Kết thức năm
Thánh Phaolô Tông Đồ
Gia sản tinh thần của Thánh Phaolô
LM Cao Phương Kỷ
ĐGH BIỂN ĐỨC XVI
cũng đã kết thúc NĂM THÁNH PHAOLÔ, khởi đầu từ Tháng 6, 2008 đến 2009. Qua những
bài Giáo Lý hàng tuần, ngày thứ Tư, ĐGH đã diễn giảng suối một năm, để mọi tầng
lớp trong Hội Thánh học hỏi, suy niệm, và áp dụng vào đới sống thiêng liêng, đời
sống Cộng đống, mục vụ, xã hội, những CHÂN LÝ của Chúa Cứu Thế đã rao truyền
trong sách PHÚC ÂM.
“Nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân”,
luôn theo Truyền Thống của Hội Thánh Công Giáo, đặc biệt của các Vị Cha Chung,
Cố GH. Gioan Phao lô II và ĐGH Biển Đức XVI, về các vấn đề CÔNG LÝ XÃ HỘI và
TRUYỀN THÔNG, TRUYỀN GIÁO trong thế giới, nhất là tại Quê Hương Việt Nam, sau 34
năm giành lại chủ quyền Quốc gia, nhưng người Công dân vẫn chưa được hưởng các
quyền Tự Do.
Những danh từ như: SỰ THẬT trong
Truyền Thông, CÔNG CHÍNH, CÔNG BẰNG, TỰ DO.trong xã hội., được cảm hứng từ những
lời giảng dạy của Thánh Nhân mà tờ “Diễn Đàn Giáo Dân” đã cổ động từ 8 năm , thì
ngày nay, đã trở nên rất quen thuộc với giới Truyền Thông Công Giáo Việt Nam,
tại Quê Nhà cũng như tại Hải Ngọai.
Sau đây, để kết thúc những bài học
hỏi về Thánh Nhân, xin trình bày hai điểm:
I/ Gia Sản Tinh Thần Thánh Nhân để
lại cho Hội Thánh là những gì?
II/ Giải thích vắn tắt về một số
Thành Ngữ, Thánh Nhân dùng khi viết những Bức Thư cho các Giáo đòan, và được
nghe nhiều lần trong các Bài Đọc Thánh Thư, trong Thánh Lễ;
I-GIA SẢN TINH THẦN ĐỂ LẠI CHO HỘI THÁNH
Thánh PhaoLô Tông đồ giữ một địa vị
quan trọng trong Hội Thánh, về phương diện Lịch Sử và Giáo Lý, Thần Học. Trong
các Thánh Lễ Ngày Chúa Nhật, ta được nghe đọc bài THÁNH THƯ của Thánh Phao Lô,
như dọn đường, trước khi đọc PHÚC ÂM của Chúa Giêsu. Thánh Phêrô, Tông Đồ Cả và
Thánh Phao Lô Tông đồ, được coi là HAI CỘT TRỤ nâng đỡ Hội Thánh Chúa.
Về phương diện tài liệu Lịch sử,
Thánh Thư của Thánh Nhân là những sử liệu cổ nhất về thời Hội Thánh Sơ Khai, mới
thành lập, như đọan tường thuật về CHÚA PHỤC SINH (1 Cor, 15:1-11) và Bữa TIỆC
LY (1Cor 11: 23-36). Nhờ những Bức Thư, ta biết được sinh họat của các Giáo Đòan
như Corintô. Cách dùng những LÁ THƯ làm phương tiện Truyền Thông, để thông tin,
giảng dạy, khuyên nhủ, sửa dạy các Giáo đòan, thì ngày nay, trong Hội Thánh các
ĐGH, các GM..cũng còn dủng hình thức: “Thông Điêp” “Lá Thư Mục Vụ”, “ Thư
Chung”..để liên lạc với các Địa phận, các Giáo Xứ..
Về phương diện Giáo lý Thần Học,
những Giáo Thuyết của Thánh Nhân diễn giảng LỜI CHÚA CỨU THẾ, đã thành một
“Tuyển Tập” những Chân Lý căn bản của ĐỨC TIN, giúp các nhà thần học sau này như
các Thánh Giáo Phụ Gioan Kim Khẩu, Thánh ÂuCơTinh, Thánh Giêrôm.. Thánh Tôma
Aquinô..và các nhà Thần học Cải cách (Reformation) như Martin Luther, Karl Barth..
quảng diễn tư tưởng của Thánh Nhân, để xây dựng nền Thần Học của TCG
- Thánh Phao Lô đã dùng hình thức
những THƯ để giảng nghĩa và nối kết các biến cố lịch sử riêng rẽ trong sách Phúc
Âm , trở nên mạch lạc liên hệ với nhau như: Thánh Gía và Phục Sinh đi liền nhau;
Phép Rửa Tội và Hòa Giải với Chúa và với tha nhân; Công Chính và Đức Tin; ba
nhân đức:Tin, Cậy, Mến; Phép Bí Tích Thánh Thể; Hội Thánh là Thân Mình Mầu Nhiệm
Chúa Cứu Thế; Chúa Thánh Thần và Ân Sủng; Tu đức và Cầu Nguyện; Ngày Chúa hiện
đến lần thứ Hai(parousia) và Ngày Phán Xét Chung; Bí Tích Hôn Phối và Đặc Ân
thánh Phao Lô (the Pauline privilege); Luân Lý..
Có thể nói, mọi khía cạnh trong đời
sống một KitôHữu, đều được Thánh Nhân đề cập và hướng dẫn cách sống cho thích
hợp với Phúa Âm của Chúa Cứu Thế.
-Một câu thắc mắc: những điểu Thánh
Phao Lô Tông Đồ dạy dỗ, khuyên bảo các Giáo hữu thời xưa, thì còn thích hợp với
thời đại này không?
Ta cần suy nghĩ và phân biệt những
Chân Lý ngàn đời và những biến cố nhất thời theo hòan cảnh. Đọc Thánh Thư, ta
thây Thánh Nhân, dùng Đức Khôn Ngoan để hướng dẫn hay cảnh cáo những sai lỗi,
chia rẽ trong các Cộng Đồng Tín Hữu, như ở Công đòan Côrinthô, thì vẫn đúng cho
các Cộng Đồng ngày nay..
Trong các THU về Mục Vụ, Thánh Nhân vừa khuyên nhủ vừa cảnh cáo, khiển trách các
Cộng đòan, để củng cố Đức Tin và đề phòng sự chia rẽ trong các Cộng đòan. Thánh
Nhân đã diễn tả tâm trạng con người của mọi thời và mọi nơi. Do đó, ta nên học
hỏi và suy nghĩ những điều Thánh Nhân chỉ dẫn
-Tuy nhiên, đối với các THƯ của Thánh
Phaolô hay của các bản văn Kinh Thánh, ta cần phải chú ý đến Văn Mạch, VĂN CẢNH
(context) khi các vị Thánh Ký viết những bản văn đó, thì công việc giải thích
bản văn, giải nghĩa các danh từ mới được chính xác và đúng nghĩa của của các tác
giả muốn dùng.
Cũng nên nhớ: đây là những bức THƯ
Thánh Nhân gửi cho các Giáo đòan là những “con chiên cũ” mà Ngài đã khó nhọc dạy
dỗ, săn sóc. Do đó, Ngài đã nói ám chỉ hoặc nói thẳng đến những vấn đề thiết yếu,
thực tế của từng Cộng đòan mà người ở ngòai không biết được.
Ngòai ra, Thánh Nhân đã bàn luận vế
nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh về Giáo Lý, Mục Vụ trong Hội Thánh. Do dó, cần đọc
theo thứ tự: từ những Thư về Mục Vụ, về thực hành trước, rồi đến những Thư Thánh
Nhân suy luận về những Mầu Nhiệm cao siêu như trong Thư gửi Tín Hữu Rôma.
Sau hết, có những lời khuyên bảo của Thánh Nhân chỉ thích hợp tùy hòan cảnh, tùy
văn hóa, phong tục ngày xưa, nên không còn thích hợp với thời nay, như: cấm phụ
nữ làm tóc, và ăn mặc lòe xòe(1 Cor 11:3-16)
Đọc các Thánh Thư của Thánh Phaolô
Tông Đồ, ngòai giá trị về lập luận, văn từ vừa thi vị, gợi ý , ta cảm thấy tỏa
ra một tâm tình, và một ý chí rất NHIỆT THÀNH, và một ĐỨC TIN sắt đá không hề sợ
hãi, không thể lay chuyển. Đối với Thánh Nhân, SỐNG TRONG CHÚA KYTÔ, thì cũng
cần VÁC THÁNH GIÁ để theo Chúa, và không thể đi theo con đường dễ dãi, buông thả
theo chiều gió của thời đại lôi cuốn. Nhưng bất cứ cảnh ngộ nào, cũng phải nhất
quyết “THEO THẦY CHÍ THÁNH”mà thôi!
II- GIẢI NGHĨA MỘT SỐ THÀNH NGỮ TRONG THƯ THÁNH PHAOLÔ
Trong những bài Đọc Sách Thánh, Thánh
Thư, hay trong khi Giảng ở Nhà Thờ, khi viết thư cho nhau..người tín hữu thường
nghe những Thành Ngữ như: “Trong Chúa Giêsu KyTô”, “Trong Chúa”..; “ Ơn Chúa”,
Ân Sủng”, Ân Huệ”: “ADong Mới”....
Đây là một số Thành Ngữ quen dùng,
rút ra từ những Thánh Thư của Thánh PhaoLô Tông Đồ; do đó, cần được giải nghĩa
cho chính xác, đúng với ý niệm của Thánh Nhân, khi Ngài viết những Bức Thư cho
các Giáo Đòan.
-Thành Ngữ: “TRONG CHÚA GIESU KYTÔ” “TRONG CHÚA” (In Christ Jesus, in The Lord);
coi: Rom, 16:3,22; 1 Thess 3:8
Theo Thánh Phao Lô: khi chịu Phép Rửa
Tội, ta được kết hiệp mật thiết “Trong Chúa”, nghĩa là Đức TIN đã biến đổi một
cá nhân cách sâu thẳm tự trong thâm tâm của con người. Không chỉ là di chuyển,
xê dịch từ chỗ này sang chỗ kia, nhưng là cuộc “Hiệp Nhất Thần Nhiệm”(mystical
Union) giữa Chúa KYTÔ và Tín Hữu. Người đó trở nên tạo vật mới “Trong Chúa KYTÔ”
(2Cor 5:17; Rom 8:1; 2 Cor 12: 2, 19). Người Tín hữu, chết cho tội, và sống đời
sống mới “Trong Chúa KYTÔ” (Rom 6:11. Sống Trong Chúa, cũng là tham dự vào sự
Chết và Sống Lại của Chúa (Rom 6:8-11). Hòan tòan biến đổi con người, để chỉ
theo Chúa, đến nỗi có thế nói như Thánh Nhân:” không còn là tôi sống, nhưng Chúa
Sống trong tôi (Gal 2:20)
Các nhà chú giải Kinh Thánh hiểu rằng:
biểu ngữ”TRONG CHÚA” có khi cũng áp dụng cho cả Cộng Đòan Tín hữu cùng Tin vào
Chúa Kytô(Rom 12: 5; Gal 1:22). Về phương diện Thần Học, sống “Trong Chúa” có
nghĩa là :đón nhận ÂN SỦNG của Chúa ban, và nhờ Chúa Giêsu, thì được Ơn Cứu Rỗi.
TỪ NGỮ: ÂN SỦNG
-Từ ngữ : Charis( Hilạp), Gratia (Latinh),
Grace( Amazing Grace) dịch ra Việt Ngữ: rất phong phú vừa Nôm vừa Hán-Việt như:
Ơn, Ân, Ân Huệ, Ân Sủng, Ân Điển, Thánh Sủng, Ơn phúc, Ơn Trời, Sủng ái, Thiên
Ân, Hồng Ân( Hồng=lớn lao, như Hồng Thủy: deluge), Từ bi, Từ Ái, Nhân hậu...)
(Chú thích: Ngày xưa, từ ngữ này
không dịch nghĩa ra tiếng Nôm, mà dùng cách phiên âm theo tiếng Latinh(Gratia)
là: Ga –ra- sa:như trong kinh Kính Mửng cổ: “Ave Maria đầy ga-ra-sa, Chúa
Dêu(Deus) ở cùng Bà”. Từ ngàn năm, Ca dao Việt nam đã có câu: “ Ơn Trời mưa nắng
phải thì, nơi thì bừa cạn nơi thì cầy sâu”)
-Từ ngữ này, trong nguyên tự Hilạp,
Latinh là ý niệm trừu tượng, khó giải nghĩa cho rõ và cụ thể. Thánh Phao Lô dùng
từ ngữ này để chỉ nhiều phương diện, nhiều khía cạnh của một thực tại có thật
rất linh họat, tích cực hành động trong thế giới và trong đời sống của các Tín
Hữu theo Chúa Giêsu KyTô.
- ÂN SỦNG, hay ƠN THÁNH là điều Chúa
ban cho ta, và cũng là điều ta có thể cầu xin cho mình hay cho người khác được.
Thánh Phao Lô đã dùng hơn 100 lần từ ngữ này trong 13 Thánh Thư; trong Thánh Thư
gửi Giáo Đòan Roma, Ngài dùng 23 lần. Do đó, ta biết được Ý niệm này rất quan
trọng trong những bài Giảng thuyết của Thánh Nhân, và mang nhiều ý nghĩa để chỉ
nhiều thực tại khác nhau như:
-Dùng để MỞ lời CHÀO, và KẾT những Lá
THƯ: “ Nguyện xin Ân Sủng Chúa Giêsu KyTô ở cùng Anh Chị Em” (1 Cor 1:3; 2 Cor
1:2; Rom 1:7, 16:20; Phil 4:23)
Ước nguyện Quyền Năng, Phước Lành,
Lòng Lân Tuất của Chúa xuống cho độc giả, hay thính giả
-Ý niêm căn bản chỉ Tình Thương Mến
của Chúa đối nhân lọai, vì Chúa là Tinh Thương; Tình thương mến là thuộc tính
của Chúa và của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa
- Ơn Chúa chỉ Sức Mạnh Tinh Thần ban
xuống cho con người để có thế biến đổi đời sống từ yếu đuối trở nên mạnh mẽ.
- Ân Sủng chỉ Chúa đặc biệt thương
mến nhân lọai. Ân Huệ của Chúa ban cho nhân lọai , nhưng cũng để kéo lòai người
về với Chúa
-Ân Sủng là tham dự vào Sự Sống của
Thiên Chúa , ngay khi còn ở thế gian này, là”Năng Lực Thần Linh, khiến Nhân Lọai
sống thuận theo THÁNH Ý Chúa hơn.
- Ân Sủng là Ơn Cứu Rỗi cho nhân lọai,
khiến ta được Ơn Cứu Chuộc, được nên Công Chính(Rom 3:24; 5:17). Đây là Ơn Nhưng
Không, Quà tặng miễn phí(free Gift) Chúa ban cho nhân lọai( Rom 5:15;12:3;
15:15; 1 Cor1:4)
- Vì là“Quà Tặng”( gifts,
charismata), nên có liên hệ đến Ơn của CHÚA THÁNH THẦN ban xuống cho Hội
Thánh(Rom 12:6)
-Ân Sủng, về một khía cạnh, nghịch
lại Tội ác( Rom 5:21), và nghịch với việc giữ Luật Do Thái(Rom 6:15;11:6)
- Ân Sủng có thể tăng lên, nhưng cũng
có thế mất đi(Gal 1:6; 5:4)
- Ân Sủng ban cho Thánh Phao Lô Ơn
Gọi làm Tông Đồ(1Cor 15:10; Gal 1:15; 2:9) Nhưng Ơn đó cũng ban cho nhiều người
trong Cộng Đồng.(Phil 1:7)
- Từ ngữ: Chúa Cứu Thế là: “A DONG
MỚI”, Thánh Nhân muối ám chỉ những gì?
-(Chú Thích: Thánh Phao Lô thông thạo
văn chương Do Thái và La-Hy; do đó, Ngài dùng phương pháp chú giải trong văn
chương , thi ca, gọi là: “typology”, dịch ra chữ Hán –Viêt: Dự hình luận, Dự
biểu Luận, Tiên thức luận, Thuyết Dự Hình.
- Dự Hình(type,typos) hay Dự Biểu,
Điển Hình, Kiểu Mẫu, Biểu Trưng, tức là các Nhân Vật, hay các Biến cố quan trọng
trong thời Cựu Ước được coi như những “Dự Hình”,tức làm Hình Bóng, để chuẩn bị,
dự bị, báo trước, sẽ xẩy ra trong thời Tân Ước, khi Chúa Cứu Thế xuất hiện.
Chẳng hạn: Ông ADong Tổ Phụ Nhân Lọai, là “Dự Hình”, ám chỉ Chúa Cứu Thế sẽ ra
đời chịu Chết để Chuộc tội cho một “Nhân Lọai Mới”; Con rắn đồng được Ông Maisen
treo lên trong sa mạc, là “Dự Biểu”,là Hình Bóng tiên báo cây Thánh Giá Chúa
KYTÔ;
Xin Lưu Ý:” Thuyết Dự Hình” này thuộc
Khoa Chú Giải Kinh Thánh, gọi là “Hermeneutics”dịch là “Thuyên Thích Luận”, hay
“Khoa Thông Diễn”...Trong Phúc Âm, Chúa Cứu Thế luôn dùng phương pháp Ẩn Dụ hay
Dụ Ngôn(parables) để ám chỉ những Thực Tại Thiêng Liêng; sẽ bàn luận về Phương
Pháp này, trong dịp khác)
Theo phương pháp của” Dự Hình Thuyết”,
Thánh Phao Lô đã ám chỉ Ông ADong là “Dự Hình” về Chúa Cứu Thế(Rom 5:14). Lẽ ra,
Ông ADong đã phải là “điển hình”, “mô phạm”(prototype) kiểu mẫu lý tưởng cho
nhân lọai, nhưng Ông đã thất bại vì phạm tội chống lại Lề Luật của Chúa. Trái
lại, Chúa Cứu Thế là “ADONG MỚI”, vì Vâng Phục Thiên Chúa nên chuộc tội cho Nhân
Lọai để được SỐNG VĨNH CỮU.
-Sau đây, ta thử làm Bảng So Sánh
những khác biệt giữa Ông Adong và Chúa Cứu Thế, để hiểu biết về cách Thánh Phao
Lô diễn giảng về Lịch Sử CỨU CHUỘC. Như Ông Adong được Chúa dựng nên làm ĐẦU
Nhân Lọai, thì nay chính từ nơi Con Người của CHÚA GIÊSU KYTÔ, xuất hiện một Gia
Đình Mới của các TÍN HỮU.
ÔNG ADONG:
- Con Người thứ nhất
- một hữu thể sống động
- một hữu thể tự nhiên
- một hữu thể thuộc hạ giới
- nhân lọai mang hình ảnh Thiên Giới
- đem tội lỗi vào thế gian
- bầt tuân phục Thiên Chúa
- đem sự chết vô thế giới
CHÚA KYTÔ:
- Adong cuối cùng
- một Tinh Thần ban sự sống
- một hữu thể Thần Thiêng
- một hữu thể thuộc Thiên Giới
-nhân lọai mang hình ảnh hạ giới
- đem Cứu Rỗi vào thế giới nhờ Ân Sủng
- vâng phục Thiên Chúa
-đem sự Sống Lại lại vào thế giới
So sánh những khác biệt giữa CHÚA KYTÔ và Ông ADONG, trong bài Tán Tụng Chúa
KyTô:( coi: Phil 2:6-11; Thư gửi Tín Hữu Roma, và Thu I. Corinthô):
Ông ADONG
-theo hình ảnh của Thiên Chúa
- muốn ngang hàng với Chúa
- thổi phồng mình lên -muốn làm ông chủ
- đưa mình lên
- Thiên Chúa hạ thấp xuống
CHÚA KYTÔ
- đồng Bản Thể với Thiên Chúa
- chẳng nghĩ mình ngang hàng với Chúa
- tự hạ (như “tự hư vô hóa” mình)
- muốn làm đầy tớ
- hạ mình xuống
- đuợc Thiên Chúa nâng cao lên ..