Câu chuyện
từ nước Đức
Về chuyến tông du vừa qua của Giáo Chủ Biển-Đức XVI
Phạm Hồng-Lam
Khi tôi viết những
dòng này thì giáo chủ Biển-đức đang có mặt ở Palestina, chặng đường cuối cùng
của cuộc hành hương Đất Thánh. Sau ba ngày ở Giọc-đăng tiếp xúc với các giới
chức và một vị vua Hồi giáo có tinh thần bao dung đối với thiểu số Ki-tô giáo
trên đất nước ông, Giáo chủ tới Do-thái. Trong thời gian này, ngài đã tới Bê-lem
gặp gỡ chính giới của phần đất tự trị Palestina.
Cuộc tông du của giáo chủ Biển-đức,
trước hết, là một cuộc hành hương Đất Thánh (Lên núi Nebo để nhớ lại Mai-sen xưa,
tới Bê-lem thăm nơi Chúa sinh, về Na-da-rét hồi tưởng lại thời niên thiếu của
Chúa, vào cầu nguyện trước mộ thánh ở Giê-ru-sa-lem). Thứ đến là cuộc gặp gỡ
giữa ba tôn giáo độc thần (Ki-tô giáo, Do-thái giáo và Hồi giáo) và cuối cùng
cũng không kém quan trọng, là an ủi và khích lệ tinh thần những tín hữu Kitô của
ngài bị kẹt giữa hai lằn đạn thế quyền và thần quyền trên những phần đất ở Trung
Đông này.
Đây quả là một chuyến đi vô cùng tế
nhị. Nói như vị Thượng phụ Ki-tô giáo ở Giê-ru-sa-lem: Giáo chủ Biển-đức tới vào
một thời điểm khó khăn, trên những phần đất khó khăn và gặp những dân tộc rất
nhạy cảm. Ngài không thể tới với Do-thái mà bỏ qua các nước Ả-rập. Không thể tới
Do-thái mà lại không gặp gỡ dân tộc Palestina. Về mặt chính trị, Do-thái cần sự
có mặt của ngài để khẳng định chỗ đứng quốc gia họ, nhất là trong thời buổi chao
đảo hiện nay. Palestina cần sự có mặt của ngài để khẳng định tư thế độc lập dân
tộc.
Ngài tới Giọc-đăng, một quốc gia tương đối bao dung tôn giáo nhất trong thế giới
Hồi giáo, để nối tiếp cuộc đối thoại với Hồi giáo. Bài diễn văn trong đền
al-Hussein Bin-Talal ở thủ đô Amman trước đại diện các tôn giáo, vì thế, có thể
nói là bản văn quan trọng nhất trong chuyến hành trình.
« … Một số người ngày nay cho rằng
tôn giáo đã thất bại trong bản chất tạo đoàn kết và thuận hoà, nó không còn là
một phương tiện liên kết con người với Thiên Chúa. Một số còn cho rằng, tôn giáo
hẳn là một nguyên cớ gây chia rẽ trong thế giới và họ bảo, tốt nhất trong lãnh
vực công đừng nên quan tâm nhiều tới tôn giáo nữa. Dĩ nhiên ta không thể phủ
nhận những căng thẳng và chia rẽ trong các thành phần tôn giáo. Dù vậy, phải
chăng lắm khi chính việc lạm dụng tôn giáo cho í thức hệ và cho mục tiêu chính
trị mới chính là chất xúc tác cho những căng thẳng, chia rẽ, và đôi khi cho cả
những bạo động trong xã hội? Trước tình trạng những kẻ chống đối tìm cách không
những bịt miệng tôn giáo và tìm cách thay thế tiếng nói tôn giáo bằng tiếng nói
của họ, thì hơn lúc nào hết, các tín hữu lại càng phải gắn bó với các nguyên tắc
và niềm tin của mình. Tín hữu hồi giáo và kitô giáo, chính vì gánh nặng quá khứ
lịch sử với nhiều hiểu lầm giữa hai tôn giáo, ngày nay phải cố gắng nhận ra và
tái nhận ra nhau như là những kẻ thờ phượng Thiên Chúa; họ phải trung thành
trong cầu nguyện và quyết tâm tuân giữ và sống các lề luật của Thiên Chúa là
đấng từ bi nhân hậu; họ phải cùng nhau làm chứng cho sự Thật và sự Lành, luôn í
thức về nguồn gốc chung và về phẩm giá của mọi con người như là tạo vật đỉnh
điểm của công trình tạo dựng của Thiên Chúa đối với thế giới và lịch sử…. »
Và Biển-đức cũng đã thẳng thắn
nhắc lại chủ đề Lí Trí và Tôn giáo, mà ngài đã đề cập trong diễn từ nổi tiếng ở
Regensburg vào năm 2006 :
«Thưa các Bạn, hôm nay tôi muốn nhắc lại một nỗ lực mà tôi đã đề cập tới rất
nhiều lần và tôi tin chắc rằng tín Hữu hồi giáo cũng như Kitô giáo làm được, đặc
biệt qua những đóng góp của họ trong lãnh vực giảng dạy, giáo dục và lãnh vực
công. Đó là thách đố triển khai tiềm năng to lớn của Lí Trí con người cho mục
tiêu Thiện hảo và trong khuôn khổ Đức Tin và Sự Thật. Trong nhiều cách gọi
Thượng Đế, tín hữu Kitô giáo gọi Thiên Chúa là Lí Trí Sáng Tạo, Đấng ra lệnh và
điều khiển thế giới. Và Thiên Chúa làm cho ta có thể tham dự được vào Lí Trí của
Người và hoàn thành được điều thiện hảo phù hợp với Lí Trí đó. Tín hữu Hồi giáo
thờ phượng một Thiên Chúa tạo dựng trời đất và Người đã chuyện trò với nhân loại.
Là kẻ tin vào một Thiên Chúa duy nhất, chúng ta biết rằng chính Lí Trí con người
là một quà tặng của Thiên Chúa và Lí Trí này sẽ đạt tới đỉnh điểm khi nó được
soi sáng bởi ánh sáng Chân Lí Thiên Chúa. Đúng vậy, khi Lí Trí con người khiêm
tốn chấp nhận sự thanh tẩy bởi đức tin, nó sẽ chẳng yếu đi chút nào cả. Mà trái
lại, nó được tăng sức để chống lại sự võ đoán và vượt qua những giới hạn riêng
của nó. Với cách đó, Lí Trí con người được thúc đẩy để theo đuổi mục đích cao
đẹp là phục vụ con người, bằng cách diễn dịch những khát vọng chung sâu xa nhất
của ta và bằng cách mở rộng công luận, hơn là lợi dụng hoặc gạt bỏ nó. Như vậy,
việc thực sự gắn bó vào tôn giáo chẳng làm cho Lí Trí ta chật hẹp lại chút nào;
trái lại nó mở rộng chân trời cảm thông nhân loại. Nó che chở xã hội dân sự
tránh khỏi những quá lạm của cái Tôi ích kỉ chỉ muốn tuyệt đối hóa Hữu Hạn và
làm tối mù Vô Hạn. Gắn bó thực sự vào tôn giáo sẽ bảo đảm cho việc «tay trong
tay» song hành của Tự Do và Chân Lí, và nó làm cho văn hoá giàu thêm với những
cái nhìn liên quan tới tất cả những gì là Chân, Thiện, Mĩ.
Cách hiểu Lí Trí như trên đây sẽ càng
ngày càng đẩy Lí Trí con người vượt lên khỏi chính nó để tìm về Tuyệt Đối. Đó là
một thách đố. Nó khiến ta vừa hi vọng lẫn thận trọng. Tín hữu kitô và hồi giáo
đều được thúc đẩy đi tìm điều chân thật và đúng đắn. Chúng ta được gắn bó với
nhau trong nỗ lực vượt qua những cái lợi riêng tư và trong việc cổ động kẻ khác,
đặc biệt những công chức và những người có trách nhiệm, cùng hành động tương tự
để lòng họ có được tràn đầy thoả mãn trong việc phục vụ công ích, dù có bị thiệt
thòi cho riêng mình. Chúng ta đừng quên rằng chính phẩm giá chung của con người
là gốc xuất phát những nhân quyền phổ quát. Những nhân quyền này có giá trị cho
tất cả mọi người, bất kể đàn ông hay đàn bà, bất kể căn cước tôn giáo, bất kể
sắc tộc và thành phần xã hội. Với cái nhìn đó, chúng ta phải ghi nhớ rằng, quyền
tự do tôn giáo vượt trên việc phụng tự và bao hàm quyền – nhất là cho các nhóm
thiểu số - được tham gia vào thị trường lao động và vào lãnh vực đời sống công... »
Chuyến viếng thăm Thổ-nhĩ-kì trước đây chỉ là một mở đường dò dẫm, thận trọng,
nên Biển-đức chưa nói gì, chưa có được một đối thoại với Hồi giáo. Lần này,
trong không khí thân mật hơn, ngài đã nói khá nhiều, tuy vẫn chưa hết được những
gì cần nói. Chỉ trong mấy đoạn trên, đặc biệt trong đoạn cuối cùng, ngài đã nói
lên những điều tâm huyết mà có lẽ còn xa lạ và khó nghe đối với tâm thức Hồi
giáo.
Trong bài diễn văn ở Bê-lem, trước
mặt quan khách chính quyền Palestina, Giáo chủ đã nói lên quan điểm của Giáo hội
công giáo trong việc giải quyết xung đột triền miên tại phần đất này. Đó là giải
pháp hai quốc gia. Vatican mong muốn Palestina được trở thành một quốc gia độc
lập. Vatican muốn Do-thái sớm chấm dứt việc phong toả dải đất Gaza. Một phát
biểu rõ ràng, nặng tính chính trị như thế có thể gây khó chịu cho những người
Do-thái cực đoan. Không biết nó có trở thành đề tài đàm tiếu «xen lấn chuyện nội
bộ quốc gia» đối với chính quyền cực hữu Nehantahu của Do-thái hay không.
Chờ xem.
Thông điệp gởi tới Hồi giáo và dân
tộc Palestina, như vậy, là một thành tố quan trọng của chuyến đi. Nhưng truyền
thông tây phương, với khuynh hướng lèo lái cố hữu, đương nhiên chẳng đề cập gì
tới yếu tố đó. Họ chỉ tập chú và hướng dư luận vào tương quan giữa Giáo hội Công
giáo và Do-thái mà thôi. Cũng như vừa rồi đây truyền thông này đã dìm cuộc tông
du của một Giáo chủ viếng thăm con chiên của ngài trên đại lục Phi châu vào mấy
chữ «bao cao xu». Thật quái lạ và bẩn thỉu. Không hiểu các nơi khác ra sao, chứ
mấy hệ thống truyền thông lớn ở Đức thảng hoặc chỉ đưa một tin ngắn, nhưng luôn
kết thúc bằng điệp khúc Biển-đức cấm dùng bao cao xu! Nghe ra thì tưởng như
người ta đồng cảm thương khóc cho số phận bi đát của cả lục địa châu Phi đang
phải chết dần chết mòn với bệnh liệt kháng vì Giáo hội Công giáo cấm dùng túi
ngừa thai!! Nhưng càng nghĩ càng thấy đau, vì rõ ràng đám truyền thông tây
phương da trắng xem ra chỉ muốn nhục mạ cả một lục địa da đen. Họ đánh giá nhân
phẩm trên lục địa này chẳng hơn cái túi cao su được họ phát minh và rao bán.
Trước kia, họ chửi Giáo hội Công giáo về chuyện cấm ngừa thai, đổ cho Giáo hội
âm mưu như thế để tăng nhanh số tín hữu. Nhưng khi thấy thực tế khác hẳn với suy
nghĩ của họ, thì giờ đây lại đổ cho Giáo hội là kẻ giết dân châu Phi! Không biết
rồi đây họ sẽ ra chiêu nào tiếp? Chưa bao giờ thế lực chống tôn giáo tỏ ra hung
hăng và lếu láo như hôm nay. Vả lại, chuyện túi cao xu cũng chỉ là một xuyên tạc
trơ trẽn. Người ta lượm í từ một câu trả lời của Biển-đức và thổi phồng lên.
Các Giáo chủ có lệ họp báo trên phi
cơ trong mỗi lần tông du. Trên chuyến phi cơ bay tới Phi châu vừa qua có khoảng
70 nhà báo tháp tùng. Trước khi họp báo, trưởng phòng báo chí Toà Thánh, LM
Lombardi, yêu cầu các phóng viên viết ra câu hỏi. Trong số 30 câu nhận được,
linh mục Lombardi đã chọn ra 6 câu, đây là những câu có liên quan trực tiếp với
chuyến đi và có lẽ ai cũng muốn nghe. Và ông yêu cầu 6 vị liên hệ lần lượt trực
tiếp nêu những câu hỏi đó với đức Thánh Cha. Mở đầu là Lucio Brunelli của đài
truyền hình Í hỏi về «nỗi cô đơn» của Giáo chủ sau vụ Williamson và cảm tưởng
của ngài về chuyến tông du. Câu hỏi thứ tư là của Philippe Visseyrias của đài
«France 2»:
«Thưa ngài, một trong những điều
không may mà Phi châu đang gặp đặc biệt là bệnh liệt kháng lan rộng. Quan điểm
của Giáo hội trong việc giải quyết vấn nạn này thường tỏ ra thiếu thực tế và vô
hiệu quả. Ngài có đề cập tới chuyện này trong chuyến tông du không?»
Giáo chủ trả lời:
«Quan điểm của tôi có lẽ trái
ngược ông. Tôi nghĩ thực tế hữu hiệu và dễ thấy nhất trong việc chống lại căn
bệnh lây lan kia chính là Giáo hội Công giáo với những phong trào và những cơ
cấu khác nhau của nó. Tôi nghĩ tới Cộng đoàn Thánh Edigio, là cộng đoàn đã làm
rất nhiều – vừa lộ diện lẫn kín đáo – trong việc chống lai bệnh Aids. Tôi nghĩ
tới các tu sĩ Kamillian, tới nhiều chuyện khác, tới các nữ tu chăm sóc các bệnh
nhân... Tôi có thể nói rằng, ta không thể giải quyết bệnh Aids được chỉ bằng
tiền mà thôi, dù tiền thật sự cần thiết. Nhưng nếu tâm hồn không cộng tác vào,
nếu những người châu Phi không cùng giúp vào (nhận lấy trách nhiệm của họ), thì
việc phát túi cao su cũng chẳng giải quyết gì được. Trái lại, điều đó càng làm
cho vấn nạn lớn rộng thêm. Việc giải quyết chỉ có thể thành tựu bằng những nỗ
lực hai mặt: Thứ nhất là bằng việc nhân bản hoá tình dục, nghĩa là bằng việc đổi
mới tinh thần và con người, sự đổi mới này sẽ dẫn tới một cách ứng xử mới trong
cách giao tiếp nam nữ; thứ hai là làm sao có được một tình huynh đệ thật sự cả
với và nhất là đối với người đau khổ, làm sao có được sự sẵn sàng phục vụ họ,
cho dù cá nhân phải hi sinh và phải từ bỏ những cái riêng của mình. Đó là những
yếu tố giúp ích và tạo tiến bộ thấy được. Vì thế, tôi có thể nói rằng, đây là
chuyện liên quan tới sức mạnh hai mặt của chúng ta, một đàng là đổi mới con
người từ bên trong, trao cho họ sức mạnh thiêng liêng và nhân bản để họ có được
lối ứng xử đúng đắn với chính thân xác họ và thân xác của người khác, và đàng
khác là khả năng cùng đau khổ với người đau khổ, làm sao cùng hiện diện với
những người đau khổ trong những cơn thử thách tinh thần của họ. Theo tôi, có lẽ
đó là câu trả lời đúng đắn, và Giáo hội làm điều đó và đang đóng góp một phần
rất lớn và rất quan trọng. Chúng ta hãy cám ơn tất thảy những ai đang làm chuyện
đó.»
Đối với người viết bài này, đó là một
câu trả lời tuyệt diệu, vừa hợp với quan điểm và khả năng của một vị lãnh đạo
tinh thần, vừa hợp với thực tế trên lục địa châu Phi. Dĩ nhiên đối với quan điểm
tự do phóng đãng của đám đông tây phương thì câu trả lời trên là mơ hồ, thiếu
thực tế và vô hiệu. Không khác chi cảnh trước một lực sĩ thua cuộc, có người
huấn luyện khuyên anh ta phải rán tập luyện găng hơn, kỉ luật hơn. Cùng lúc đó
một huấn luyện viên khác lại khuyên anh nên dùng thuốc kích lực (dopping) cho
mau và chắc ăn! Truyền thông tây phương kì vừa qua cổ vũ cho giải pháp thứ hai
này và xuyên tạc khinh chê giải pháp thứ nhất. Mà không những mấy tay truyền
thông mà thôi. Một sự lạ chưa bao giờ thấy, là quốc hội nước Bỉ cũng đã biểu
quyết chấp thuận một quyết nghị phản đối việc cấm dùng bao cao su của giáo chủ
Biển-đức !! Chuyện nực cười. Một quốc gia mà từ một năm nay vì chia rẽ tiếng nói
giữa hai nhóm dân biểu không thể nào lập nổi được một chính phủ cho ra hồn, vậy
mà mấy ông bà dân biểu này lại tạm bỏ qua được chia rẽ để đồng lòng lên án Giáo
chủ Công giáo! Hay chăng vì quá mỏi mệt (Stress) với đất nước nên họ bày ra
chuyện giải trí cho khuây khoả? Tiếc thay, lối giải trí này sau đó cũng được mấy
ông bà trong đảng Quá Khích (Radical) ở Í kết hợp với một số đồng chí các nước
khác mang ra quốc hội Âu châu đòi biểu quyết tiếp. Cũng may hơn 600 dân biểu tại
đây không phải đều là nghị gật cả nên nghị quyết kia đã không đủ túc số thuận.
Thôi, bỏ qua Âu châu trở về với
chuyện công du Do-thái. Sau ba «tai nạn» liên tiếp từ đầu năm tới nay (vụ
Williamson, vụ em bé mang thai ở Ba-tây và vụ «túi cao xu» - dĩ nhiên những «tai
nạn» này không nhất thiết do Biển-đức gây ra), người ta phập phồng chờ đợi tai
nạn tiếp của Biển-đức ở Do-thái. Giáo chủ tới Do-thái với một hành trang nặng
vai. Ngoài tư cách là đại diện cho một Giáo hội «có vấn đề » với Do-thái trong
quá trình hai ngàn năm nay, đây cũng là chuyến đi của một người Đức thuộc thế hệ
chiến tranh sang thăm một đất nước được hình thành do sự giết chóc của người Đức.
Trong túi hành trang của Biển-đức còn có việc chuẩn bị phong chân phước cho giáo
chủ Piô XII, còn có việc giải vạ tuyệt thông cho Huynh Đoàn Thánh Piô trong đó
có giám mục Williamson, còn có việc không chịu bỏ lời cầu trong ngày thứ sáu
tuần thánh, lời nguyện mà một số người Do-thái coi là có âm mưu truyền giáo cho
dân Do-thái. Vì thế, người ta đã chờ đợi một lời xin lỗi của Giáo chủ về vụ
Schoa, một phát biểu liên quan tới vụ Williamson, một quyết định bỏ lời nguyện...
Và người ta đã thất vọng, vì đã chẳng có gì xẩy ra. Đã không có xin lỗi về Schoa
trong 45 phút Biển-đức trịnh trọng viếng và đặt vòng hoa tưởng niệm các nạn nhân
Schoa ở đài Yad Vaschem. Đã không có chương trình tham quan Viện bảo tàng Yad
Vaschem, vì nơi đây có treo một tấm tranh vẽ giáo chủ Piô XII trong tư thế vô
tâm trước biến cố Shoa trong thế chiến II, Vatican phản đối tấm hình này. Người
ta muốn gán cho Giáo hội Công giáo, đặc biệt cho giáo chủ Piô XII, tội đồng loã
trong việc Hitler giết Do-thái và muốn thấy Giáo hội công khai nhận tội! Dĩ
nhiên lịch sử đã không hẳn như người ta nghĩ, và trong thực tế nhờ giáo chủ Piô
XII mà đã có hàng ngàn, nếu không nói hàng chục ngàn người Do-thái đã thoát được
cái chết. Trong chuyến công du trước đây, giáo chủ Gio-an Phao-lô II đã bước vào
Viện bảo tàng sau khi tấm tranh kia đã được tháo gỡ.
Còn chuyện lời nguyện? Biển-đức có bỏ
được không, và ngài đã làm gì? Năm 2007, trong khi Vatican chuẩn bị Tự sắc cho
phép dùng lại nghi thức phụng vụ cũ đồng thời cho sửa lại lời nguyện đã có từ
khoảng năm 592, một Đại giáo trưởng Do-thái (Oberrabbiner) từ Giê-ru-sa-lem viết
thư yêu cầu giáo chủ Biển-đức xét lại lời nguyện. Lời nguyện nguyên thuỷ mở đầu
với câu: «Oremus et pro perfidis Judaeis» (Chúng ta hãy cầu cho dân Do-thái bất
trung). Vấn đề là chữ «bất trung». Năm 1959, giáo chủ Gio-an 23 tự tay xoá đi
chữ này khỏi lời nguyện. Nhưng vấn đề «perfidis» không chỉ mới có từ Gio-an 23.
Vào năm 1928, khi phong trào bài Do-thái ở Âu châu lên cao, hội «Amici Israel»
đã gởi thư yêu cầu Toà Thánh sửa chữ này. «Amici Israel» là một Hội thành lập
trước đó hai năm ở Rô-ma gồm 3000 linh mục, 328 giám mục và tổng giám mục cùng
19 hồng i, mà nhân vật khởi động trụ cột là bà Sophie Franciska va Leer, một phụ
nữ Do-thái trở lại Công giáo ở Hoà-lan. Đề nghị đó đã gây chấn động ở Rô-ma.
Giáo chủ Piô XI thời đó chuyển thư cho Bộ phụng tự xét. Bộ này đồng í nên sửa từ
perfidis, vì từ này hiện nay đã mất đi cái nghĩa ban sơ của nó và mang nghĩa
không hay trong ngôn ngữ hiện hành. Hồ sơ được chuyển tiếp sang «Sant´ Ufficio»
(nay là Bộ giáo lí đức tin) để duyệt xét tiếp về mặt tín lí. Sant´ Ufficio sau
khi xem xét, cho biết không cần phải sửa gì cả, vì những lí do như sau: Phụng vụ
này đã có quá lâu rồi; Amici Israel cũng chỉ là một Hội đoàn mang tính cách tư
nhân; lời nguyện ở đây không mang tính chất truyền giáo cho Do-thái như Amici
Israel lo nghĩ, và chữ perfidis chỉ muốn nhấn mạnh tới sự chống đối và bất trung
của dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn xưa; nếu sửa nó thì đó sẽ là một chuyển
dịch từ Vương quốc Chúa Cha sang Vương quốc Chúa Con. Và kết cuộc giáo chủ Piô
XI đã không cho sửa. Amici Israel sau đó bị buộc phải giải tán. Trong văn bản
quyết định giải tán Hội, giáo chủ Piô XI cực lực lên án chủ trương bài Do-thái
lúc đó, và ngài còn viết: Giáo hội sẽ luôn luôn tiếp tục chống lại mọi chủ
trương bách hại người Do-thái bất cứ ở đâu. Lịch sử trên đây mới được một sử gia
Đức phổ biến năm 2004 (Hubert Wolf trong Historische Zeitschrift Heft, 279/3,
2004), sau khi tìm ra được một trang tài liệu ngắn trong kho hồ sơ của Bộ tín lí,
khi Bộ này cho bạch hoá hồ sơ thời giáo chủ Piô XI để làm thủ tục phong chân
phước cho ngài.
Chữ perfidis không còn nữa từ năm
1959. Và lời nguyện giờ đây đã được giáo chủ Biển-đức sửa lại như sau : « ...
Xin Thiên Chúa soi sáng tâm họ, để họ nhận ra Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng cứu chuộc
mọi người... Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Ngài muốn tất cả mọi người đều
được cứu rỗi và nhận ra Sự Thật, xin thương xót cứu vớt cả dân tộc Israel trong
ngày mà hết mọi dân tộc bước vào Giáo hội của Ngài...». Lời nguyện là một ước
mong mang tính chất cánh chung, nghĩa là mong ước vào ngày sau hết trong mái nhà
chung của Thiên Chúa cũng có sự hiện diện của dân tộc Do-thái.
Augsburg, 15.05.09