Từ tiếng nói của
Đức Cha Nguyễn Văn Khảm...
GM. Phêro Nguyên Văn Khảm
Giám Mục Phụ tá Tổng Giáo phận Sàigon
I. QUAN ĐIỂM CÔNG GIÁO VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA
GIÁO HỘI TRƯỚC CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
Tháng 6.1989, Hội
Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ công bố tài liệu mang tựa đề A Time for Dialogue
and Healing: A Pastoral Reflection on United States – Vietnam Relations (Thời
điểm cho đối thoại và chữa lành: Một suy tư mục vụ về mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt
Nam), trong đó các giám mục lên tiếng thúc đẩy việc bình thường hoá quan hệ
ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. [1]
Năm 2002, khi Tổng thống Mỹ George W.
Bush quyết định tấn công Iraq, một trong những người kiên quyết tìm mọi cách
ngăn cản cuộc chiến tranh là Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đến nỗi vào giờ
phút chót, ngài vẫn cử một đặc sứ sang tận Washington, D.C., đích thân gặp Tổng
thống Mỹ nhằm thuyết phục ông thay đổi quyết định tấn công Iraq.
Nếu theo dõi các tuyên bố của các Hội
Đồng Giám Mục Công Giáo tại nhiều quốc gia, sẽ thấy các ngài lên tiếng về hầu
hết các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị như chạy đua vũ trang, hoà bình tại
Trung Đông, môi sinh… và những vấn đề khác.
Những sự kiện trên khiến nhiều người
đặt vấn đề: Tại sao Giáo Hội lại lên tiếng về các vấn đề xã hội, kinh tế và
chính trị? Sứ mạng của Giáo Hội lại chẳng phải là sứ mạng thiêng liêng sao? Khi
can thiệp vào các vấn đề xã hội như thế, liệu Giáo Hội có thi hành đúng chức
năng của mình không? Có gây tranh chấp với chính quyền dân sự không? Phải làm gì
để giải quyết?
Bài viết này không có tham vọng giải
quyết mọi vấn đề, chỉ mong trình bày một vài gợi ý và định hướng căn bản, dĩ
nhiên là từ quan điểm của Giáo Hội Công giáo. Theo đó, bài viết này sẽ bàn đến
(1) mối tương quan giữa sứ mạng của Giáo Hội và trách nhiệm đối với các vấn đề
xã hội, và (2) tương quan giữa Giáo Hội và Chính quyền trong những vấn đề xã hội.
I. TƯƠNG QUAN GIỮA SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ
HỘI
Sứ mạng chính yếu của Giáo Hội là
loan báo Tin Mừng cho muôn dân, và sứ mạng này có mối liên hệ mật thiết với
trách nhiệm xã hội về cả ba mặt: đối tượng, mục đích và nội dung [2].
Đối tượng của việc loan báo Tin Mừng
là muôn dân, là những con người cụ thể, cho nên phục vụ con người trở thành con
đường quan trọng nhất và căn bản nhất của Giáo Hội[3]. Con người mà Giáo Hội có
trách nhiệm phục vụ vừa là một nhân vị độc đáo vừa là hữu thể mang tính xã hội.
Một đàng, mỗi con người là một nhân vị độc đáo, không thể thay thế, và vì thế,
phải tôn trọng mỗi con người từ khi thụ thai cho đến lúc lìa đời, bất kể sang
hèn, trí thức hay bình dân, khoẻ mạnh hay đau yếu. Đàng khác, tự bản chất, con
người là hữu thể xã hội, sống trong một mạng lưới phức tạp với vô số quan hệ xã
hội, đặc biệt trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, và con người chỉ có thể sống
và phát triển khả năng của mình trong mối liên hệ với người khác. Tất cả những
gì diễn ra trong xã hội đều gây âm hưởng trên con người cũng như trên mọi mặt
của đời sống; ngược lại, chính con người là chủ thể và tác nhân của đời sống xã
hội, xã hội phát triển hay trì trệ đều do chính con người làm nên [4].
Chính vì thế, để phục vụ con người
cách hiệu quả, không thể không quan tâm đến chiều kích xã hội này, cũng có nghĩa
là phải quan tâm đến các vấn đề xã hội. Hơn thế nữa, các vấn đề chính trị và xã
hội lại liên quan đến khía cạnh đạo đức là trách nhiệm đặc thù của Giáo Hội,
chẳng hạn chiến tranh, tham nhũng, phá thai, gian dối…, nên Giáo Hội lại càng
cần phải quan tâm nhằm làm cho đời sống con người trở nên nhân bản hơn [5]. Xã
hội, và cùng với xã hội là chính trị, kinh tế, lao động, luật lệ và văn hoá, tất
cả đều hàm chứa trong nó những giá trị đạo đức, và vì thế, không thể xa lạ với
sứ mạng loan báo Tin Mừng [6].
Kế đến, mục đích mà sứ mạng loan báo
Tin Mừng hướng tới là dẫn đưa con người đến Nước Trời, vương quốc của Thiên Chúa
như Công đồng Vaticanô II khẳng định: “Mục đích duy nhất của Giáo Hội là làm cho
Nước Chúa trị đến và toàn thể nhân loại được cứu rỗi. Mọi lợi ích mà Dân Chúa
trong hành trình tại thế có thể đem lại cho gia đình nhân loại đều phát xuất từ
sự kiện này: Giáo Hội là bí tích phổ quát của ơn cứu độ, nghĩa là Giáo Hội tỏ
bày và đồng thời thực hiện mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa đối với con người” [7].
Thế nhưng Nước Trời mà Giáo Hội loan báo không chỉ là vương quốc thánh thiện và
ân sủng trong thế giới mai sau, mà còn là vương quốc của công lý, yêu thương và
hoà bình, nghĩa là những giá trị cần được xây đắp và vun trồng trong đời sống xã
hội cụ thể, ở đây và lúc này [8]. Đàng khác, Giáo Hội không loan báo Tin Mừng
Nước Trời trong cõi thiêng liêng trừu tượng mà là trong bối cảnh cụ thể của lịch
sử và thế giới mà con người đang sống, do đó Giáo Hội không thể không quan tâm
đến các vấn đề xã hội [9]. Như thế, có mối liên hệ hữu cơ giữa sứ mạng loan báo
Tin Mừng và trách nhiệm phục vụ sự thăng tiến con người.
Thiết nghĩ ở đây cần làm sáng tỏ mối
quan hệ giữa tự nhiên và siêu nhiên. Theo quan điểm công giáo, tự nhiên và siêu
nhiên không phải là hai lãnh vực tách biệt nhau, lại càng không phải là hai thực
thể đối lập nhau; đúng hơn, đó là hai lãnh vực thấm nhập vào nhau. Vì thế, không
nên hiểu siêu nhiên như một thực thể hay một địa điểm bắt đầu từ nơi mà tự nhiên
kết thúc, nhưng phải hiểu siêu nhiên như sự nâng đỡ và lôi kéo tự nhiên lên một
bình diện cao hơn. Hiểu như thế, không có gì trong thế giới tự nhiên, không có
gì là của con người mà lại xa lạ hay bị loại trừ khỏi trật tự siêu nhiên của đức
tin và ân sủng; trái lại, tất cả đều có mặt trong trật tự này, đều được đảm nhận
và nâng cao [10].
Trung tâm của đức tin Kitô giáo là
mầu nhiệm Thiên Chúa làm người và trong mầu nhiệm này, toàn bộ con người xét như
hữu thể duy nhất xác-hồn và là một hữu thể xã hội – chứ không chỉ riêng linh hồn
hay một hữu thể khép kín trong cá tính riêng của mình – đã được nâng lên một
trật tự mới, trật tự siêu nhiên và ân sủng. Như thế, con người toàn diện và cả
xã hội loài người đã được đưa vào trong nhiệm cục cứu độ của Tin Mừng. Do đó,
loan báo Tin Mừng không chỉ có nghĩa là phục vụ linh hồn mà bỏ quên thân xác,
cũng không chỉ quan tâm đến ơn cứu độ cá nhân mà lãng quên những thực tại xã hội.
Đúng hơn, sứ mạng loan báo Tin Mừng đòi hỏi Giáo Hội phải làm cho những giá trị
của Tin Mừng thấm nhuần đời sống xã hội và phong phú hoá đời sống đó [11].
Như thế, có sự phân biệt giữa hai
lãnh vực thiêng liêng và trần thế, nhưng đàng khác, không có tách biệt, lại càng
không có đối kháng giữa sứ mạng thiêng liêng của Giáo Hội và mối quan tâm của
Giáo Hội về công lý và hoà bình, bởi lẽ siêu nhiên thấm nhập vào tự nhiên và
nâng con người lên một bình diện mới: “Trong khi theo đuổi mục đích cứu độ cá
biệt của mình, Giáo Hội không chỉ truyền thông sự sống Thiên Chúa cho con người,
mà còn chiếu giãi ánh sáng của đời sống ấy cách nào đó trên toàn thế giới. Giáo
Hội làm công việc này trước hết bằng cách chữa trị và nâng cao phẩm giá của nhân
vị, củng cố cơ cấu của xã hội nhân loại và làm cho hoạt động thường nhật của con
người được thấm nhuần một định hướng và ý nghĩa sâu xa hơn” [12].
Ngoài ra, trọng tâm của Tin Mừng mà
Giáo Hội có sứ mạng loan báo là tình yêu vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Bác ái là
điều răn mới và điều răn trung tâm của Kitô giáo. Nhưng làm sao có thể công bố
điều răn đó mà lại không quan tâm đến tình trạng công lý và công bằng cho con
người? Ở tự nó, tình yêu đã hàm chứa chiều kích xã hội vì yêu thương luôn luôn
là hướng đến một tha thể ở ngoài mình. Chiều kích xã hội này càng mạnh mẽ và
khẩn thiết hơn trong một thế giới mà tiến trình xã hội hoá đã vươn đến tầm cao.
Bác ái không chỉ còn được nhìn trong tương quan giữa cá nhân với cá nhân mà đòi
hỏi phải quan tâm đến các vấn đề xã hội, vì những vấn đề này đụng chạm tới sự
sống và hạnh phúc của những con người mà ta yêu thương và phục vụ. Vì thế, phải
nói rằng chính điều răn yêu thương – chứ không phải động lực hay tham vọng nào
khác – thúc đẩy người Kitô hữu dấn thân cho công lý và hoà bình, làm cho công
bằng và bác ái lan tràn trong mỗi dân tộc và giữa các dân tộc [13].
Nói tóm lại, nhìn vào đối tượng, mục
đích hay nội dung của sứ mạng loan báo Tin Mừng, ta đều thấy mối liên hệ mật
thiết giữa việc loan báo Tin Mừng và việc thăng tiến con người đến nỗi Thượng
Hội Đồng các Giám mục thuộc thế giới thứ ba tuyên bố: “Hành động của Giáo Hội
nhằm xây dựng công lý và tham gia vào việc biến đổi thế giới nên tốt hơn là một
chiều kích cấu thành (a constitutive dimension) trong sứ mạng của Giáo Hội nhằm
cứu rỗi nhân loại và giải thoát họ khỏi mọi tình trạng áp bức” [14]. Thực ra,
đây không phải là điều gì mới mẻ nhưng là đòi hỏi cắm rễ sâu trong truyền thống
lâu đời của Kitô giáo.
Thánh Kinh Cựu ước còn ghi lại những
chỉ dẫn cụ thể về Năm sabát, nhất là Năm toàn xá, Năm thánh (x. Lêvi chương 25).
Năm thánh là năm thuộc về Chúa là Đấng Thánh, năm tôn vinh Thiên Chúa là chủ của
vũ trụ, thế giới và con người, đồng thời là năm tái lập sự công bằng trên trái
đất và là năm giải thoát cho cả đất đai: “Trong năm toàn xá, mỗi người trong các
ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình… Không ai trong các ngươi được gây thiệt
hại cho đồng bào mình, nhưng các ngươi phải kính sợ Thiên Chúa vì Ta là Chúa,
Thiên Chúa của các ngươi… Trong năm đó, các ngươi không được gieo, không được
gặt lúa tự nhiên mọc, không được hái trong vườn nho không cắt tỉa, đó sẽ là một
năm đất nghỉ” (Đnl 25, 2-17). Như thế, từ rất lâu, những chỉ dẫn về Năm thánh đã
phản ánh ý thức cao độ về công bằng xã hội và cả việc bảo vệ môi sinh là những
vấn đề mà thế giới hôm nay càng ngày càng ý thức hơn.
Cũng trong truyền thống đó, các tiên
tri là những người hết sức nhạy bén trước nỗi đau của con người, do đó cũng nhạy
bén trước những bất công xã hội. Tiếng nói của các ngài vừa là tiếng nói thay
cho cơn hấp hối câm lặng của người nghèo vừa vọng lại cơn giận của Thiên
Chúa[15]. Hãy thử đọc lại một trong nhiều bài giảng của các tiên tri để cảm nhận
sự nhạy bén này:
“Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn
trong xứ.
Các ngươi thầm nghĩ:
Bao giờ ngày mồng một qua đi cho ta còn bán lúa,
Bao giờ mới hết ngày sabát để ta bày thóc ra?
Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm,
Ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ.
Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ,
Cả lúa nát, gạo mục, ta cũng đem ra bán.
Đức Chúa đã lấy thánh danh là niềm hãnh diện của Giacóp mà thề:
Ta sẽ chẳng bao giờ quên hành vi nào của chúng.
Há chẳng phải vì vậy mà đất rung chuyển,
Và toàn thể dân cư lâm cảnh tang tóc đó sao?” (Amos 8,4-8)
Cũng trong truyền thống đó, Đức Giêsu
đã bắt đầu sứ vụ của Người với chương trình hành động là “loan báo Tin Mừng cho
kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ
được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa”
(Lc 4, 18-19).
Như thế, sẽ chẳng có gì khác lạ nếu Giáo Hội ngày nay lên tiếng về các vấn đề xã
hội với ước mong góp phần làm cho cuộc sống con người trở thành nhân bản hơn.
Giáo Hội chỉ đặt mình trong dòng chảy tự nhiên của truyền thống Kitô giáo và là
đòi hỏi nội tại trong chính sứ mạng loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên, khi Giáo Hội
can thiệp vào các vấn đề xã hội, đâu là tương quan giữa Giáo Hội và chính quyền?
II. TƯƠNG QUAN GIỮA GIÁO HỘI VÀ CHÍNH QUYỀN
Bàn về mối tương quan giữa Giáo Hội
và Chính quyền, thiết nghĩ trước hết nên có sự phân biệt giữa xã hội dân sự và
cộng đồng chính trị. Xã hội dân sự là “tổng hợp bao gồm các mối quan hệ và các
nguồn lực về văn hoá lẫn hiệp hội, và những mối quan hệ cũng như các nguồn lực
này độc lập cách tương đối với lãnh vực chính trị và kinh tế” [16]. Từ xã hội
dân sự này, phát xuất cộng đồng chính trị là cộng đồng được thiết lập nhằm phục
vụ những con người và những tập thể làm nên xã hội dân sự. Do đó, không nên coi
xã hội dân sự chỉ như một thành phần của cộng đồng chính trị. Đúng hơn, Nhà Nước
cung cấp khung pháp lý thích đáng để điều hoà các mối quan hệ của mình với xã
hội dân sự theo nguyên tắc bổ trợ [17].
Theo đó, có thể nói đến tương quan
giữa Giáo Hội và Chính quyền dân sự là tương quan trong đó cả hai bên tôn trọng
sự độc lập chính đáng của nhau, đồng thời hợp tác với nhau nhằm phục vụ con
người cách tốt đẹp nhất.
Giáo Hội tôn trọng quyền bính hợp pháp và chính đáng của Nhà Nước. Sự tôn trọng
này phát xuất từ sự nhìn nhận tính độc lập chính đáng của những thực tại trần
thế như Công đồng Vaticanô II minh định: “Nếu sự độc lập của các thực tại trần
thế được hiểu là các thụ tạo và các xã hội đều có những định luật và giá trị
riêng mà con người phải khám phá dần dần, sử dụng và điều hoà, thì đòi hỏi sự
độc lập như thế là một việc hoàn toàn chính đáng. Đó là điều không những người
đương thời đòi hỏi, mà còn phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo hoá” [18]. Cũng vậy,
“Giáo Hội tôn trọng sự tự trị chính đáng của trật tự dân chủ và không mang danh
nghĩa nào để ủng hộ ưu tiên cho giải pháp này hay giải pháp kia, liên quan đến
định chế hay hiến pháp” [19]. Do đó, Giáo Hội không can thiệp vào các vấn đề kỹ
thuật, cũng không đề xuất hay thiết lập những hệ thống hoặc những mô hình tổ
chức xã hội. Đó không phải là sứ mạng mà Đức Kitô muốn trao cho Giáo Hội. Theo
Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, sự phân biệt giữa Nhà Nước và Giáo Hội như thế là
thành phần trong cấu trúc nền tảng của Kitô giáo. Giáo Hội tôn trọng và nhìn
nhận sự phân biệt và tự trị này, coi đó là tiến bộ lớn của nhân loại và là điều
kiện nền tảng cho sự tự do của Giáo Hội cũng như cho việc Giáo Hội chu toàn sứ
mạng cứu độ phổ quát giữa các dân tộc [20].
Đồng thời, tương quan giữa Giáo Hội
và Chính quyền dân sự là tương quan trong đó cả hai bên tôn trọng sự độc lập
chính đáng của nhau, đồng thời hợp tác với nhau nhằm phục vụ con người cách tốt
đẹp nhất.
Theo đó, khi Giáo Hội lên tiếng về
các vấn đề xã hội, Giáo Hội không làm chính trị nhưng muốn hợp tác với Nhà Nước
để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Thật vậy, Giáo Hội
không có chức năng làm chính trị, cũng không chấp nhận bị đồng hoá với một cộng
đoàn chính trị nào, hoặc cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào. Giáo Hội
cũng không muốn cậy nhờ vào những đặc ân của thế quyền. Hơn thế nữa, “Giáo Hội
cũng sẽ từ chối việc sử dụng một số quyền lợi đã được hưởng cách chính đáng khi
thấy rằng việc sử dụng những quyền lợi đó làm cho người ta nghi ngờ về lòng
thành muốn làm chứng nhân của mình” [24]. Giáo Hội chỉ muốn hợp tác với Nhà Nước
trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Và Giáo Hội thực
hiện mục đích này bằng cách đào tạo lương tâm các Kitô hữu và thức tỉnh lương
tri của mọi người trong xã hội.
Trước hết, Giáo Hội cố gắng đào tạo ý
thức xã hội nơi các Kitô hữu, giúp họ ý thức rằng mình có bổn phận phải phục vụ
công ích, đồng thời giúp họ có khả năng sống những giá trị Phúc âm trong mọi
lãnh vực văn hoá, xã hội, kinh tế và chính trị; hơn nữa, góp phần làm cho các
thực tại trần thế mang tính nhân bản và phù hợp với Tin Mừng hơn. Đối với các
Kitô hữu dấn thân trong lãnh vực chính trị, Giáo Hội mong muốn giúp họ đào tạo
lương tâm chính trị, biết từ bỏ những tiện nghi và lợi lộc vật chất cá nhân để
toàn tâm toàn ý lo cho công ích [25].
Ngoài ra, khi lên tiếng về các vấn đề
xã hội, Giáo Hội không chỉ lên tiếng cho con cái mình mà còn vì ích chung của
tất cả mọi người trong xã hội, không phân biệt tôn giáo hay giai tầng xã hội.
Những can thiệp này nhằm phục vụ và giúp đỡ việc giáo dục lương tâm trong chính
trị, giúp nhận thức rõ ràng những đòi hỏi đích thực của công bằng và chuyển nhận
thức đó thành hành động, dù phải hi sinh những lợi ích riêng tư. Thật vậy, mục
đích của chính trị là thiết lập công bằng nhưng công bằng không phải là ý tưởng
trừu tượng mà là vấn đề của lý trí thực tiễn, đồng thời là thực tại cần phải xây
dựng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều đó đòi hỏi lý trí phải hoạt động cách
đúng đắn và trong sáng. Trong khi đó, kinh nghiệm lại cho thấy lý trí rất dễ bị
chi phối bởi cám dỗ về lợi nhuận cũng như quyền lực. Chính vì thế, lý trí cần
được thanh luyện liên tục để thực sự phục vụ sự công bằng [26]. Giáo huấn xã hội
của Giáo Hội lập luận dựa trên lý trí và luật tự nhiên, có nghĩa là những gì phù
hợp với bản tính con người. Đây là cơ sở nền tảng để mọi người trong xã hội – dù
khác biệt nhau về tôn giáo, quan điểm chính trị, lập trường xã hội – đều có thể
dựa vào mà tiến hành cuộc trao đổi thẳng thắn và cởi mở về các vấn đề xã hội.
Hiểu như thế, Chính quyền và Giáo Hội,
mỗi bên với lãnh vực riêng của mình, đều độc lập và tự trị. Tuy nhiên, dù dưới
danh hiệu khác nhau, cả hai cũng đồng phục vụ cho con người trong sứ mạng cá
nhân và xã hội. Tuỳ theo hoàn cảnh và địa phương, nếu cả hai càng duy trì được
sự hợp tác lành mạnh, thì càng phục vụ lợi ích của con người cách hữu hiệu hơn
[27].
Trong thực tế, để sự hợp tác có thể
mang lại kết quả tốt đẹp nhất cho mọi người, cần có đối thoại thẳng thắn và cởi
mở giữa Chính quyền và Giáo Hội vì các vấn đề xã hội thường phức tạp và luôn
biến chuyển. Hơn thế nữa, không thể phủ nhận rằng nhân sinh quan và thế giới
quan của hai bên khác nhau, vì thế cũng nhìn nhận và giải quyết vấn đề cách khác
nhau. Ngoài ra, những vấn đề xã hội thường không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế
hay chính trị nhưng luôn bao hàm chiều kích nhân văn và đạo đức, vì thế cần sự
bổ túc cho nhau nhằm hướng đến một giải đáp mang tính toàn diện. Nhờ đối thoại,
Giáo Hội và Nhà nước có thể hiểu biết nhau hơn, xác định những hình thức bền
vững và những phương thế thích hợp để bảo đảm cho quan hệ giữa hai bên được hài
hoà, ngăn cản và làm giảm bớt các xung đột có thể có giữa Giáo Hội và cộng đồng
chính trị, bổ túc cho nhau trong cách giải quyết các vấn đề nhằm mưu cầu ích
chung. Đây không chỉ là lý thuyết mà còn là kinh nghiệm lâu đời của Giáo Hội
Công giáo vốn hiện diện trong nhiều đất nước với những thể chế chính trị khác
nhau.
Kết luận
Là những người Việt Nam và là cộng
đoàn các môn đệ của Đức Giêsu, Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam lấy vui mừng và
hi vọng, ưu sầu và lo lắng của người dân Việt làm vui mừng và hi vọng, ưu sầu và
lo lắng của chính mình, và không có gì là của con người mà không gieo âm hưởng
trong lòng Giáo Hội. Trong những năm qua, ý thức đó đã thúc đẩy Giáo Hội góp
phần giải quyết các vấn đề xã hội trong khuôn khổ luật pháp cho phép, và còn
muốn góp phần nhiều hơn nữa trong tương lai [28].
Đồng thời Giáo Hội cũng ý thức rằng
để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, Giáo Hội cần tiến hành cuộc đối thoại
đa diện: đối thoại với Chính quyền là những người có trách nhiệm tổ chức, ổn
định và xây dựng xã hội; đối thoại với các tôn giáo vốn là nền móng những giá
trị đạo đức của dân tộc; đối thoại với văn hoá dân tộc là nguồn của những giá
trị nhân văn đích thực và ngày nay đang có nguy cơ bị xói mòn; đối thoại với con
người, nhất là người nghèo vốn vẫn chiếm đa số trong cộng đồng dân tộc.
Cuộc đối thoại đó đòi hỏi Giáo Hội
lắng nghe để có thể hiểu được tâm tư khát vọng của người dân, tâm tư được thể
hiện bằng lời và nhiều khi bằng cả sự im lặng! Giáo Hội cũng ý thức rằng đây
không phải là cuộc đối thoại dễ dàng do những thành kiến của lịch sử cũng như do
sự khác biệt trong cách nhìn và cách giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, Giáo Hội xác
tín rằng đó là con đường tốt nhất phải đi để xây dựng sự hợp tác chân thành và
đích thực nhằm xây dựng một xã hội mỗi ngày tốt đẹp hơn và xứng với phẩm giá con
người hơn.
+ Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Giám mục phụ tá TGP Sàigòn
Chú thích:
[1] Pastoral Letters and Statements of the United States Catholic Bishops,
Volume VI (1989-1997), 72-79.
[2] Sứ mạng này phát xuất từ chính mệnh lệnh của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi và
làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và
Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt
28,19-20).
[3] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Tóm lược Học thuyết xã hội của Giáo Hội Công
giáo (HTXH), Nxb. Tôn giáo, 2007, số 62.
[4] Ibid., số 61.
[5] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh khía cạnh luân lý này trong Sứ
điệp cho Ngày Hoà bình thế giới 2009. X. Message of His Holiness Pope Benedict
XVI for the Celebration of the World Day of Peace, 1 January 2009, số 3-7.
[6] HTXH, số 61.
[7] Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay (MV) số 45.
[8] Ibid., số 39.
[9] HTXH số 60.
[10] Ibid., số 63.
[11] Ibid., số 62.
[12] MV số 40.
[13] MV số 76.
[14] Third World Synod of Bishops, Justitia in mundo, số 6.
[15] Rabbi Abraham Joshua Heschel xem đây là nét nổi bật của các tiên tri trong
Cựu Ước đến nỗi có thể dựa vào tiêu chuẩn đó để phân biệt giữa tiên tri thật và
tiên tri giả. X. The Prophets, New York: Harper & Row, 1962.
[16] HTXH số 417.
[17] HTXH số 418.
[18] MV số 36.
[19] Gioan Phaolô II, thông điệp Centesimus annus, số 47.
[20] Phát biểu của Đức Bênêđictô XVI khi đến thăm Toà Đại sứ Italia tại Toà
Thánh (tháng 12.2008).
[21] Thông điệp Thiên Chúa là Tình yêu, số 28.
[22] HTXH số 426, Dignitatis humanae số 4.
[23] MV số 76.
[24] MV số 76.
[25] HTXH, số 530-532.
[26] Thiên Chúa là Tình Yêu, số 28.
[27] X. MV số 76. Cách riêng về phía Giáo Hội, theo cách diễn tả của Hồng y
Roger Mahoney, có hai tiến trình: (1) phi chính trị hoá (depoliticization) tức
là không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất
và sứ mạng của Giáo Hội, (2) tái hoà nhập xã hội (resocialization) tức là quan
tâm đến các vấn đề xã hội, coi đó như thành phần thiết yếu trong sứ mạng của
Giáo Hội. (X. Mahoney, As I have done for you, Origins 29/46 (May 4, 2000), p.
748.
[28] Giáo Hội tại Việt Nam đã tích cực góp phần trong những chương trình xoá đói
giảm nghèo, giáo dục trẻ đường phố, chăm sóc những người có HIV/AIDS… Giáo Hội
còn muốn tham gia tích cực hơn nữa vào lãnh vực y tế và giáo dục học đường; tuy
nhiên, cho đến nay, khuôn khổ luật pháp vẫn chưa cho phép Giáo Hội tham gia vào
những lãnh vực trên.
II.- BƯỚC ĐI TRONG THẦN KHÍ (Galata 5,16)
Bài giảng của Đức Cha Nguyễn Văn Khảm
Nhân ngày lễ phong chức giám mục cho Đức Cha Vinh sơn Nguyễn Văn Bản
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi vì Chúa
đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã
sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được
sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa.”
Chúa Giêsu đã dõng dạc đọc những lời
này trong hội đường Nagiarét và sau đó, Người công bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm
lời Thánh Kinh quý vị vừa nghe” (Lc 4,18-21).
Thế nhưng tôi tự hỏi, có thực sự là lời Kinh Thánh đã được ứng nghiệm? Có thực
sự là mọi người mù được sáng mắt? Dĩ nhiên không thể phủ nhận rằng Chúa Giêsu đã
chữa lành một vài người mù như Phúc Âm kể lại, nhưng chẳng nhẽ trên cả đất nước
Israel lúc ấy, chỉ có vài người mù đó thôi sao? Còn cả trăm cả ngàn người mù
khác nữa, liệu họ có được sáng mắt không? Mà nếu chưa được thì sao có thể gọi là
ứng nghiệm?
Thế rồi, có thực sự là mọi kẻ giam
cầm đều được tha và mọi kẻ bị áp bức đều được trả lại tự do? Ngay cả Gioan Tẩy
giả, người thân của Chúa Giêsu, lúc ấy đang ngồi tù, cũng đã phải sai các môn đệ
đến hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến hay chúng tôi còn
phải đợi ai khác?” (Mt 11,2-3). Nghe trong câu hỏi có nỗi nghi ngờ, nghi ngờ vì
đợi mãi vẫn không được tha, nghi ngờ vì chờ hoài vẫn không thấy tự do! Đã thế,
liệu có thể nói là lời Kinh Thánh đã ứng nghiệm không?
Đi xa hơn nữa đến cuộc khổ nạn của
Chúa Giêsu, khi chính Người bị bắt, bị giam cầm, bị áp bức… liệu chính Người có
khả năng thoát khỏi xiềng xích ngục tù, khỏi bàn tay áp bức chăng? Các sách Tin
Mừng kể lại rằng Chúa Giêsu đã bị đánh đập dã man, bị vác khổ giá và cuối cùng
bị đóng đinh trên thập giá. Đến chính bản thân Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi
ngục tù thì lấy đâu ra tự do để ban tặng cho các tù nhân? Đến chính Chúa Giêsu
cũng bị áp bức thì lấy đâu ra sức mạnh để giải thoát những người bị áp bức?
Nêu lên những vấn nạn như thế không
nhằm khước từ lời khẳng định của Chúa Giêsu, “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh
anh chị em vừa nghe”, nhưng là để đọc lại những lời này trong một ánh sáng mới.
Mù loà không chỉ đơn thuần là khuyết tật thể lý nhưng có thể còn là khuyết tật
tri thức, tâm lý và tâm linh. Có những khi ta nhìn một sự kiện, một biến cố mà
không rõ ngọn nguồn sự việc vì thiếu hiểu biết, nghĩa là mù loà về mặt tri thức.
Có những khi ta mở mắt thật to để nhìn mà vẫn không thấy được cái tốt của người
khác chỉ vì ta cố chấp, đó là một thứ mù loà về tâm lý. Và nhiều khi ta nhìn rõ
thế giới vật chất này nhưng lại không thấy mối tương quan giữa thế giới này và
Đấng tạo dựng nên nó, tức là một thứ khuyết tật tâm linh, cho nên mới có lời cầu
nguyện: “Xin mở cho con đôi mắt, để thấy tình yêu Chúa khắp nơi”.
Cũng thế, có nhiều thứ ngục tù. Có
những thứ ngục tù không giam hãm nổi tự do của con người, và ngược lại, có những
thứ tự do biến con người thành tù nhân. Những nhà tù với hàng rào kẽm gai vây
bọc chỉ có thể giam hãm thân xác con người chứ không thể giam hãm tự do hiểu như
một giá trị tinh thần, không thể giam hãm suy tư và cảm xúc, tắt một lời, đời
sống tinh thần của con người.
Ngược lại, có những hành động được
gọi là tự do nhưng thực ra chỉ là cái vỏ bên ngoài che đậy tình trạng nô lệ sâu
xa bên trong, nô lệ những đam mê và ham muốn trần tục, nô lệ những tính toán
quyền lực và phe nhóm… Hiểu về sự mù loà và ngục tù như thế, mỗi người – kể cả
giám mục và linh mục - bỗng khám phá ra mình cũng có những lúc sống trong tình
trạng mù loà và mất tự do. Và cũng hiểu rõ hơn lời Thánh Kinh ứng nghiệm nơi
Chúa Giêsu như thế nào.
Chúa Kitô và chỉ có Chúa Kitô là ánh
sáng để trong ánh sáng đó, ta có thể nhìn thấy chân tướng của sự vật và của đời
người. Anh sáng đó là ánh sáng chân lý và chỉ khi sống trong chân lý, ta mới có
tự do đích thực. Kinh nghiệm lịch sử nói với ta rằng có những người bị giam giữ
trong nhà tù với hàng rào kẽm gai vây bọc, và chỉ mong được tự do. Nhưng khi đã
được tự do rồi thì chính họ lại dựng lên những nhà tù khác để giam giữ đồng loại
của mình và để bảo vệ cái gọi là tự do của mình.
Ấy là vì họ mới chỉ được giải thoát
khỏi thứ nhà tù vật chất mà chưa được giải thoát khỏi ngục tù của những đam mê
và ham muốn quyền lực, của hận thù và ích kỷ. Nelson Mandela đã hiểu ra được
điều đó nên khi bước chân ra khỏi nhà tù đã giam giữ ông suốt 30 năm, ông tự nhủ:
nếu tôi còn giữ lòng hận thù với những tên cai ngục, thì tôi vẫn còn bị giam giữ,
chưa trở thành người tự do thực sự. Và chính điều đó khiến cho mọi người kính nể
ông.
Chúa Kitô đến không phải để giải
thoát con người khỏi những ngục tù bằng hàng rào kẽm gai nhưng giải thoát con
người khỏi tình trạng nô lệ và tha hoá sâu xa nhất, và chúng ta cần đến ơn giải
thoát đó. Chúng ta cần đến ơn giải thoát đó ngay giữa lòng một thế giới tưởng
chừng rất đỗi tự do. Chúng ta cần đến ánh sáng đó ngay giữa một thời đại phát
triển tri thức khoa học đến mức cao nhất. Và Giám mục cũng như linh mục là những
người được trao cho trách nhiệm loan báo ơn giải thoát đó, trách nhiệm tiếp nối
sứ mạng của Chúa Kitô, sứ mạng “loan báo Tin Mừng cho người nghèo, cho người mù
được sáng mắt, cho kẻ bị giam cầm được tha, trả tự do cho người bị áp bức”.
Thế nhưng chính ở đây lại xuất hiện
một nghịch lý: xét như là con người, bản thân giám mục và linh mục cũng có thể ở
trong tình trạng mù loà và bị giam giữ trong những ngục thất vô hình. Vậy làm
sao có thể làm cho người khác sáng mắt khi chính mình đang ở trong tình trạng mù
loà? Làm sao loan báo tự do khi chính mình đang bị giam trong ngục thất? Henri
Nowen đã có lý khi gọi các thừa tác viên trong Giáo Hội là wounded healer, nghĩa
là những người có sứ mạng chữa lành cho người khác nhưng chính mình lại đang
mang thương tích.
Tuy nhiên, chính nghịch lý này thúc
đẩy các giám mục và linh mục thi hành sứ vụ trong khiêm tốn và cậy trông vào
quyền năng của Thánh Thần. Khiêm tốn vì nhận biết rằng tự thân mình không phải
là ánh sáng và chân lý, nhưng chỉ đón nhận ánh sáng và chân lý từ một Đấng khác.
Cậy trông vì xác tín rằng mình không thể chu toàn sứ vụ với sức riêng mình nhưng
chỉ có thể chu toàn nhờ quyền năng của Thánh Thần. Chính vì thế, nghi thức chính
yếu trong việc phong chức giám mục là việc đặt tay và lời nguyện phong chức. Đặt
tay chính là cử chỉ nói lên việc thông ban Thánh Thần, cùng với lời cầu nguyện
xin Chúa ban Thánh Thần thủ lãnh xuống trên vị tân giám mục.
Hơn ai hết, Đức Tân Giám mục xác tín
điều đó, cho nên đã chọn khẩu hiệu cho đời giám mục của mình là “Bước đi trong
Thần Khí” (Spiritu ambulate) (Galata 5,16), đồng thời ngài giải thích “bước theo
Thần Khí” là “sống trong sự tự do mà Đức Kitô đem lại chứ không quá lệ thuộc vào
cách suy nghĩ của người đời… là sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí chứ không
theo quan điểm của xác thịt”. Chỉ khi giám mục bước đi trong Thần Khí và hoạt
động trong quyền năng của Thánh Thần thì ngài mới có thể chu toàn sứ vụ giám mục
hết sức cao cả nhưng cũng rất nặng nề đã được trao phó.
Quyền năng của Thánh Thần chính là
quyền năng của tình yêu, là sức mạnh thúc đẩy vị giám mục bước theo Chúa Giêsu
Mục Tử, hiến thân trọn vẹn cho đoàn chiên đã được trao phó cho mình. Đây cũng là
tâm tình của Đức Tân Giám mục. Nhớ lại khi vừa nghe tin Đức Thánh Cha Bênêđictô
XVI bổ nhiệm cha Vinh sơn Nguyễn Văn Bản làm giám mục giáo phận Ban Mê Thuột,
trang web của HĐGMVN đã lập tức phỏng vấn ngài, và khi hỏi rằng “Lời đầu tiên
Đức Cha muốn gửi đến cộng đồng Dân Chúa Ban Mê Thuột là gì?”, ngài đã trả lời,
“Tôi muốn nói với cộng đồng Dân Chúa Ban Mê Thuột rằng tôi thuộc trọn về giáo
phận và từ hôm nay, giáo phận Ban Mê Thuột, từng cộng đoàn, từng người Kitô hữu
trong giáo phận là chính cuộc sống của tôi.” “Kể từ hôm nay, tôi thuộc trọn về
giáo phận.” Nghe thật “mùi mẫn” ! Cứ như là chú rể đang nói với cô dâu, “Kể từ
nay, anh thuộc trọn về em”!
Mà đúng như thế, lát nữa đây, sau lời
nguyện phong chức, vị chủ sự sẽ xỏ nhẫn vào tay của đức tân giám mục cùng với
lời nhắn nhủ, “Hãy nhận chiếc nhẫn này như ấn tín đức tin.. hãy gìn giữ hiền thê
của Chúa là Hội Thánh được vẹn toàn.” Nhẫn cưới đấy! Theo một nghĩa nào đó, lễ
phong chức hôm nay chính là lễ cưới, cử hành cuộc hôn nhân thánh thiêng giữa Đức
tân giám mục Vinh sơn Nguyễn Văn Bản và Giáo Hội tại Ban Mê Thuột. Thế thì theo
truyền thống văn hoá Việt Nam, xin cầu chúc cho đôi tân hôn được trăm năm hạnh
phúc.
Ngày 12.5.2009
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm