Từ Bauxite Tây Nguyên tới điện hạt nhân Ninh Thuận
Thảm họa khôn lường

Lê Thiên

         Từ cuối năm 2008 sang đầu năm 2009 đến nay, người dân Việt Nam trong nước càng ngày càng bất bình đối với đảng CS và Nhà nước xhcn về nhiều vấn đề, đáng kể nhất là đối với vụ “chuyển nhượng” đất-biển vùng biên giới Việt-Hoa cho Trung Cộng, vụ mất chủ quyền trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các vụ đàn áp tôn giáo cùng những hành vi sách nhiễu các nhà hoạt động đấu tranh cho nhân quyền, dân quyền và các quyền tự do chính đáng của con người…
        Bên cạnh những bất bình trên, các tầng lớp dân chúng trong nước đặc biệt tỏ rõ sự phẫn nộ đối với chủ trương của Đảng và nhà nước trong việc dành cho Trung Cộng quyền khai thác bauxite ở Tây Nguyên, gây nguy hại đến môi trường, đến đời sống người dân và đến tương lai tồn vong của đất nước.

Dự án bauxite Tây Nguyên
        Từ những đảng viên cao cấp và lão thành của Cộng sản Việt Nam (Đại tướng CS Võ Nguyên Giáp tới ba lần lên tiếng can ngăn dự án, Thiếu tướng CS Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiến tướng Công an CS Lê Văn Cương) cho tới giới luật sư (Lê Công Định…), các nhà khoa học (Ts Nguyễn Thành Sơn, TS Lê Đăng Doanh), nhà văn (Nguyên Ngọc, Phạm Đình Trọng), nhà báo (Nguyên Ngọc, Lê Phú Khải), nhà hoạt động chính trị (Lê Chí Quang, Bùi Tín, Nguyễn Thanh Giang) và cả giới sinh viên học sinh đều sôi sục những tiếng nói vừa trung trực vừa chất chứa nỗi đau đầy uất hận. Thậm chí, hàng ngàn dân chúng trong lẫn ngoài nước cũng rầm rộ ký tên vào các kiến nghị gửi tới nhà cầm quyền
        Một cuộc Hội thảo giữa các nhà khoa học Việt Nam được diễn ra tại Hà Nội ngày 09/4/2009 do nhà cầm quyền Cộng sản VN tổ chức đặt dưới sự đạo diễn của một ông phó thủ tướng (Hoàng Trung Hải) nhằm mục đích “định hướng” các nhà khoa học đi theo con đường của đảng, đồng hành với “chủ trương lớn” của Đảng và nhà nước xhcn.
        Điều không ngờ là trong cuộc hội thảo, ngoại trừ vài trí thức gia nô hoạt đầu chủ hát tớ vỗ tay, số còn lại các nhà khoa học, sử học, chính trị… đã không ngần ngại lên tiếng báo động về mối đe dọa nghiêm trọng của dự án trong mọi mặt chính trị lẫn môi trường sinh thái.
        Ông Nguyễn Ngọc Chất chỉ ra thảm hoạ môi trường. Ông Nguyễn Trung nói tới sự tốn kém, thiệt hại cho cuộc sống do các bãi thải. Nhà văn Nguyên Ngọc cảnh báo về thảm hoạ văn hoá Tây nguyên. Tướng CA Lê Văn Cương nêu lên vấn đề an ninh - quốc phòng. Tiến sĩ Phạm Duy Hiển thẳng thắn yêu cầu ngừng dự án vì nhiều bất cập và nguy hiểm từ dự án ấy. Nhà sử học Dương Trung Quốc cảnh báo: “Bỏ qua lịch sử Tây Nguyên sẽ lãnh đủ.”
        Không phải chỉ ngần ấy nhân vật mà có tới hàng trăm trí thức Việt Nam (cụ thể có hơn 135 vị đồng ký một bản kiến nghị gửi lên Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng) can gián “triều đình nhà Cộng” chớ nên lún sâu vào tội ác hủy diệt đất nước và dân tộc!
        Báo Tự Do Ngôn Luận số 71, ngày 15-03-2009, phát hành “chui” trong nước, chỉ cho mọi người thấy đâu là diện, đâu là điểm trong cái gọi là dự án quặng bauxite Tây Nguyên: “Rõ ràng vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên hiện nay chỉ là ‘diện’, là cái cớ bên ngoài, còn việc Trung Cộng chiếm hữu vùng đất đó làm căn cứ để thanh toán Việt Nam trong tương lai gần là ‘điểm’, là thực chất bên trong. Các nhà nghiên cứu chiến lược Trung Cộng cũng từng nói đến điều đó.”
        Về phía tôn giáo, ngày 25/4/2009, con số 5.000 giáo dân tập trung về Nhà thờ Thái Hà (Hà Nội) dự thánh lễ cầu nguyện cho vấn đề bauxite Tây nguyên là một chứng minh về lòng yêu nước nồng nàn và sâu sắc của người công dân Công giáo. Bên cạnh đó, các nhà tu hành như Hòa thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Lê Quang Uy (DCCT) cũng thao thức trăn trở trước dự án bauxite đầy bất trắc cho dân tộc.
        Riêng Lm Lê Quang Uy trong bài “Hãy cứu lấy Tây Nguyên khỏi thảm họa Bauxite đỏ!” ngày 25/4/2009, đã thiết tha kêu gọi người Công giáo Việt Nam đừng im lặng nữa như trước đây, vì im lặng là “rơi vào bi kịch đồng lõa với thế gian độc ác.” Ngài viết: “Chúng ta biết nhiều tội ác đã và đang hoành hành trên quê hương chúng ta. Phá thai mấy triệu ca một năm suốt nhiều năm qua. Chúng ta đã im lặng. Nay Bauxite Đỏ có tác hại đến Sự Sống con người ra sao, chúng ta đọc và nghe hết, hiểu hết. Chúng ta lại vẫn im lặng. Và như thế chúng ta cũng sẽ rơi vào bi kịch đồng loã với thế gian độc ác, với những kẻ muốn giết chính ‘Đấng đã khơi nguồn Sự Sống!’”
        Cha Uy phác họa bức tranh thời sự tại Việt Nam hiện nay: “Chúng tôi thấy các nhà trí thức, đa số ở Hà Nội, đã … viết một kiến nghị, lấy chữ ký mấy trăm kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo để gửi cho nhà cầm quyền, đòi ngưng lại mọi sự đang diễn ra ở hai tỉnh Đăknông và Lâm Đồng.”
        Từ đó, linh mục tác giả bài viết nói lên ước vọng của Cha đối với phía Công giáo: “Phải có một kiến nghị của phía Hội Thánh Công Giáo nữa chứ, mặc dù chúng ta dư biết có ‘kiến’ cách mấy thì người ta cũng chẳng thèm ‘nghị’ đâu, nhưng ít ra đây sẽ là tiếng nói của chính lương tâm chúng ta.”
        Ước vọng của Cha Uy nhanh chóng đạt kết quả ban đầu với sự hưởng ứng của hàng trăm người cả lương lẫn giáo rầm rộ tham gia ký tên vào “kiến nghị” đòi nhà cầm quyền CSVN hãy ngưng ngay dự án bauxite.
        Thế nhưng các bậc “phụ mẫu chi dân” thời hiện đại đâu thèm đếm xỉa tới việc “dân biết,” “dân bàn,” mà cứ trước sau như một rằng dự án bauxite là “chủ trương lớn, chủ trương đúng đắn của đảng ta.” Vâng! Dự án ấy là việc của đảng chứ đâu phải việc của nhà nước, việc của chính phủ hay việc của quốc hội! Càng không phải là việc của dân! Cho nên, việc “dâng điều trần” (kiến nghị) lên ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Trết, ông chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuy là việc chính đáng, nhưng như vậy có lẽ là gửi nhầm địa chỉ nên bản “điều trần” (tức kiến nghị) phải chịu thiệt thòi vì bị coi là giấy lộn đáng quẳng sọt rác. Chẳng có lấy một chữ hồi âm!
        Địa chỉ chính xác phải chăng là đảng CSVN? Phải! Nó là cái gốc của cơ chế đảng trị hiện nay tại Việt Nam. Quyền lực tối cao chính là đảng mà Bộ Chính trị là cơ quan đầu não duy nhất có thẩm quyền hoạch định và kiểm soát việc thực thi mọi chủ trương và quyết sách liên hệ tới đất nước và dân tộc mặc dầu đất nước và nhân dân chưa bao giờ ủy thác cho cái đảng ấy hay Bộ Chính trị ấy bất cứ quyền lực lớn nhỏ nào! Còn những thứ gọi là Quốc hội, là Nhà nước, là Chính phủ… chỉ toàn là râu ria!
        Bởi thế, không ai ngạc nhiên khi ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thái độ ởm ờ hứa cuội với ông Tướng Giáp hay với những tiếng nói phản kháng về dự án bauxite! Ông ấy làm sao có được thái độ dứt khoát trước một quyết định không phải do ông! Quả vậy, bởi vì cuối cùng đảng của ông Dũng không thể núp sau lưng ông mãi như hồi thời vô sản chuyên chính. Bằng thông báo do một Ủy viên Bộ Chính trị, ông Trương Tấn Sang, thay mặt Bộ Chính trị ký ngày 24/4/2009, đảng CSVN nhìn nhận dự án bauxite Tây Nguyên là của đảng, do đảng chủ trương. Lại nhấn mạnh đó là chủ trương lớn. (Thông báo số 245- TB/TW).
        Qua bằng chứng này, chúng ta thấy ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày nay là hình ảnh của ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng thời điểm 1958. Cả hai cùng hành xử giống hệt nhau – mặc dầu việc làm của họ xảy ra ở hai thời điểm cách nhau xa đến 51 năm – hơn nửa thế kỷ: Cả hai thực sự chỉ là những công cụ vô tri, vô giác, vô tâm, vô cảm của Đảng CSVN! Bộ Chính trị Đảng CSVN hồi năm 1958 chính là tác nhân, là tên tội đồ đứng đằng sau Phạm Văn Đồng hiến đảo cho Tàu Cộng qua bản công hàm do ông Đồng ký tên. Cũng vậy, Bộ Chính trị Đảng CSVN ngày nay là thủ phạm đứng đằng sau Nguyễn Tấn Dũng dâng Tây Nguyên cho Trung Cộng qua dự án bauxite!
        Trong khi khẳng định dự án bauxite là “chủ trương lớn,” bản thông báo số 245- TB/TW không quên lặp lại điệp khúc cố hữu lên án “thế lực thù địch, phản động, âm mưu chống phá” đằng sau các ý kiến, kiến nghị.
        Sinh mạng con người đồng chủng, đồng loại, “đảng ta” đã từng “sáng suốt” xử lý tiêu diệt hàng loạt để làm tế vật hiến cho Tàu Cộng (Cải cách Ruộng đất, Trăm hoa đua nở, Vụ án xét lại chống Đảng – chống Trung Cộng) thì sá gì một Hoàng Sa Trường Sa, một Bản Giốc, một ải Nam Quan, một giải đất biên giới, một vùng lãnh hải hay một Tây Nguyên!
        Thế nên, chúng ta không ngạc nhiên về “chủ trương lớn” của đảng CSVN trong dự án khai thác bauxite đang được “phe ta” tung hô là một “chủ trương cực kỳ sáng suốt.” Trong thực tế, dự án này báo hiệu một viễn ảnh đen tối về mặt chiến lược và chính trị ảnh hưởng tai hại tới sự sống còn của dân tộc và đe dọa nghiêm trọng chủ quyền đất nước. Đó là lý do khiến vấn đề bauxite Tây Nguyên trở thành đề tài thời sự nóng bỏng thu hút mối quan tâm của mọi tầng lớp người dân Việt Nam trong toàn xã hội.
        Có lẽ vì vậy mà một dự án khác đang bị che khuất dù đã có nhà khoa học đã lên tiếng báo động từ nhiều năm nay, và dù dự án này cũng đang manh nha đe dọa một cách trầm trọng môi trường đất nước và sự sống còn của đồng bào trong nước.
        Dự án ấy là dự án nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận, chúng tôi mạo muội trình bày sau đây.

Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận
        Cũng như với dự án bauxite Cao Nguyên, khi nhà cầm quyền CSVN toan tính bước một “bước nhảy vọt” với cái gọi dự án nhà máy ĐHN, nhiều chuyên gia và nhà khoa học Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước đều gióng lên tiếng chuông báo động. Song tiếng chuông ấy lại rơi vào thinh không, chẳng ai thèm đếm xỉa tới.
        Ngày 20/10/2008 trên báo Dân Trí, trong bài viết nhan đề “Xây nhà máy điện hạt nhân: Thận trọng không thừa,” tác giả Nh. Khanh ghi nhận: cái thời khắc lịch sử đó (thời khắc xây dựng nhà máy ĐHN) được dự kiến bắt đầu vào năm 2017. “Công chúng còn chưa hết phân vân tại sao ta xây nhà máy ĐHN vào lúc mà mấy nước văn minh như Đức, Thụy Điển... lại phải lo đưa chúng xuống nghĩa địa, thì mới đây, từ cuộc trình diễn do Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản tổ chức tại Việt Nam, cái thời khắc đó lại còn được bắn vọt lên năm 2012.” Nghĩa là người ta vội vàng tiến hành thực hiện dự án trước thời điểm dự trù tới 5 năm trong khi những bước chuẩn bị cần thiết về nhân sự chuyên môn, kỹ thuật hạt nhân và pháp lý bảo vệ an toàn xã hộ từ phía Việt Nam hãy còn là con số không.
        Theo dự án, Việt Nam sẽ thiết lập 2 nhà máy điện hạt nhân đều đặt trong khu vực tỉnh Ninh Thuận:
        * Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1: Nằm ven biển, tại xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
        * Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 2: Nằm ven biển, tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, cách TP Phan Rang -Tháp Chàm khoảng 20km về phía nam, cách Sài Gòn 380km.
        Trước khi có bài viết của tác giả Nh. Khanh nêu trên, năm 2004, tức cách đây 5 năm, người ta đã đọc thấy một bài viết của nhà khoa học Phạm Duy Hiển, chuyên gia hàng đầu về nguyên tử của Việt Nam. Bài viết ấy nhan đề “Điện hạt nhân: Tại sao phải vội?” đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật ngày 11/01/2004.
        Nội dung và cách hành văn của hai bài viết giống nhau gần như hoàn toàn, đến nỗi báo chí ở Việt Nam cho rằng tác giả Nh. Khanh nào đó của bài viết năm 2008 đạo văn bài viết năm 2004 của tác giả Phạm Duy Hiển. Nhưng chúng tôi ngờ rằng Phạm Duy Hiển tác giả bài viết năm 2004 cũng là tác giả của bài viết năm 2008, ký dưới bút hiệu Nh. Khanh, để tránh “rắc rối phiền nhiễu” từ phía nhà cầm quyền Việt Nam chăng?
Cả hai bài viết (1) “Điện hạt nhân: Tại sao phải vội?” và (2) “Xây nhà máy điện hạt nhân: Thận trọng không thừa” đều đưa ra những luận chứng khoa học báo động nguy cơ và hậu quả vô cùng tai hại cho người dân trong nước nếu nhà cầm quyền CSVN cứ liều lĩnh cho xây dựng và vận hành Nhà máy ĐHN.
        Những con số thống kê từ những lò ĐHN ở Nhật được nêu ra khiến ai nấy kinh hoàng, chỉ trừ đám quan chức CSVN: “Tai nạn xảy ra ở nhà máy xử lý nhiên liệu Tokaimura năm 1999 do những sai sót hết sức ngớ ngẩn đã làm chết hai kỹ thuật viên, 600 người bị chiếu xạ, 320.000 người dân địa phương được yêu cầu không ra khỏi nhà.”
        Và rồi, “theo kết quả thăm dò dư luận của Asahi Shimbun ngày 9-10-2002, số dân Nhật sợ ĐHN đã tăng vọt lên đến 86%.”
        Sau khi nêu ra những bất cập về các mặt như chuyên gia ĐHN, trình độ quản lý ĐHN, sự yếu kém về pháp lý, khó khăn về các thiết bị cho ĐHN, tác giả của hai bài báo cùng quả quyết: “Chính trình độ yếu kém về tri thức công nghệ, quản lý công nghiệp và hệ thống pháp lý sẽ là mảnh đất lý tưởng để tham nhũng, hối lộ và nạn làm dối, làm ẩu hoành hành. Mà một khi nhốt chung ba quái vật ấy lại với ĐHN thì đó mới thật sự là mối đe dọa cho đất nước.”
        Tại Việt nam hiện nay, dân cả nước đều nắm rõ thực chất của phong trào Xây Cất ồ ạt các công sự nhà nước do các quan chức lớn nhỏ tranh nhau làm chủ xây cất. Không XÂY lấy gì mà CÂT! Có XÂY được nhà máy ĐHN, người ta mới có hàng khối đô la Mỹ CẤT túi! Cho nên, nhận định của hai bài viết trên rất đáng suy ngẫm: Tham nhũng, hối lộ hoành hành, tất nhiên làm dối, làm ẩu cũng lộng hành. Còn hậu quả từ tham nhũng và làm dối thế nào thì thây kệ, sống chết mặc bây!
        Hai bài báo đều đưa ra kết luận: “An toàn của ĐHN là bất cập.” Nghĩa là ĐHN tại Việt Nam chẳng an toàn chút nào cho người dân Việt. Và tất nhiên hàng trăm ngàn người dân trong tỉnh Ninh Thuận và vùng phụ cận thuộc ba tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận và Lâm Đồng sẽ triền miên sống trong nơm nớp lo sợ bị đe dọa trực tiếp.
Nhà khoa học nguyên tử Phạm Duy Hiển còn nêu rõ, “tình hình nước Việt Nam hiện nay chưa cần thiết phải ‘dan díu đến lò điện hạt nhân ít nhất là sau năm 2030’ bởi vì tính chất quá nguy hiểm của nó khi điều kiện và phương tiện để bảo trì nhà máy của Việt Nam còn quá ư là hạn chế.”
        Trong bài viết “Lộ trình 5 bước cho dự án nhà máy điện hạt nhân” trên Tia Sáng ngày 31/3/2009, Tiến sĩ Đào Tiến Khoa, Viện Khoa Học và Kỹ Thuật Hạt Nhân của Việt Nam cảnh báo: “một số đồng bào ở Ninh Thuận, địa điểm được chọn để xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên, ... đang tìm cách bán đất và nhà cửa để đi định cư nơi khác vì những lo lắng về rủi ro tiềm ẩn nguy hiểm của ĐHN.”
        Nỗi lo của người dân đang sống trong tỉnh Ninh Thuận cũng đang là nỗi lo của người dân Ninh Thuận hải ngoại đối với số phận của bà con ruột thịt đồng bào, đồng loại của mình ở quê nhà, như ta đọc thấy trong Thư kháng nghị gửi cho nhà cầm quyền CSVN về nhà máy ĐHN của Hội Ðồng Phát Triển Văn Hóa Xã Hội Champa tại Hoa Kỳ ngày 25/8/2008 với hàng chục chữ ký của các nhân vật dân tộc Chăm gốc Ninh Thuận và Bình Thuận, như: Andrew Tu, Thành Phú Bá, Kiều Đại Thọ, Tài Đại An, Dương Tấn Sở, Đạt Lãnh, Từ Công Thu, Thành Ngọc Có… vân vân.
        Các tác giả kháng thư trích thuật từ báo Ninh Thuận lời cảnh báo của ông Trương Xuân Thìn, lúc đó là Phó Bí thư (nay là Bí thư) tỉnh ủy Ninh Thuận, “về sự hoang mang và lo sợ của nhân dân địa phương khi nghe tin Chính quyền Trung ương sẽ đặt nhà máy ĐHN tại khu Sơn Hải thuộc tỉnh Ninh Thuận. Vì rằng địa bàn Ninh Thuận là khu lòng chảo bao quanh bởi những dãy núi cao, chỉ vùng Sơn Hải là cửa ngõ duy nhất của luồng gió biển thổi vào đất liền. Hơn nữa xứ này nổi tiếng về nắng và gió, nếu không may có sự cố lò điện hạt nhân bị hư hỏng thì hậu quả thật là khôn lường.”
        Ai đi qua Ninh Thuận cũng đều cảm nghiệm sức gió mạnh của mùa gió bấc ở tỉnh này. Đà Lạt, Nha Trang, Cam Ranh, Bình Thuận là những khu vực láng giềng của Ninh Thuận, cách xa tỉnh này trong vòng từ 50 km (Cam Ranh) tới 150 km (Bình Thuận) đều bị ảnh hưởng ít nhiều bởi luồng gió khắc nghiệt ấy. Cho nên, nếu tai nạn rò rỉ hạt nhân xảy ra từ một trong hai Nhà máy ĐHN ở tỉnh Ninh Thuận thì chẳng những dân Ninh Thuận sẽ lãnh đủ hậu quả mà các vùng phụ cận nêu trên cũng nhận lấy tai họa vì sức gió sẽ phát tán phóng xạ nhanh chóng.
        Kháng thư nêu trên cảnh báo: “Kiến thiết lò điện hạt nhân trên địa bàn Sơn Hải của tỉnh Ninh Thuận và cũng là địa đầu của tỉnh Bình Thuận chắc chắn không thuận lợi cho việc bảo toàn môi trường nhân sinh của người dân, nhất là dân tộc Chăm đang sống co cụm trong khu vực mà không ai có thể tiên đoán được thế nào là sự tồn vong của họ trong thế kỷ thứ 21 này, một khi lò điện hạt nhân Ninh Thuận bị rò rỉ vì vấn đề kỹ thuật.”
Thật ra, không phải chỉ có thiểu số dân tộc Chăm, mà còn đông đảo người dân tộc Kinh cư ngụ tại huyện An Phước (Ninh Thuận) và trong khu vực phía bắc tỉnh Bình Thuận bị đe dọa trực tiếp tới sinh mạng từ nhà máy ĐHN xã Phước Dinh. Còn nhà máy ĐHN Vĩnh Hy (Ninh Hải) thì lại là mối nguy cho cả dân Ninh Thuận lẫn người dân phía nam Khánh Hòa, trực tiếp là khu vực huyện Ninh Hải (Ninh Thuận) và khu bán đảo Cam Ranh (Khánh Hòa). Nước biển và hải sản các khu vực ấy cũng bị đe dọa không kém!
        Vả lại, một khi xảy ra tai nạn hạt nhân từ các nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận, thì vùng ảnh hưởng phóng xạ không chỉ quanh quẩn trong phạm vi khu vực tỉnh Ninh Thuận, phía nam tỉnh Khánh Hòa, phía bắc tỉnh Bình Thuận và vùng Đà Lạt, mà còn bao trùm cả các tỉnh miền đông Nam phần (Đồng Nai, Vũng Tầu, Bà Rịa), kể cả Sài Gòn (vì thành phố này cách xa Ninh Thuận khoảng hơn 300 km đường chim bay).
        “Sự cố” Nhà máy điện hạt nhân Tchernobyl ở Liên Xô cũ là một bằng chứng theo như một nhà khoa học Việt Nam hiện sống và làm việc tại Cộng Hòa Liên Bang Đức, Tiến sĩ Kỹ sư Trần Văn Bình đã chỉ ra trong bài viết “Những tai nạn khủng khiếp”:
        “Một ngày cuối tháng 4-1986, lò số 4 của Nhà máy điện hạt nhân Tchernobyl có công suất 6.000 Megawatt, nằm gần thành phố Pripyat, Ukraina bị một tai nạn khủng khiếp. Tai nạn được xếp ở cấp 7, cấp thang cao nhất theo quy định của INES (International Nuclear Event Scale); sức nổ rất mạnh, phát tán phóng xạ ra nhiều vùng ở nước Nga, các nước Bắc Âu, sang tận miền nam nước Pháp.
Như vậy, phóng xạ từ một trong hai Nhà máy ĐHN Ninh Thuận khi xảy ra rò rỉ sẽ phát tán vào tận Sài Gòn và các tỉnh Miền Nam một cách dễ dàng, mà cả Miền Trung và Miền Bắc Việt Nam chưa chắc yên ổn giống như Tchernobyl đối với các nước Bắc Âu (Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển) và cả Pháp… cách xa Tchernobyl hàng ngàn km.
        Tiến sĩ Bình cho biết tiếp: “Liều phóng xạ quá lớn (đến gần 1.600 rems, trong khi liều bức xạ tối đa được chấp nhận cho người dân thường phải ít hơn 50 rems) nên 49.000 dân thành phố Pripyat và 135.000 người trong phạm vi 30 ki lô mét chung quanh nhà máy phải di tản lập tức.” Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm cách xa hai nhà máy ĐHN Sơn Hải (Phước Dinh) và Vĩnh Hy (Vĩnh Hải) chưa tới 20 km đường chim bay.
        Tác giả bài viết nêu rõ: “Lúc đầu, vì sợ dân chúng hoang mang và thế giới trách móc nên số chính xác thiệt hại về con người không được công bố. Nhưng đến nay đã có vài ngàn trẻ em bị mổ tuyến giáp trạng, mắc bệnh bạch huyết, ung thư và dị tật bẩm sinh; hậu quả tàn khốc của tai nạn Nhà máy điện hạt nhân Tchernobyl sau gần 20 năm vẫn âm thầm tiếp diễn.” Bưng bít che đậy gian dối, đó là căn bệnh mãn tính của các nước Cộng sản chủ nghĩa! Căn bệnh ấy đã góp phần không nhỏ quật chết chủ nghĩa Cộng sản quốc tế toàn trị!
        Theo tiến sĩ Bình, “Một tài liệu được công bố gần dây của tổ chức Greenpeace cho biết, trong số 600.000 người lính đến Tchernobyl để quét dọn, làm sạch chất phóng xạ, rất nhiều người đã bị chết, con số chính xác không được công bố rõ ràng.”
        Tác giả lại ghi nhận thêm về tình hình nhà máy ĐHN của các nước tân tiến như Nga, Nhật, Mỹ và Đức như sau: “Không phải chỉ có Nhật và Nga bị ĐHN gây hại, mà cả Mỹ cũng đã một lần khốn đốn: Tại Mỹ, tháng 3-1979 một sự cố lớn cũng đã xảy ra ở lò Three Mile Island cách không xa thành phố Harrisburg, bang Pennsylvania. Tim lò nhà máy điện hạt nhân (công suất 900 megawatt) bị thiệt hại, nhiệt độ tăng vọt lên hơn 1.800 độ C, làm phát tán phóng xạ. Nguyên nhân chính của tai nạn này là do lỗi của công nhân vận hành, không thực hiện đúng các quy cách hướng dẫn.”
        Nước Đức cũng chẳng khá hơn: “Một khảo cứu mới nhất của Viện Môi trường thành phố München, CHLB Đức, cho biết tại khu vực chung quanh các nhà máy điện hạt nhân còn hoạt động tại tiểu bang Bayern, người ta thống kê được nhiều trẻ em mắc bệnh ung thư hơn ở các vùng không có nhà máy điện hạt nhân… do các trẻ em này bị nhiễm phóng xạ từ lúc sinh ra, đã sống và lớn lên ở gần các nhà máy điện hạt nhân.”
        Tiến sĩ Trần Văn Bình cho biết thêm: “Tại CHLB Đức, với sự đồng ý của hơn hai phần ba dân chúng, chính phủ đã quyết định đóng cửa các lò hạt nhân trước năm 2020 và bắt đầu từ ngày 1-7-2005 cấm gửi nhiên liệu, chất thải hạt nhân ra nước ngoài để xử lý.”
        Rồi ông Bình đưa ra nhận định: “Một quốc gia với nền khoa học tiên tiến như Đức, tại sao chính quyền lại dám hy sinh cả một ngành công nghệ điện hạt nhân như vậy? Câu trả lời là: Chính phủ Đức đã làm cái việc thuận lòng dân, thỏa lòng người, đúng trào lưu tiến bộ của nhân loại yêu thiên nhiên, tôn trọng và bảo vệ môi trường sống.”
        Từ nhận định trên, Tiến sĩ Bình tán đồng với ý kiến của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn ở Viện Kinh tế, Chính sách Năng lượng Grenoble, Pháp, rằng: “không có lý do gì cho phép chúng ta tặng món quà rác thải phóng xạ độc hại, nguy hiểm cho con cháu chúng ta và cho hàng chục thế hệ sau này”.
        Lời “can gián” nghiêm túc và đầy tâm huyết ấy thốt lên từ đáy lòng của nhà khoa học Việt Nam thuộc tầm cỡ khoa học gia quốc tế. Cộng với những lời góp ý chân thành đầy xây dựng vì dân vì nước của các vị thức giả khác cùng những tiếng kêu thống thiết của đám tiện dân chất phác chẳng biết đến bao giờ mới xuyên qua được lỗ tai của triều thần nhà Cộng, xoáy sâu vào cái óc, cái tâm của họ nếu quả thực họ còn tim còn óc để mà rung cảm để mà phân định phải trái, đúng sai thay vì ngoan cố quyết đoán liều lĩnh trong các vấn đề quốc gia đại sự vì mục đích… cầu vinh, giữ ghế và vơ vét?
        Tóm lại, cả hai dự án - dự án quặng bauxite Tây Nguyên và dự án Nhà máy ĐHN Ninh Thuận đều hứa hẹn một viễn ảnh vô cùng đen tối cho dân tộc và đất nước Việt Nam: Thảm họa khôn lường!
Nếu Cộng đảng ngoan cố bám lấy cái thế đảng trị để tiếp tục làm điều càn quấy, gian ác và mờ ám bất chấp tiếng dân, lòng dân và ý dân, thì hãy liệu hồn: Thượng bất chính, hạ tắc loạn!