, bố thí, kể cả những thứ lẽ ra mọi người đều được hưởng dụng theo luật tự nhiên từng được những định chế xã hội công nhận, trong đó có cả cái gọi là Hiến Pháp của nhà nước).
        Trước đó không lâu, nhân dịp phái đoàn 24 giám mục Việt Nam qua viếng mộ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô ở Rôma, đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị đã đích thân trao tận tay từng GM một văn kiện dài, trong đó ngài nhấn mạnh tới sự cần thiết phải đối thoại, nhưng là thứ “đối thoại lành mạnh” trong tinh thần tôn trọng sự độc lập giữa giáo quyền và thế quyền. ĐTC cũng nhắc tới những quyền của Giáo hội trong việc đào tạo, phong chức, thuyên chuyển, cắt cử linh mục, bổ nhiệm giám mục cũng như quyền được tự do rao giảng Lời Chúa qua các phương tiện truyền thông, in ấn và phổ biến sách vở tài liệu. Hẳn không phải ngẫu nhiên mà văn kiện quan trọng này lại vừa được công bố trong tháng 5 vừa qua.
        Trên nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân số này, các bạn trẻ còn được đọc một bài viết rất thời sự và ý nghĩa của đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, giám mục phụ tá tổng Giáo Phận Sàigòn. Bài viết có tiêu đề “Quan Điểm của Công Giáo về Trách Nhiệm của Giáo hội trước các vấn đề xã hội”. Nội dung bài viết xây dựng trên hai trọng điểm. Thứ nhất là “Tương quan giữa sứ mạng của Giáo Hội và trách nhiệm đối với các vấn đề xã hội”. Thứ hai là “Tương quan giữa Giáo Hội và Chính quyền trong những vấn đề xã hội.”
        Đề cập trọng điểm thứ nhất, đức cha Khảm nhấn mạnh tới mối quan tâm của Giáo hội đối với con người. Do đó, người Công giáo ý thức được trách nhiệm của mình đối với những vấn đề xã hội, bao gồm các lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục. Đức cha nhấn mạnh:
        “Là những người Việt Nam và là cộng đoàn các môn đệ của Đức Giêsu, Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam lấy vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của người dân Việt làm vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của chính mình, và không có gì là của con người mà không gieo âm hưởng trong lòng Giáo Hội. Trong những năm qua, ý thức đó đã thúc đẩy Giáo Hội góp phần giải quyết các vấn đề xã hội trong khuôn khổ luật pháp cho phép, và còn muốn góp phần nhiều hơn nữa trong tương lai.”
        Bàn về trọng điểm thứ hai, đức cha viết:
        “Tương quan giữa Giáo Hội và Chính quyền dân sự là tương quan trong đó cả hai bên tôn trọng sự độc lập chính đáng của nhau, đồng thời hợp tác với nhau nhằm phục vụ con người cách tốt đẹp nhất.”
        Về phần mình, “Giáo Hội tôn trọng quyền bính hợp pháp và chính đáng của Nhà Nước. Sự tôn trọng này phát xuất từ sự nhìn nhận tính độc lập chính đáng của những thực tại trần th྿ như Công đồng Vaticanô II minh định: “Nếu sự độc lập của các thực tại trần thế được hiểu là các thụ tạo và các xã hội đều có những định luật và giá trị riêng mà con người phải khám phá dần dần, sử dụng và điều hoà, thì đòi hỏi sự độc lập như thế là một việc hoàn toàn chính đáng. Đó là điều không những người đương thời đòi hỏi, mà còn phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo hoá” [18]. Cũng vậy, “Giáo Hội tôn trọng sự tự trị chính đáng của trật tự dân chủ và không mang danh nghĩa nào để ủng hộ ưu tiên cho giải pháp này hay giải pháp kia, liên quan đến định chế hay hiến pháp”
        Trong một đoạn khác, đức cha phụ tá TGP Sàigòn viết:
“… tương quan giữa Giáo Hội và Chính quyền dân sự là tương quan trong đó cả hai bên tôn trọng sự độc lập chính đáng của nhau, đồng thời hợp tác với nhau nhằm phục vụ con người cách tốt đẹp nhất. Theo đó, khi Giáo Hội lên tiếng về các vấn đề xã hội, Giáo Hội không làm chính trị nhưng muốn hợp tác với Nhà Nước để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.”
        Trích dẫn lởi cảnh cáo nghiêm khắc của tiên tri Amos (8,4-8) đối với những kẻ lừa dối, gian lận, chèn ép, bóc lột kẻ bần hàn khồn khó, đức cha Nguyễn Văn Khảm viết tiếp:
        “Cũng trong truyền thống đó, Đức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ của Người với chương trình hành động là ‘loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa’” (Lc 4, 18-19).
        Theo dõi những biến cố chung quanh cao trào cầu nguyện, hát Kinh Hòa Bình của giáo dân Thái Hà trong thời gian qua, người ta thấy nổi bật lên hình ảnh những mục tử can trường, quả cảm trong Giáo hội quê nhà. Người viết muốn nói tới đức cha Ngô Quang Kiệt, TGM Hànội, linh mục giám tỉnh DCCT Việt Nam Phạm Trung Thành, linh mục bề trên Vũ Khởi Phụng, các cha Nguyễn Văn Thật, Lê Quang Uy v.v… cùng với hàng hàng lớp lớp giáo dân, tu sĩ, linh mục –và cả giám mục- từ khắp nơi đổ về giáo xứ Thái Hà và tòa Khâm sứ để tham gia cầu nguyện và tỏ bày tình hiệp thông giữa đoàn chiên và chủ chiên trong những phút giây ngặt nghèo nhất.
        Trong thời gian qua, dư luận trong và ngoài nước tỏ ra rất quan tâm tới sự kiện 8 giáo dân Thái Hà bị đem ra tòa xét xử cách bất công, tiếp theo là những diễn biến chung quanh việc những nạn nhân này kháng cáo cùng với trường hợp luật sư Lê Trần Luật, các phụ tá và cả văn phòng luật sư của ông bị hành hung, khủng bố đến tê liệt chỉ vì dám công khai bênh vực những người giáo dân thấp cổ bé miệng. Dư luận cũng tỏ ra hết sức phẫn nộ trước lề lối thông tin, xuyên tạc, bóp méo sự thật của các cơ quan truyền thông nhà nước khi tường thuật và viết những bài mạ lỵ đức TGM Hànội, các linh mục và tập thể giáo dân giáo xứ Thái Hà.
        Sự kiện linh mục Nguyễn Văn Thật, người phát ngôn của giáo dân và giáo sĩ Thái Hà bị xách nhiễu, hăm dọa bằng những buổi triệu tập triền miên nói là để “làm việc” trong thời gian qua cũng đang tạo nên một làn sóng bất bình khắp nơi. Trong đơn khiếu nại gửi các cơ quan nhà nước mới đây, toàn thể linh mục, tu sĩ và giáo dân Thái Hà đã công khai đặt lại vấn đề này với nhà nước cộng sản.
Những chuyện đi đêm mờ ám giữa giới cầm quyền ở Hànội và quan thày Bắc Kinh dẫn tới việc mất đất, mất biển cùng những hệ quả khốc hại của vụ thả lỏng cho hàng ngàn công nhân Trung Cộng vào khai thác mỏ Beauxite ở Cao Nguyên Trung phần cũng đang là những vấn đề nhức nhối cho các giới động bào, đồng đạo trong và ngoài nước.

Tắt một lời
        Chuyện khuôn viên Tòa Khâm Sứ cũ ở Hànội và chuyện đất đai của giáo xứ Thái Hà bị nhà nước đưa cơ giới vào đập phá để làm vườn cây một cách ngạo ngược; trường hợp đức cha Ngô Quang Kiệt TGM HànộI, các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế bị xuyên tạc, lăng mạ và khủng bố trắng; vụ luật sư Lê Trần Luật, các phụ tá, nhân viên trong văn phòng luật pháp quyền của ông bị xách nhiễu, đe dọa sự an toàn sinh mạng… là những chuyện đã được công luận trong ngoài nước bạch hóa dưới ánh sáng mặt trời.
        Trường hợp cha Tađêô Nguyễn Văn Lý bị cộng sản tống ngục lần thứ tư trong một phiên tòa “bịt miệng” ngày 30-3-2007; trường hợp luật sư Nguyễn Văn Đài, Lệ Thị Công Nhân, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà báo Điếu Cày, cô Phạm Thanh Nghiên bị bắt giam phi pháp và 8 giáo dân vô tội ở Thái Hà bị kết án bất công, phi lý cũng đã trở thành chuyện công khai được mọi người biết đến.
        Chuyện Hànội mở cửa biên giới để cho ngườI Trung Quốc tự do qua Việt Nam không cần Visa và việc Bắc Kinh khai thác Beauxite ở Cao Nguyên đang là mối đe dọa dân tộc Việt bị Hán Hóa, mọI ngườI đều biết và âu lo.
        Mọi người đã biết, đã quan tâm, đã âu lo. Hẳn rằng những người trẻ Công giáo cũng có bổn phận phải biết, và có quyền được biết.
        Như thế, Đại Hội Giới Trẻ tháng tới chính là dịp để họ được nghe và suy nghĩ về những thông tin này.

1. Tỉ dụ như bài “Đạo Sĩ Sa Đu” của tác giả linh mục Nguyễn Trọng Tước tức nhà văn Nguyễn Tầm Thường mà bản thân chúng tôi đã có dịp đọc và viết bài nhận định nhiều năm trước.
2. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã hơn một lần nhấn mạnh “Con người là đường đi, là đích điểm phục vụ hàng đầu của Giáo Hội”.