Trước những nguy cơ của nhân loại suy
nghĩ
về mối nguy của Dân Tộc Việt Nam
Minh Võ
Trong bài
thế chiến III và chủ nghĩa dân tộc được phổ biến vào giữa tháng 3-2009, trong
phần kết luận, chúng tôi đã viết một cách tổng quát: “Ngày nay, khối cộng đã tan
rã. Không còn nguy cơ trước mắt như trứơc 1991”. Ở đây chúng tôi xin nói thêm
cho rõ hơn:
Từ 1991 mối nguy của nhân lọai bị
diệt vong bởi chủ nghĩa CS, hay bị đẩy lùi về thời kỳ đồ đá đã hết. Nhưng sau đó
nhân lọai đã đứng trước một nguy cơ khác là nạn khủng bố tòan cầu khai mào từ
biến cố 911. Ngay lúc ấy chúng tôi đã lên tiếng báo động một thế chiến IV đã ló
dạng. Mấy tháng sau Giáo Sư Tiến Sĩ Robert Strausz-Hupé đã tiên đóan nó sẽ là
một cuộc trường kỳ chiến mới (A New Protracted Conflict). Ông dùng chữ mới để
nhắc lại nhan đề cuốn sách cũ nổi tiếng của ông 43 năm về trước. Đó là tác phẩm
Protracted Conflict, xuất bản năm 1959. Lần này, chỉ vài tuần trước khi qua đời,
ông không minh thị gọi cuộc chiến khủng bố bắt đầu bằng vụ 911 đó là thế chiến
IV như chúng tôi. Nhưng vì trong cuốn Protracted Conflict ông đã gọi đó là thế
chiến III rồi, nên phải hiểu cuộc “Xung Đột Kéo Dài Mới” này theo ý ông chính là
thế chiến IV.
Trước mắt nhân lọai còn đang đứng
trước một mối nguy khác nữa là sự suy thóai trầm trọng về kinh tế tòan cầu mà
các nhà lãnh đạo nhóm G 20 (giữa tháng 4-2009) đang bàn thảo để cố đưa thế giói
thóat khỏi cơn khủng hỏang này. Nhưng hy vọng rất mong manh do những quyền lợi
quá xung khắc của các đại cường.
Nhưng mối nguy quan trọng hơn cả đang
đe dọa nhân lọai là môi sinh trái đất càng ngày càng xấu đi với mức báo động đỏ.
Đáng ngại là vì nó có vẻ còn xa và lại thuộc về khoa học ít được quan tâm từ
trứơc, nên xem ra chưa có cố gắng nào đáng kể hầu ngăn chặn. Mà liệu có cách nào
ngăn chặn không? Có người đã tiên đóan năm 2070 thảm họa diệt vong sẽ hiện rõ vô
phương cứu vãn.
Đó là xét về mặt tòan cầu, của nhân
lọai. Nhưng nếu thế chiến III chấm dứt đã khiến mối nguy nhân lọai bị diệt vong
bởi tà thuyết CS không còn nữa, thì trái lại mối nguy của nó đối với dân tộc
Việt Nam lại vẫn còn đó và càng ngày càng trầm trọng hơn. Lý do là các đảng CS
hãy còn thống trị Việt Nam và còn làm mưa làm gió ở phương Bắc, tại một lãnh thổ
mênh mông với trên một tỷ ba trăm ba mươi triệu người từng là kẻ thù truyền kiếp
của dân tôc Việt Nam. Tuy ngày nay chủ nghĩa CS đã phá sản, khối Cộng đã tan rã,
và các đảng CS còn sót lại không còn tin tưởng gì ở Mác nữa, thậm chí họ cũng đã
đi theo xu hướng kinh tế thị trường, tức kinh tế tư bản rồi. Nhưng nếp sống vô
văn hóa, đồi trụy, dối trá, gian manh, xảo quyệt, những phương pháp tàn ác, dã
man mà CS áp dụng qua nhiều thập niên đã trở thành tập quán trong cách hành xử
hàng ngày. Những cái đó khiến dầu sao, người CS vẫn là người CS và luôn luôn vẫn
là mối đe dọa đối với truyền thống và tương lai của dân tôc ta.
Nhiều đảng phái, tổ chức, nhân sĩ,
chuyên gia người Việt Hải Ngọai gần đây đã tố giác, cảnh báo, kêu cứu, vận động
bằng mọi hình thức về các vấn đề Trung quốc lấn đất, lấn biển, khai thác mỏ
quặng bô-xít ở Tây Nguyên, vấn đề hàng hóa, thực phẩm ô nhiễm từ bên Tầu tràn
sang Việt Nam. Nhưng ảnh hưởng quyết định về chính trị của Trung Cộng trên đa số
đảng viên cao cấp Việt Nam thì khó lường và không có cách gì tránh khỏi. Vì nó
đã thành một kẻ nội thù được gieo mầm và bén rễ gần một thế kỷ. Mối đại họa đó
đã nhen nhúm khởi sự từ rất lâu, nhưng đáng kể nhất là từ đầu cuộc “chiến tranh
Việt Nam”.
Ở đây chúng tôi không dám bàn đến
những mối đại họa của nhân lọai, của thế giói liên quan đến khủng bố, suy thóai
kinh tế và môi sinh. Đã có các nhà lãnh đạo các cường quốc và các nhà khoa học
thế giói đang tìm cách giải quyết. Chỉ xin có vái y kiến về những cố gắng của
người Việt Hải Ngọai nhằm cứu lấy dân ta, nước ta khỏi mối nguy vong quốc trước
mắt. Mặc dù nước đã mất từ 30-4-1975.
Trước tiên xin qúy độc giả hãy coi
đây chỉ là ý kiến của một người nghiên cứu thuần túy dựa trên tài liệu lịch sử
và tư duy cá nhân. Chúng tôi không phải ngùơi họat động chính trị. Nên không dám
đề nghị một giải pháp cụ thể. Mà chỉ đưa ra những sự kiện và nhận xét riêng về
cuộc chiến Việt Nam và lý do tại sao chúng ta đã thua, và tại sao người Mỹ đã
thất bại, không bảo vệ được miền Nam Việt Nam. Những hậu quả vô cùng tai hại của
sự thất trận đó là trách nhiệm của thế hệ chúng ta nay đang đổ lên đầu những thế
hệ con cháu chúng ta. Chấp nhận hay không, giải quyết hay không và giải quyết
bằng cách nào, xin để các nhà họat động chính trị quyết định.
Vào cuối thập niên 50 thế kỷ trước,
tuy chưa được đọc tác phẩm vô cùng quan trọng chỉ với 150 trang sách khổ nhỏ của
Giáo Sư Tiến sĩ Robert Strausz-Hupé, chúng tôi đã nghĩ tới một cuộc thế chiến
đang diễn ra lúc ấy, và năm 1961 đã viết ra cuốn Sách Lược Xâm Lăng Của CS để
kéo chú ý của độc giả và các nhà chính trị đương thời về những chiến lược, sách
lược hòan tòan mới của CS mà thế giói tư do phải đương đầu. Lúc ấy ở Việt Nam
chưa có cuốn sách nói trên của Strausz-Hupé. Nhưng vì chính quyền Đệ Nhất Cộng
Hòa đã có rất nhiều tài liệu về CS và khuyến khích phổ biến và dịch những tác
phẩm chống Cộng nổi tiếng cho nên những ai quan tâm đến thời cuộc (hoặc chỉ vì
tò mò như chúng tôi), đều có cơ hội nghiên cứu về bản chất cuộc chiến chống Cộng
tòan cầu, và các chiến lược, sách lược (hay chiến thuật) của nó.
Một cơ may hãn hữu đã cho chúng tôi
được tiếp cận với những tài liệu ấy tại Thư Viện Quân Đội thuộc quyền quản lý
của Phòng Tài Liệu nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc Phòng. Mãi gần nửa thế kỷ sau
chúng tôi mới được biết rằng chính thủ tướng Ngô Đình Diệm, ngay khi mới về nước
năm 1954 đã ra lệnh cho tổng lãnh sự Bùi Công Văn ở Hồng Kông mua càng nhiều
càng tốt những tài liệu mà nhiều người cho là “đồ quốc cấm” đó. Vì nó bao gồm
những tác phẩm bằng Anh hay Pháp ngữ của Mác, các bộ tòan tập của Lênin, Stalin,
Mao Trạch Đông, lịch sử các đảng Cộng Sản Liên Xô, Trung Quốc và các tác phẩm
quân sự của Lâm Bưu, Bành Đức Hòai, Chu Đức, Diệp Kiếm Anh v.v...
Và dĩ nhiên có sách báo CS miền Bắc
do Sở Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tồng Thống là một trong những cơ quan công quyền
đã phối hợp với tòa tổng Lãnh Sự Hồng Kông để mua những tài liệu thuộc lọai tình
báo chiến lược vô cùng cần thiết này từ nhiều nơi khác.
Bộ Mao Trạch Đông Tòan Tập đã cho
chúng tôi biết họ Mao đã khinh chê thế giới Tự Do lúc ấy chẳng biết gì về đối
thủ.
Càng tìm đọc thì càng thấy họ Mao
không lộng ngôn, phách lối. Vì cuộc chiến mà CS phát động đã lâu không có gì
giống như những cuộc thế chiến trước đó. Những “vũ khí” mà CS dùng hầu hết không
có gì giống thứ vũ khí thông thường được xử dụng trong chiến tranh cổ điển. Nó
là một thứ vũ khí bí mật, môt thứ ám khí lợi hại tương tự như bom bay V1, V2 của
Đức Quốc Xã tấn công Luân Đôn những năm đầu thập niên 1940, hay như hai quả bom
nguyên tử của Mỹ thả xuống Trường Kỳ và Quảng Đảo ở Nhật đầu tháng 8 năm 1945,
trước khi thế chiến II kết thúc. Ác một điều là nó không có hình thù, cân lượng
và sức phá họai vật chất. Cho nên, với con mắt thịt, ít người có thể nhận thấy,
Dĩ nhiên trừ những nhà nghiên cứu chuyên môn cần cù sau một thời gian làm việc
vất vả.
Khi cuốn sách của Strausz-Hupé ra đời
(1959) rồi Giám Đốc Trung Ương Tình Báo Mỹ Allen Dulles cất tiếng kêu gọi tìm
hiểu về Cộng Sản (1960), các nhà lãnh đạo thế giói Tự Do mới quan tâm hơn đến
bản chất và chiến pháp mới của phía Cộng. Nhưng vẫn còn nhiều trí thức, nhất là
báo giới hãy còn bị chủ nghĩa Mác duy vật vô thần mê hoặc. Họ vẫn cho rằng chủ
nghĩa Cộng Sản chẳng những không có gì nguy hiểm mà còn là niềm hy vọng và tương
lai của hành tinh, là cứu cánh của giới thợ, dân nghèo đang khắc khỏai dưới ách
đế quốc tư bản.
Chính xu hướng tạm gọi là tả phái này
đã là nguồn gốc sự mê muội và đã hướng dẫn dư luận thế giói theo ý các lãnh tụ
Cộng Sản. Và vì thế thế giới đã súyt rơi vào vực sâu, hố thẳm diệt vong.
Cộng sản đã thắng ở Việt Nam cũng
chính vì thế.
Chính vì báo chí “thiên tả” Mỹ đã
hướng dẫn sai lạc dư luận Mỹ và thế giới và chi phối các chính khách và các nhà
lập pháp Mỹ cho nên nhân dân Mỹ và dư luận thế giới lúc ấy mới coi Hồ Chí Minh
là anh hùng cứu quốc, còn Ngô Đình Diệm là tay sai đế quốc.
Cho nên đã nhiều lần chúng tôi yêu
cầu hãy đặt cuộc chiến Việt Nam vào trong bối cảnh chiến tranh ý thức hệ hay qũy
đạo chiến tranh ý thức hệ CS. Nói một cách nôm na dễ hiểu: Hãy đặt cuộc chiến
Việt Nam vào trong (khuôn khổ) cuộc chiến tranh ý thức hệ tòan cầu của Cộng Sản.
Vì thực ra, ngày nay nhìn lại, cuộc chiến Việt Nam chỉ là một bộ phận, một tiền
đồn của cả một mặt trận rộng lớn trên khắp các lục địa.
Xét một người, một việc trong dĩ vãng,
người ta thường nói, muốn công bình phải đặt người hay việc đó vào trong bối
cảnh lịch sử. Điều này đã thành thói quen. Ai cũng có thể hiểu một cách dễ dàng.
Nhưng khi nói về chiến tranh Việt Nam
hay những nhân vật lịch sử như Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm, thì cái bối cảnh
lịch sử có nhiều điểm mới lạ, nghiêu khê. Chứ không đơn sơ giản dị. Đó là hòan
cảnh lịch sử đặc biệt tạo nên bởi chủ thuyết Cộng Sản, cũng gọi là chủ nghĩa Mác
Lênin lúc ấy còn đang chi phối và làm đảo lộn cả thế giới trong thời gian gần
một thế kỷ.
Vì vậy, khi viết cuốn Hồ Chí Minh
nhận định tổng hợp (2003) chúng tôi đã có lúc yêu cầu người đọc hãy đặt ông Hồ
vào trong qũy đạo chủ nghĩa Mác Lênin. Khi dùng mấy từ qũy đạo, chúng tôi đã
liên tưởng tới từ satellite tức vệ tinh. Từ này từng được mấy nhà báo và sử gia
trong quá khứ dùng để chỉ những nước chư hầu của Liên Xô. Và khi nói đến vệ tinh
thì dễ hình dung ra một từ khác là qũy đạo. Vì vệ tinh luôn xoay chung quanh một
hành tinh như mặt trăng xoay quanh trái đất, hay một hành tinh như trái đất xoay
quanh mặt trời. Qũy đạo là cái con đường mà một vệ tinh hay hành tinh xoay chung
quanh thiên thể mẹ của nó.
Chẳng những hai từ qũy đạo bắt nguồn
từ hai từ vệ tinh, mà còn được chúng tôi dùng nhằm nói lên sự linh động của chủ
nghĩa Cộng Sản với biện chứng duy vật na ná như dịch lý của Đông Phương. Vì vậy
bối cảnh lịch sử của thời đại Cộng Sản, không phải chỉ là một tấm phông tĩnh. Mà
là cả một bối cảnh linh động luôn luôn chuyển động không ngừng. Trái đất xoay
trên trục của nó, đồng thời xoay chung quanh mặt trời. Mặt trời tuy được gọi là
định tinh. Nhưng thực ra nó cũng di chuyển theo một qũy đạo vô cùng rộng lớn
khác.
Như vậy xét về chíến tranh Việt Nam
và con người Hồ Chí Minh cũng cần phải dựa trên một sự suy luận linh động căn cứ
vào tính thiên biến vạn hóa của cuộc chiến tòan cầu mà Cộng Sản chủ trương nhắm
bá chủ thế giói bằng những hình thức chiến lược sách lược linh động và tàn bạo.
Nói tàn bạo vì CS tin tuyệt đối vào cứu cánh của họ là giải phóng tòan thể nhân
lọai khỏi sự mê tín của tôn giáo (sic), khỏi sự bóc lột tận xương tủy của bọn đế
quốc tư bản (sic). Cho nên đối với họ, bất cứ phương tiện nào, dù tàn bạo đến
mấy, giúp đạt được cứu cánh đó đều tốt. Cứu cánh biện minh cho phương tiện là
vậy (La fin justifie les moyens).
Để có thể đặt cuộc chiến VN vào trong
lòng cuộc chiến tòan cầu của Cộng Sản, dĩ nhiên phải hiểu rõ về cuộc chiến tòan
cầu đó. Bản chất nó là gì, nó có những đặc tính gì? Nó được phát động và điều
hành ra sao, theo những quy luật chiến tranh lọai nào?
Sau đây chúng tôi xin nêu lên một vài
sự kiện lịch sử thế giới làm ví dụ để trả lời một cách hết sức tóm tắt mấy câu
hỏi nêu trên.
Khi chủ thuyết Cộng Sản của Mác và Ăng Ghen ra đời đầu năm 1848 không ai ngờ đó
chính là phát súng lệnh khởi đầu cho một cuộc chiến tranh chống lại tòan thể
nhân lọai. Chiến tranh của sự ác đánh thẳng vào sự Thiện. Điều này chỉ mới gần
đây lòai người mới nhận ra.
Cho mãi đến hơn một thế kỷ sau, năm
1959, hai năm sau khi Liên Xô phóng thành công vào vũ trụ phi thuyền không gian
Sputnik, mới có một nhà nghiên cứu, đồng thời cũng là nhà ngọai giao chuyên
nghiệp, lên tiếng cảnh báo thế giới và nhất là các nhà lãnh đạo thế giới tự do
rằng phe Cộng đang đánh chúng ta đấy. Mà chúng ta cứ tưởng mình đang hưởng hòa
bình. Vì vậy cho nên chúng ta -- tức thế giới tự do, tức đại bộ phận nhân lọai
-- mới đang thua đấy.
Người lên tiếng cảnh báo đó là Giáo
Sư Tiến sĩ Robert Strausz-Hupé nói trên. Ông là một người Mỹ gốc Áo, người đã
sáng lập Học Viện Nghiên Cứu Chính Sách Đối Ngọai của Hoa Kỳ (FPRI= Foreign
Policy Research Institute), và là tác giả chính của cuốn Protracted Conflict (Cuộc
Xung Đột Kéo Dai) mà chúng tôi đã mô phỏng theo cách Trường Chính dịch cuốn Trì
Cửu Chíến Luận của Mao Trạch Đông để chuyễn ngữ thành Cuộc Trường Kỳ Chiến. Tác
giả viết chung với 3 nhà nghiên cứu khác. Ông sinh ngày 25 tháng 3 năm 1903 và
mất ngày 24 tháng 2 năm 2002, thọ gần 99 tuổi.Trước khi ông mất mấy tuần ông đã
viết một bài quan trọng nói về cuộc chiến ý thức hệ mới mà ông gọi là A New
Protracted Conflict. Qua cái nhan đề đó ông đã tiên tri rằng cuộc chiến chống
khủng bố sẽ là một cuộc chiến kéo dài. Mà thực sự nó đã kéo dài gần 18 năm rồi.
Ông không nói đến một thế chiến thứ tư phát khởi từ vụ 911. Nhưng liền ngay sau
khi biến cố 911 xảy ra, nghĩa là trước khi Strausz-Hupé viết bài A New
Protracted Conflict mấy tháng, chúng tôi đã viết một bài dài 37 trang nhan đề
Khủng Bố 911 và viễn ảnh thế chiến IV. Bài này viết xong ngày 01-10-01 và đã
được nhiều báo ở Mỹ đăng tải trong tháng 10-2001, trước tiên là bán nguyệt san
Văn Nghệ Tiền Phong.”
Ý niệm về cuộc thế chiến IV này sở dĩ
thành hình trong đầu người viết là nhờ câu nói bất hủ của Strausz-Hupé trong
Protracted Conflict (1959) “Đúng lúc này đây chúng ta đang ở vào giữa cuộc thế
chiến III. Cộng Sản đang thắng bởi vì họ biết họ ở trong cuộc thế chiến đó. Còn
chúng ta thì đang thua vì chúng ta không biết chắc chúng ta đang lâm chiến hay
đang hưởng hòa bình.”
Thời điểm 1959 là lúc CS đã chiếm
được một phần ba nhân lọai. Đáng kể nhất là tòan thể Liên Xô với 15 nước “Cộng
Hòa Xô Viết”, tòan thể khối Đông Âu gồm Ba Lan, Tiệp Khắc, Albany, Hungary,
Bulbary, Romany, Nam Tư. Á châu thì tòan thể lục địa Trung Hoa, rồi một nửa
Triều Tiên, một nửa Việt Nam. Và khi Fidel Castro đánh đuổi lãnh tụ Batista khỏi
Cuba và lên làm thủ tướng vào năm 1959 thì coi như Cộng sản đã đâm thẳng vào
cạnh sườn Mỹ.
Đồng thời với việc thôn tính những
nước trên, CS đã lập đựoc 87 đảng CS và rất nhiều chi bộ CS trên khắp thế giới.
Những đảng CS và những chi bộ CS lẻ tẻ này đang là mầm mống đe dọa từng ấy quốc
gia sẽ có thể bị CS thôn tính trong một tưong lai gần. Trong số 87 đảng CS này
có 2 đảng của Ý ở Âu Châu và của Nam Dương (Indonesia) ở Á Châu có tới trên 1
triệu và gần hai triệu đảng viên.
Thời gian đó cũng là thời gian ở Pháp
nữ sĩ Suzane Labin đưa ra lời cảnh báo cuối cùng với tác phẩm “Nước đã đến trôn”
xuất bản cũng vào khỏang cuối thập niên 50 đầu thập niên 60.
Và cũng vào thời gian đó (1961) bào
đệ ngọai trưởng Foster Dulles là Allen Dulles, Giám Đốc Trung Ương Tình Báo Mỹ
(CIA) đã đưa ra lời kêu gọi cần phải tìm hiểu về Cộng Sản, nếu muốn thắng CS.
Chúng tôi rất tâm đắc về mấy từ thế
chiến III của Strausz-Hupé. Vì chúng nói lên một cách chính xác nhất về một cuộc
chiến tòan cầu giữa các người Cộng Sản và Thế Giới Tự Do. Sở dĩ lúc ấy, và cả
sau này, vẫn còn rất ít người gọi nó như vậy là vì người ta vẫn chưa hiểu hết
tầm quan trọng của nó, và vẫn còn suy nghĩ một cách hẹp hòi, thiển cận rằng đã
là chiến tranh thì phải có bom rơi đản nổ. Cho nên một số nhà báo và sử gia vẫn
còn tự mãn vói mấy từ Chiến Tranh Lạnh. Lạnh hay nóng thì vẫn là chiến tranh.
Nếu thế chiến II đã làm chết trên 50 triệu người, kể cả thường dân, thì thế
chiến III đã làm chết trên 100 triệu. Một cuộc tranh chấp – gọi là chiến tranh
lạnh—xảy ra trên khắp các châu lục và gây ra từng ấy cái chết không đáng gọi là
một cuộc đại chiến, thế chiến sao?
Trước Strausz-Hupé, Allen Dulles và
Suzane Labin trên ba chục năm, lãnh tụ Tầu Cộng là Mao Trạch Đông đã trưng dẫn
Tôn Tử để rồi chê đối phương – không phải chỉ có Trung Hoa Quốc Dân Đảng, mà cả
phe Thế giới Tự Do -- chẳng tri bỉ tri kỷ gì cả. Đó là năm 1937, tại Diên An.
Vậy mà mãi đến cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, khi ”nước đã đến trôn”, phe
thế giới Tự Do mới quan tâm để tìm hiểu địch. Nhưng trễ còn hơn không.
Ngày nay quay lại khúc phim lịch sử
ấy, ta thấy mục tiêu chiến lựoc tối hậu của CS là bá chủ thế giới để thiết lập
một chế độ đại đồng, trong đó sẽ không còn biên giới quốc gia, dân tộc nữa.
Nhưng một trong số những mục tiêu sách lược giai đọan quan trọng hàng đầu của nó
là hô hào các dân tộc bị trị nổi lên chống lại các đế quốc để làm suy yếu các
cường quốc Tây Phương..
Vì không hiểu được bản chất của chủ
nghĩa Cộng Sản, cũng như thế nào là mục tiêu chiến lược, sách lược phi quân sự,
và mưu sâu của các chiến lược gia CS, nên các dân tộc nhược tiểu và/hoặc bị trị
dễ mắc mưu.
Về kỹ thuật tác chiến của CS, họ Mao
cũng chê đối phương chẳng biết gì. Đó là CS tiến hành chiến tranh, phần lớn,
không phải bằng cách xua quân xâm lăng trắng trợn (trừ trường hợp Triều Tiên đầu
thập niên 50) như Đức Quốc Xã hay Phát Xít Nhật đã làm trong thế chiến II. Cộng
Sản đã dùng nhiều hình thức thôn tính phi vũ trang rất đa dạng để thôn tính các
nước chư hầu một cách êm thắm, khiến cho các nước nạn nhân còn có cảm tưởng mình
được giải phóng một cách hòa bình lạ lùng. Dĩ nhiên phải trừ trường hợp Bắc
Triều Tiên, với sự quân viện ồ ạt của Trung Công vừa mới thôn tính được Hoa Lục,
đã công khai xua quân đánh chiếm miền Nam. Nhưng bằng hình thức xâm lăng vũ
trang ngọai lệ này họ đã rước lấy thất bại.
Không nên lý giải một cách phiến diện
-- theo quan niệm chiến lược quân sự thuần túy -- rằng ở Triều Tiên Hoa Kỳ đã
thắng vì đã đánh nhanh đánh mạnh và vì địa thế Triều Tiên không hiểm trở như ở
Việt Nam. Mà phải lưu ý đến nhiều yếu tố khác quan trọng hơn như:
-Sự xâm lăng trắng trợn công khai của
Bắc Hàn với quân viện dồi dào và cũng công khai của Trung Cộng.
-Hoa Kỳ nhân danh Liên Hiệp Quốc, dĩ
nhiên được Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc chấp thuận, đẩy lui cuộc xâm lăng.
-Chiêu bài giải phóng dân tộc mà Hồ
Chí Minh dùng một cách hữu hiệu ở Việt Nam không có tác dụng thực tế ở Triều
Tiên, vì Nhật đã bại trận trong thế chiến II không có thể trở lại Nam Hàn như
Pháp thắng trận, được Anh ngầm giúp đã có thể trở lại Việt Nam.
-Ở Nam Hàn lúc ấy đã không có sự kiện
một lãnh tụ Quốc Gia bị hãm hại, và một nền Cộng Hòa hợp hiến hợp pháp bị lật đổ
nhằm mục đích để cho Hoa Kỳ có thể đưa đại quân vào làm mưa làm gió sau đó,
khiến cho dư luận lên án vì cho rằng đó là cuộc chiến tranh của Mỹ bắt nạt một
nước nhỏ. Hơn nữa việc Mỹ ồ ạt đem quân vào VN không được LHQ chấp thuận như ở
Triều Tiên. Cho nên chiến cuộc Triều Tiên đã không bị dân chúng Mỹ và dư luận
thế giới lên án. Còn chiến cuộc Việt Nam thì bị dư luận lên án gắt gao.
Nếu ta để ý đến các nhân tố khác liên
quan đến chiến lược sách lược đặc biệt của Cộng Sản thì càng thấy không thể so
sánh chiến tranh Việt Nam với chiến tranh Triều Tiên được. Nhưng đó là những
tiểu tiết không cần bàn thêm.
Nhiều người coi Yalta là nơi sinh của
“chiến tranh lạnh”, có nghĩa là thế chiến III sinh ra tại hội nghị Yalta giữa ba
lãnh tụ siêu cường Anh, Mỹ, Nga
Và như vậy ngày 4-2-1945 là ngày khai
mạc hội nghị này cũng có thể gọi là ngày sinh của thế chiến III.
Trong cuốn 1999 Victory Without War
tổng Thống Richard Nixon bảo “thế chíến III bắt đầu khi thế chiến II sắp kết
thúc”. Có lẽ ông cũng muốn nói nó ra đời vào ngày này.
Nhưng theo quan niệm chiến tranh ý
thức hệ của chúng tôi thì trước đó từ lâu đã có nhiều hành động chiến tranh của
khối Cộng rồi. Chẳng hạn khi Stalin chiếm đóng 3 nước vùng Ba Nhĩ Cán là
Lithuania, Latvia và Estonia ngày 23 tháng 7 năm 1940. Hay trước đó nữa, ngay
sau khi ký với Đức Quốc Xã hiệp ước bất tương xâm Stalin đã cho quân vào Ba Lan
ngày 17 tháng 9 năm 1939, chỉ 17 ngày sau khi Đức đã xâm lăng nước này, và đúng
hai tuần sau khi Đồng Minh Anh, Pháp, Úc, Tân Tây Lan tuyên chiến với Đúc, mở
màn thế chiến II v.v...
Nếu cứ cho cuốn phim thời gian quay
ngược chiều thêm nữa, thì sẽ thấy thời điểm quan trọng nhất của chiến tranh ý
thức hệ CS là ngày 6 tháng 11 năm 1917. Lúc ấy thế chiến I còn chưa kết thúc.
Nhưng nó đã báo hiệu trước thế chiến III rồi. Ngày 6-11-17 là ngày mà tất cả các
nước CS, các đảng CS khắp thế giới không được phép quên. Ngày được mệnh danh là
Cách Mạng Tháng Mười. Nhưng thực ra đó chỉ là ngày đảng Bolshevik (đa số) của
Lênin cướp chính quyền từ nhóm Menshevik (thiểu số) của Kerensky.
Chiến thắng này đã khuyến khích Lênin
nuôi mộng bá chủ thế giói với chiêu bài cách mạng vô sản và thế giới đại đồng,
giấc mộng hão huyền của Mác và Ăng Ghen. Đệ Tam Quốc Tế ra đời ngày 6-3-1919,
đặt trụ sở tại thủ đô Nga là tổng hành dinh lớn nhất của mặt trận rộng lớn nhất
trong lịch sử chiến tranh thế giới. Chẳng bao lâu mà đã có 87 đảng CS (năm 1960)
được thành lập theo nội quy và chịu một kỷ luật thép của Lênin, kẻ đã khai sinh
ra QTCS..
Nhưng tổng hành dinh ấy, mặt trận ấy
không mấy người nhận thấy. Cho nên năm 1959 mới có lời cảnh báo khẩn cấp của
người sáng lập Viện Nghiên Cứu Chính Sách Ngọai Giao (FPRI), trong tác phẩm bán
chạy nhất của ông, được những nhà chính trị và ngọai giao nổi tiếng như Dean
Acheson, Henry Kissinger (lúc ấy còn là giáo sư đại học Havard) tán thành và
khuyên mọi người nên đọc để hiểu về Cộng Sản.
Đi sâu và xa hơn nữa, nếu đã gọi là
chiến tranh ý thức hệ, thì đúng ra ngay từ khi Mác và Ăng Ghen đưa ra tuyên ngôn
Cộng Sản đầu năm 1848 nó đã bắt đầu rồi. Nó đánh thẳng vào các nguyên lý cơ bản
về mọi vấn đề tư tưởng, luân lý, xã hội của lòai người và đã bị một số nhà tư
tưởng và lãnh đạo tinh thần phản kháng kịch liệt. Nhưng những người này chỉ nghĩ
đó là một cuộc bút chiến, hay tranh luận về tư tưởng. Chứ chưa biết đó là một
cuộc thế chiến về tòan bộ các vấn đề tư tưởng, học thuyết, xã hội, văn hóa,
chính trị v.v...
Trong số những người sớm nhìn ra mối
họa CS, phải kể đến giáo chủ Công giáo Pio IX với thông điệp (hay Tông Huấn,
Papal Encyclical) Qui Pluribus, ban hành ngày 6-11-1846. Nhìn vào ngày ban hành
này người ta không khỏi ngạc nhiên rằng trong khi Mác và Ăng Ghen còn đang cưu
mang bản tuyên ngôn CS, thì nhà lãnh đạo Công Giáo đã nhìn thấy bản chất xấu xa
của nó, và mối nguy nó sẽ có thể gây ra cho tòan thể nhân lọai. Có thể nói thế
chiến III đã nhen nhúm từ đó.
Trong thông điệp này có câu sau đây:
“Cái tà đạo được mệnh danh là chủ nghĩa CS này hòan tòan trái với luật tự nhiên.
Nó không thể thành lập mà không làm đảo lộn mọi quyền lợi và ích lợi là nguồn
gốc mọi của cải và cả xã hội”
(Còn tiếp)