Viết từ
Canada
Thức Lâu Mới Biết Đêm Dài
Mặc Giao
Các cụ xưa có
câu “Thức lâu mới biết đêm dài, Ỏ lâu mới biết lòng người có nhân”
Có vẻ một vị mục tử Việt Nam đã thấy
thấm câu này, sống chung lâu ngày mới biết người bên cạnh mình tử tế thật hay tử
tế giả. Ngày 2-5-2009, Đức Cha Nguyễn Văn Sang, Giám Mục Thái Bình đã gửi thư
cho đủ mặt cầm quyền từ Thái Bình, Hưng Yên tới Hà Nội một thư phản đối trong đó
có những đoạn đáng chú ý sau đây:
“Nhân dịp tháng 5 (tháng hoa),
tháng mà Giáo Hội Công Giáo dành riêng để kính Đức Mẹ. Tôi có đăng ký với Cha Bề
trên Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà để cùng với Giáo Phận (Linh mục, Nam Nữ Tu sĩ
và Giáo dân) đến hành hương tại đền thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để được lãnh ơn
Toàn xá như Tòa Thánh đã ban bố và cổ vũ mọi người đến hành hương nơi này…
(…) “Các thành phần Dân Chúa ở
Giáo phận Thái Bình hồ hởi vui mừng với kỳ vọng được lãnh ơn Toàn xá nên đã thu
xếp để lên đường bằng nhiều thể thức, nhiều cách khác nhau. Nhưng than ôi, việc
hành hương này không những không được cổ vũ như các cuộc hành hương về Chùa
Hương, đến núi Phật hoặc những tổ chức ngoài đời khác như: xem hoa hậu, xem hoa
anh đào v.v… mà còn bị xúc phạm đến quyền tự do tín ngưỡng của con người, nhất
là những người được cho là chân yếu tay mềm như đàn bà, trẻ em. Cụ thể: các nhân
viên an ninh của các Huyện Tiền Hải, Vũ Thư, Kiến Xương… trắng trợn đến từng gia
đình bà con Giáo dân đe dọa không cho họ lên hành hương Đền thờ Đức Mẹ Hằng Cứu
Giúp ở Thái Hà…
(…) “Đặc biệt hơn nữa các vị trong
các cơ quan an ninh đe dọa, thu bằng lái của những tài xế nào chở đoàn hành
hương: cho Công an chặn các lối đi hành hương trên ngã đường 1A, đường số 5, yêu
cầu ai là người có đạo phải xuống khỏi xe, gây nên tình trạng kỳ thị tôn giáo
chia rẽ dân tộc, gây bức xúc cho mọi người ngay trên mảnh đất thủ đô Hà Nội,
công an bắt một số người (trong đó đa số là phụ nữ và trẻ em) trên xe hoặc chung,
hoặc riêng, phải xuống xe giữa cánh đồng hoang vắng cô quạnh. Sau buổi lễ còn
triệu tập một số người đã tham dự buổi lễ hôm đó sách nhiễu làm cho mọi người lo
ngại… (người trích ghi đậm những hàng đáng chú ý).
(…) “Chúng tôi phản đối những hành vi
nói trên và xin can thiệp để ngưng các vụ sách nhiễu đồng bào Công Giáo Thái
Bình vì đã đi dâng lễ hôm 02/05/2009 tại Nhà thờ Thái Hà – Hà Nội…”
Lần đầu tiên chúng ta được nghe Giám
Mục Nguyễn Văn Sang công khai tố cáo những hành vi bạo ngược, phạm pháp, đàn áp
tôn giáo của nhà cầm quyền cộng sản. Từ trước tới nay Đức Cha nổi tiếng là một
giám mục thân thiện và cộng tác với cộng sản. Mới hôm nào Đức Cha còn tuyên bố
việc cướp đất và đàn áp giáo dân Hà Nội “Đấy không phải chủ trương chính sách
của nhà nước” (trích theo tác giả An Bình, Vietcatholic.net 7-5-09). Vì thế,
cộng sản đã đáp lễ và chiều chuộng ngài đủ thứ, từ việc đi nghỉ mát Đồ Sơn, trả
đất chủng viện cũ, xây cất “hoành tráng” nhà thờ chính tòa và nhiều nhà thờ khác
thuộc giáo phận Thái Bình, đến việc được tặng “huy chương Hồ Chí Minh”. Khi cao
trào tranh đấu của giáo dân Hà Nội làm nhà cầm quyền lo âu, ông tướng thứ trưởng
Bộ Công An Nguyễn Văn Hưởng đã gọi điện thoại cho Đức Cha cả đêm để nhờ giúp đỡ.
Đức Cha nghĩ mình thuộc loại “nặng ký” trước mắt những người cộng sản. Lời ngài
nói ra phải được nể vì. Cái ghế tổng giám mục Hà Nội và sau đó là mũ áo hồng y
nếu được Tòa Thánh đề nghị cho ngài thì chắc đảng cộng sản sẽ chấp nhận liền,
nhất là ngài đã từng làm giám mục phụ tá Hà Nội trước khi được bổ nhiệm coi sóc
địa phận Thái Bình. Than ôi, ý Trời lại khác. Thời gian qua mau. Nay ngài đã xấp
xỉ 80 tuổi đời, đã đệ đơn xin Đức Giáo Hoàng cho về hưu. Bây giờ không còn gì để
trông chờ, tại sao không nói thật, nói thẳng? Hành động “vỗ mặt” của cộng sản
đối với ngài và giáo dân Thái Bình chẳng những khiến ngài buồn mà còn đau vì bị
mỉa mai:
“Một điều đáng buồn hơn là trong
qúa trình hoạt động của tôi được mọi người đánh giá là thân thiện, đối thoại với
tất cả mọi người, kể cả các vị trong Chính quyền các cấp, vì sự kiện mới xảy ra
mà nhiều người đã mỉa mai tôi trên báo điện tử rằng có được cái gì không mà đối
thoại với chính quyền, v.v…”(trích thư đã dẫn ở trên).
Vì tin tưởng chủ quan vào việc nhà
cầm quyền ưu ái mình, ngài nghĩ ngài có thể can thiệp với nhà cầm quyền để chấm
dứt việc đàn áp giáo dân Hà Nội bằng roi điện và cướp đất Giáo Hội làm công viên.
Ngài đã gọi điện thoại cho tướng công an Nguyễn Văn Hưởng nhiều lần, nhưng đầu
dây bên kia im lìm, không ai trả lời ngài. Chính ngài đã nói ra chuyện này và đã
được báo chí đăng lại. Bây giờ cộng thêm việc các cấp công quyền chơi xấu với
giáo dân của ngài, chắc ngài đã nhận ra mình lỡ “trao thân lầm tướng cướp”. Sống
lâu với người mình tưởng là tử tế đến khi hữu sự mới biết đó là những… thằng đểu.
Những vị mục tử khác muốn theo gương cộng tác và đối thoại của Đức Cha Sang để
tìm lợi lộc riêng cho giáo phận của mình đã tỉnh mộng chưa? Các vị có nhận ra
chiến thuật của cộng sản: vỗ béo khi ngoan, đối xử cạn tầu ráo máng khi hư (tức
làm trái ý đảng) hoặc hết xài? Có nên hy sinh sự thật, lý tưởng và danh dự để
đổi lấy sự an thân và lợi ích trần gian?
Mới đây chúng ta lại được nghe thêm
một tiếng nói của một vị giám mục khác. Đức Cha Nguyễn Văn Khảm, Giám Mục phụ tá
tổng giáo phận Sài Gòn, cho phổ biến vào tháng 2/2009 bài viết “Quan điểm Công
Giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội”. Đức Cha Khảm đã dùng
những tài liệu giáo huấn của Giáo Hội như Master et Magistra, Gaudium et Spes,
Lumen Gentium v.v.. để viết một bài tóm gọn liên quan đến vấn đề được nêu. Khi
nói tới các vấn đề xã hội là đụng tới tất cả mọi lãnh vực của đời sống con người:
tôn giáo, chính trị, công bằng xã hội, tệ nạn xã hội…Chúng tôi không diễn giải
toàn bài, chỉ xin nêu đôi điều đáng quan tâm.
Tác giả đã dùng hai sự kiện: Hội Đồng
Giám Mục Hoa Kỳ lên tiếng thúc đẩy việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa
Hoa Kỳ và Việt Nam (tháng 6/1989), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cử đặc sứ đi
thuyết phục Tổng Thống Bush đừng tấn công Iraq (2002), để chứng tỏ Giáo Hội
không thờ ơ và đứng ngoài các vấn đề chính trị, vì “Hành động của Giáo Hội nhằm
xây dựng công lý và tham gia vào việc biến đổi thế giới nên tốt lành hơn là một
chiều kích cấu thành trong sứ mạng của Giáo Hội nhằm cứu rỗi nhân loại và giải
thoát họ khỏi mọi tình trạng áp bức” (Văn kiện của Thượng Hội Đồng Giám Mục kỳ
3). Tuy nhiên Giáo Hội không tranh chấp quyền hành với ai. Giáo Hội chủ trương
cộng tác với thế quyền trong việc đem lại phúc lợi cho người dân qua đối thoại
và trong việc tôn trọng sự độc lập của nhau. “Giáo Hội cũng không muốn cậy nhờ
vào những đặc ân của thế quyền. Hơn thế nữa, ‘Giáo Hội cũng sẽ từ chối việc
xử dụng một số quyền lợi đã được hưởng cách chính đáng khi thấy rằng việc xử
dụng những quyền lợi đó làm cho người ta nghi ngờ về lòng thành muốn làm chứng
nhân của mình’ ”
Trong phần kết luận, Đức Cha Khảm
viết: “Là những người Việt Nam và là cộng đoàn các môn đệ của Chúa Giêsu,
Giáo Hội Công Giáo tại Việt nam lấy vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của
người dân Việt Nam làm vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của chính mình, và
không có gì là của con người mà không gieo âm hưởng trong lòng Giáo Hội. Trong
những năm qua, ý thức đó đã thúc đẩy Giáo Hội góp phần giải quyết các vấn đề xã
hội trong khuôn khổ luật pháp cho phép, và còn muốn góp nhiều hơn nữa trong
tương lai.
“Đồng thời Giáo Hội cũng ý thức rằng
để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, Giáo Hội cần tiến hành cuộc đối thoại
đa diện: đối thoại với chính quyền là những người có trách nhiệm tổ chức, ổn
định và xây dựng xã hội; đối thoại với các tôn giáo vốn là nền móng những giá
trị đạo đức của dân tộc; đối thoại với văn hóa dân tộc là nguồn của những giá
trị nhân văn đích thực và ngày nay đang có nguy cơ bị xói mòn; đối thoại với con
người, nhất là người nghèo vốn chiếm đa số trong cộng đồng dân tộc…”
Bài viết của Đức Cha Nguyễn Văn Khảm đã xác nhận trách nhiệm và vai trò của Giáo
Hội Công Giáo Việt Nam đối với đất nước và dân tộc Việt nam. Nó có giá trị lý
thuyết. Cần phải đem ra thực hành:
1/ “Giáo Hội không muốn cậy nhờ
vào những đặc ân thế quyền”. Rất đúng. Trường hợp Đức Cha Nguyễn Văn Sang và
địa phận Thái Bình đã chứng tỏ rằng nhờ cậy sẽ bị lợi dụng, khi không lợi dụng
được, người ta sẽ cho Giáo Hội sẽ trở về vị trí nạn nhân. “Giáo Hội cũng sẽ từ
chối một số quyền lợi chính đáng nếu bị nghi ngờ về lòng thành làm chứng nhân
của mình”. Điều này chưa từng thấy xảy ra đối với nhiều vị trong hàng giáo phẩm.
Chỉ thấy việc làm vừa lòng chính quyền để được hưởng những đặc ân, dù những đặc
ân đó chính là những quyền lợi chính đáng của mình.
2/ “Lấy vui mừng và hy vọng, ưu
sầu và lo lắng của người dân Việt Nam làm của mình”. Điều này qúa tự nhiên,
vì người Công Giáo Việt nam cũng là người Việt Nam, cùng chia sẻ vận mệnh và nỗi
thăng trầm của dân tộc. Tuy nhiên, các vị cầm đầu Giáo Hội Việt nam mới nói chứ
chưa làm đủ. Dân Việt Nam thuộc mọi tôn giáo đang bị cướp quyền tự do hành đạo
và quyền tự quản trị các giáo Hội, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã lên tiếng bênh
vực ai chưa? Ngay bênh vực mình cũng rất “e ấp” và chỉ giới hạn vào những trường
hợp cụ thể tại một số địa phương riêng lẻ. Nhiều người Việt Nam bị cướp nhà cướp
đất, đang lang thang ngủ đường ngủ chợ trên đường đi khiếu kiện, Giáo Hội Công
Giáo đã lên tiếng bênh vực họ lần nào chưa? Có nhà thờ hay cơ sở Công Giáo nào
mở cửa cho họ vào trọ qua đêm, được tắm rửa và được tiếp tế một chén cơm hay một
ổ bánh mì? Những thiếu nữ nông thôn vì nghèo phải bán thân làm vợ những người
ngoại quốc có được Giáo Hội giúp đỡ, cứu vớt khi bị ngược đãi , hay chỉ có một
mình Linh mục Hùng ở mãi tận Đài Loan làm công việc này? Những vụ nhượng đất,
nhượng biển cho ngoại bang, cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Cao Nguyên Trung
phần có làm Giáo Hội quan tâm và lên tiếng cùng toàn thể dân tộc để bảo vệ đất
nước? Đó có phải là trách nhiệm xã hội, là vui cái vui với người khác, buồn cái
buồn với người khác một cách cụ thể hay không?
3/ Đối thoại với nhà cầm quyền, Giáo
Hội vẫn chủ trương và theo đuổi từ trước tới nay. Kết qủa ra sao, Đức Cha Nguyễn
Văn Sang, Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và mọi người đã biết. Đối thoại đòi
hỏi cả hai bên phải biết lắng nghe nhau, tôn trọng nhau và tương nhượng nhau để
tìm giải pháp tốt đẹp. Nếu đối thoại là “câu giờ”, là “xin-cho” thì đó chỉ là
độc thoại.
4/ Đối thoại với các tôn giáo, Giáo
Hội đã thực hiện đối thoại với những tôn giáo nào, hay chỉ mới đến chúc mừng
Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh nhân dịp đại lễ Vesak được tổ chức dưới sự chỉ huy
và chi tiền của nhà nước?
Còn nhiều và còn nhiều nữa…, nhưng
chúng ta hãy tạm ngưng ở đây.
Hy vọng rằng những lời khôn ngoan và
đúng sự thật của Đức Cha Nguyễn Văn Khảm, nếu chưa phải là lập trường chính thức
của toàn thể Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, sẽ có giá trị thức tỉnh những vị có
trách nhiệm, sẽ làm cho người Công Giáo Việt Nam ý thức hơn mối tương quan giữa
Giáo Hội và Đất Nước, biết thể hiện tình liên đới với mọi thành phần dân tộc. Từ
lời nói đến việc làm cần ý chí và quyết tâm. Dù sao những lời phát biểu của Giám
Mục Thái Bình và Giám Mục Phụ Tá Sài Gòn trong những ngày vừa qua cũng đem lại
chút phấn khởi cho giáo dân. Các vị đã thức đêm và đã biết đêm dài. Các vị đã ở
lâu với những người có chức quyền và đã biết tâm địa họ ra sao. Mong rằng các vị
sẽ rút kinh nghiệm bản thân để hành động đúng đường, đúng cách, hướng dẫn đoàn
chiên tiếp tay với đồng bào cả nước trong việc mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân,
độc lập và chủ quyền cho đất nước, tự do cho Giáo Hội.
CHÁY NHÀ RA MẶT CHUỘT
Nhờ chuyện bauxite nổ ra người ta mới
thấy rõ hơn sự giả nhân giả nghiã, những thủ đoạn lươn lẹo và những bộ mặt “cù
không cười” của những người cầm quyền cộng sản Việt Nam và cả những trí thức
hàng đầu của chế độ mà nhiều người đã đặt khá nhiều hy vọng.
Về phía những người cầm quyền, khi
thấy dân chúng trong và ngoài nước đồng loạt phản đối việc cho Trung Quốc khai
thác bauxite ở Cao nguyên Trung phần, nhà nước phải tìm cách trấn an. Việc đầu
tiên là cho tổ chức vào đầu tháng 4 một cuộc hội thảo lớn quy tụ các nhà khoa
học trong nước với sự hiện diện của Phó Thủ Tướng chính phủ Hoàng Trung Hải. Cho
các nhà khoa học thảo luận đã đời, bàn đủ chuyện và đưa đủ thứ đề nghị, cuối
cùng, Phó Thủ Tướng kết luận và tuyên bố rằng chính phủ ghi nhận thiện chí và
tiếp thu những ý kiến của các vị, nhưng việc khai thác bauxite là một chủ trương
lớn của chính phủ, không thể hủy bỏ. Các nhà khoa học lẳng lặng cúi đầu cụp tai
ra về. Các vị được cho uống nước đường rồi phải ngậm bồ hòn làm ngọt.
Kế đến, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng
chơi trò trí trá với ông tướng già Võ Nguyên Giáp. Tướng Giáp gần 100 tuổi, chắc
có đám đàn em vấn kế, bơm hơi cho “người hùng” lên gân gửi cho Nguyễn Tấn Dũng
một thư đề ngày 14-01-09, trong đó có đoạn: “Không nên khai thác. Vì đứng về mặt
lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ
gây hậu qủa cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, và về xã hội, về an ninh quốc
phong”. Vì thấy uy tín của ông tướng già còn khá lớn trong dân chúng và quân đội,
Nguyễn Tấn Dũng đã phải dẫn một phái đoàn chính phủ đến thăm vấn an tướng Giáp
nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ vào tháng 5. Dịp này tướng Giáp lại
hiệu triệu phái đoàn chính phủ: “Rất mong các đồng chí lưu tâm đến chuyện khai
thác bô-xít Tây Nguyên. Đây là địa điểm chiến lược quan trọng của đất nước, có ý
nghiã quan trọng về quốc phòng an ninh không chỉ với Việt nam mà cả với Đông
Dương”. Thủ Tướng Dũng đáp lời một cách khẳng định: “Chính phủ xin tiếp thu ý
kiến của Đại tướng”. Chỉ mấy ngày sau, 09-05-09, trong một cuộc họp tại Hải
Phòng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố một cách hoàn toàn khác: “Tài nguyên đất
nước ta hạn hẹp trong khi trữ lượng bô-xít lớn thứ ba thế giới, riêng ở Tây
nguyên trên 5 tỷ tấn. Và việc khai thác sẽ đước chỉ đạo nghiêm túc và có sự kiểm
soát và quản lý chặt chẽ để đạt hiệu qủa kinh tế, đảm bảo bền vững về môi trường;
giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; đưa ngành công nghiệp khai thác
quặng bô-xít trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước; góp phần thúc đẩy
sự phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây nguyên”. Ý chính: quyết tâm cho khai thác
bauxite, bất kể lời khuyên bảo, can ngăn của ông tướng già, dù ông Dũng đã hứa
tiếp thu ý kiến. Đây chỉ là lời hứa cuội cũng như những lời hứa chỉ đạo nghiêm
túc, kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc khai thác. Vụ Vedan và hàng ngàn vụ lớn
nhỏ khác đã chứng minh khả năng chỉ đạo, kiểm soát và quản lý của nhà nước như
thế nào rồi.
Sau khi các nhà khoa học bị ngậm bồ
hòn, sau khi ông tướng già bị đàn em đá giò lái, các nhà tự nhận là trí thức
cũng nhảy vào cuộc. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Nhà văn Phạm Toàn, Giáo sư Tiến sĩ
Nguyễn Thế Hùng đã gửi cho các cấp chính quyền “Kiến Nghị 12-04-2009 về chủ
trương khai thác bauxite Tây Nguyên” với 135 chữ ký sơ khởi. Sau đó có thêm vài
ngàn chữ ký của các trí thức trong và ngoài nước. Dĩ nhiên kiến nghị này gây
tiếng vang khá lớn. Nhà nước phải lập tức cho Bộ Công Thương ra thông cáo phản
công. Thông cáo có câu:
“Có nhiều ý kiến rất kém xây dựng
hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lạc, dựng chuyện trầm trọng hóa, thậm chí
mang tính cách khích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng”.
Chối tội bằng cách đổ lỗi cho người
khác xử dụng thông tin sai lạc và bị các tổ chức phản động lợi dụng là cách cộng
sản quen dùng. Mấy ông chủ xướng“Kiến nghị” bắt buộc phải cãi lại bằng cách ra
Thư ngỏ số 2 ngày 07-05-09 vạch ra những dẫn chứng sai lầm trong thông cáo của
Bộ Công Thương. GS Nguyễn Huệ Chi, khi trả lời ký giả Mặc Lâm trên đài Á Châu Tự
Do ngày 13-05-09, còn chê Bộ Công Thương ra thông cáo vội vàng, nói liều và dốt,
“Những người đứng đầu Bộ Công Thương làm sao mà có thể đối đáp được với chúng
tôi vì chúng tôi có bằng cớ… Còn các ông ấy thì một mặt rất hạn chế về học vấn,
bởi vì chúng ta biết cái việc đào tạo quan chức ở Việt Nam có xuất phát từ học
vấn đâu, có xuất phát từ giáo dục đâu… Nhưng mà ít ra khi các ông ấy làm cái
việc gọi là hầu hạ bề trên thì các ông ấy phải giữ cho được tư cách, tức là sự
trung thực”.
Xem ra ông Nguyễn Huệ Chi có vẻ ngon
lành qúa cỡ. Chửi các cấp chính quyền như thế là tới bến rồi, còn hơn nhiều ông
ở hải ngoại ấp a ấp úng. Thế nhưng (chữ nhưng quái ác), Linh mục Phan Văn Lợi
lại phát hiện một khiá cạnh khác về ông Nguyễn Huệ Chi. Ngày 01-05-09, linh mục
phổ biến một điện thư tới các thân hữu cho biết linh mục đã nhân danh Khối 8406
gửi email cho GS Nguyễn Huệ Chi để bầy tỏ sự hiệp thông đồng tình và cung cấp
thêm các tài liệu. Buổi chiều cùng ngày gửi (30-04), ông Nguyễn Huệ Chi đã trả
lời như sau:
“Thưa các anh,
Giữa chúng ta không nên có hiệp thông. Mỗi bên đi một đường, như thế hay hơn.
Chúng tôi là những trí thức và đại đa số dân chúng không làm chính trị. Chúng
tôi không đòi dân chủ tự do như tuyên ngôn của các anh (người viết tô đậm để
nhấn mạnh) mặc dù việc các anh làm chúng tôi kính trọng. Xin các anh hiểu cho
chỗ khác biệt đó. Từ nay xin không gửi đến chúng tôi bất cứ tài liệu gì nữa và
cũng xin không sử dụng danh sách người ký “Kiến nghị” của chúng tôi vào bất cứ
việc gì thuộc phạm vi các anh. Đó là ý kiến chung của toàn thể những người đã ký
tên vào “Kiến nghị”.
Kính chào
Bauxit Việt Nam, 30-04-09
LM Phan Văn Lợi cũng cung cấp một
thông tin khác liên quan: Ngày 29-04-09, ông Bằng Phong Đặng Văn Âu, trong bài
viết “Đem tâm tình viết lịch sử - Thời đại qủy ám”, đã tiết lộ:
“Hôm kia, tôi “đăng ký”tên tôi vào
bản kiến nghị ngưng khai thác quặng Bauxit ở Tây Nguyên do nhà trí thức Nguyễn
Huệ Chi chủ xướng, nhưng tôi ghi rõ là tôi PHẢN ĐỐi, chứ không kiến nghị xin xỏ
gì cả. Hôm sau tôi nhận được email của ông Nguyễn Huệ Chi như thế này: “Thưa ông,
chúng tôi không phản đối nhà cầm quyền cho TQ vào khai thác Tây Nguyên mà chúng
tôi kiến nghị nhà nước dừng dự án khai thác (người viết tô đậm) bauxite Tây
Nguyên vì lợi bất cập hại xét về nhiều mặt: kinh tế, an ninh, môi trường, văn
hóa, quốc phòng. Giữa chúng ta cách nghĩ có khác nhau”.
Qua những lời lẽ trên, ông Nguyễn Huệ
Chi đã chứng tỏ ông là người tiêu biểu cho giới trí thức của đất ngàn năm văn
vật hiện nay, một thứ sản phẩm được sản xuất theo kiểu “ở bầu thì tròn, ở ống
thì dài”. Ông Nguyễn Huệ Chi đã thẳng thừng tuyên xưng bản chất: không hiệp
thông, không đòi dân chủ tự do, không phản đối nhà cầm quyền, chỉ dám kiến nghị.
Ông đã đóng vai đầu nậu xạo hết chỗ nói khi viết “Đó là ý kiến chung của toàn
thể những người đã ký tên vào “Kiến nghị”. Ông nhận thư của người ta vào buổi
sáng, ông trả lời vào buổi chiều cùng ngày, làm sao ông có thể hỏi ý kiến hàng
ngàn người ký tên ở trong và ngoài nước trong một khoảng thời gian ngắn như thế?
Những ai đã ký tên vào “Kiến nghị Nguyễn Huệ Chi” đã sáng mắt ra chưa? Các vị có
được ông Chi cho biết là khi ký “kiến Nghị”, các vị phải tán thành lập trường
không hiệp thông với ai khác, không đòi tự do dân chủ, không chống nhà cầm quyền
làm bậy mà chỉ đóng vai bề dưới thỉnh cầu bề trên hay không? Nếu không, các vị
đã bị ông Chi mượn tên để làm một việc với ẩn ý nào đó. Có thể đó là một cuộc
biểu dương lực lượng của giới trí thức các ông ấy trong lòng chế độ để từ nay
chế độ phải quan tâm tới các ông ấy hơn. Cũng có thể các ông ấy nhận công tác từ
“trên”: hướng dẫn ống hơi đang muốn nổ để đưa đi xì ở một chỗ an toàn. Nếu đúng
vậy thì đây chỉ là một màn kịch dân chủ giả hiệu. Muốn đóng trọn vai kịch mà
không bị nghi ngờ thì phải đóng như thật, phải mạnh mồm mạnh miệng, chỉ trích
đến nơi đến chốn, nhưng không được đụng tới những “tabou” Tự do dân chủ, thay
đổi chế độ. “Trên” chỉ cần có thế. Chửi bố họ cũng được, miễn họ vẫn giữ được
cái ghế để ngồi và cái mồm để đớp. Giả dụ ông Nguyễn Huệ Chi và những người
quanh ông thật sự muốn có một sự thay đổi thì đó cũng chỉ là một sự thay đổi
trong một vòng tròn khép kín, thay một vài việc và thay nhân sự chứ không thay
chế độ, thay Nông Đức Mạnh bằng Võ Nguyên Giáp hay một đàn em, thay Nguyễn Thiếu
Nhẫn bằng Nguyễn Huệ Chi chẳng hạn… Mấy anh ở vòng ngoài xin cứ đứng xa mà dòm.
Khối 8406 và những tổ chức khác hãy trông đó mà rút ra bài học.
Có cần nhắc lại Nguyễn Huệ Chi là một
trong 4 người được trung tâm William Joiner Center ở đại học Massachusetts thỉnh
sang nghiên cứu về căn cước của người Việt lưu vong? Vụ này đã được cựu biệt
kích Nguyễn Hữu Luyện kiện ra tòa án Mỹ và được đồng bào ủng hộ hàng trăm ngàn
Đô la để trả án phí.
Màn kịch lắng nghe ý dân về vụ
bauxite lại được trình diễn tại Quốc Hội. Bắt đầu từ 20-05-09, Quốc Hội họp kỳ 5
khóa XII. Trong nghị trình có hai vấn đề lớn:
1/ Hoàn thành cắm mốc biên giới Việt
– Trung. 2/ Khai thác bô-xít tại Tây Nguyên
Chưa cần chờ Quốc Hội thảo luận và
biểu quyết, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội Trần Đình Đàn, trong cuộc họp báo ngày
18-05 đã tuyên bố trước: “Tôi xin khẳng định Quốc hội ủng hộ chủ trương lớn
của Đảng, nhà nước khai thác bô-xít ở Tây Nguyên nhằm phát triển kinh tế xã hội
khu vực này”. Ông cũng chỉ thị luôn là Quốc Hội sẽ giao cho Ủy ban Kinh tế
của Quốc Hội thẩm tra hiệu qủa kinh tế của dự án và Ủy ban Khoa Học Công Nghệ
Môi Trường sẽ lo những phần liên hệ. Dù Quốc Hội chưa họp, ông Trần Đình Đàn đã
nói chắc như đinh đóng cột: “ Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ. Về việc
làm như thế nào, triển khai thế nào, dự án nào cần làm, quy hoạch thế nào là
trách nhiệm của cơ quan hành pháp Chính phủ”.
Thế này thì hết chỗ nói rồi. Văn
phòng Quốc Hội nói thay và nói trước cho Quốc Hội khi 439 đại biểu chưa đến họp,
chưa thụ lý hồ sơ, chưa thảo luận, chưa biểu quyết. Ngoài việc nhân danh cả Quốc
Hội để tuyên bố ủng hộ chủ trương bô-xít, Văn phòng còn bán cái việc thi hành
cho chính phủ mà không cần xem xét và khuyến cáo. Nhìn từ thế giới văn minh thì
thấy cách làm việc này phản nguyên tắc và kỳ cục. Nhưng nếu hiểu mọi quyết định
đều xuất phát từ đảng và không một hệ cấp nào có quyền thay đổi thì ta thấy việc
này có cái “logic” của nó: Đảng ra lệnh cho Văn phòng quốc hội – Văn phòng quốc
hội ra lệnh cho các đại biểu Quốc Hội – Các đại biểu Quốc Hội được Mặt Trận Tổ
Quốc chọn trước khi đưa ra cho dân bầu - Mặt Trận Tổ Quốc là một tổ chức ngoại
vi của đảng cộng sản. Như vậy có đi vòng vòng rồi cũng quay về một mối: mối đảng.
Bầy trò quốc hội chỉ tổ tổn tiền và tốn thời giờ vì quốc hội chỉ là con đẻ của
đảng. Nếu quốc hội là “quyền lực tối cao” thì đảng phải là “quyền lực siêu tối
cao”.
Qua những sự việc trên, chúng ta thấy
những người ngồi ở chóp bu chế độ cộng sản Việt Nam đang ở thế “há miệng mắc
quai” về vụ bauxite. Hoặc là họ đã ngậm tiền của ngoại bang nên khạc không ra mà
nuốt cũng khó vào. Hoặc chính họ là những con chốt được ngoại bang gài vào guồng
máy đảng và nhà nước. Bởi vậy họ mới quyết tâm thực hiện kế hoạch bauxite của
quan thầy, bất kể những thiệt hại cho đất nước, bất kể sự phản đối mạnh mẽ đến
từ mọi phía, kể cả từ trong lòng đảng cộng sản của họ. Đây là vấn đề sinh tử
theo nghiã đen đối với họ. Một là ngậm miệng ăn tiền, hai là mất ghế và mất luôn
chỗ đội mũ. Vì vậy dù có một triệu chuyên gia, trí thức, dù có một trăm ông
tướng Giáp kiến nghị và khuyên can, họ cũng chỉ bầy trò vuốt ve lấy lệ rồi đường
họ họ cứ đi. Chỉ tội cho Tây Nguyên và khốn nạn cho đất nước!
Đúng là “cháy nhà mới ra mặt chuột”.
Không có biến cố bauxite thì nhiều người còn tưởng những anh hương lý kỳ hào
làng Ba Đình ít ra cũng còn chút nhân nghiã, còn chút lòng với đất nước, những
“trí thức” như Nguyễn Huệ Chi ít ra cũng còn giữ được chút tư cách và chút lương
thiện của người có học. Đến nay thì mọi bộ mặt chuột đã lòi ra hết rồi. Trong
cái rủi có cái may. Biết đâu vụ bauxite chẳng là khởi đầu của một kết thúc. Nó
cũng giúp ta biết rõ não trạng của những người được gọi là “trí thức” dưới chế
độ “ưu việt” của “Bác” đảng để từ đó chúng ta sẽ biết tránh những bàn tay đeo
bao, và tìm ra những bàn tay trung thực mà nắm trong việc xây dựng lại quê hương.