Còn Là Tinh - Anh
Phạm Minh Tâm     

        Một trong những câu hỏi mà các tín-đồ của mỗi tôn-giáo cần đuợc trả lời thoả-đáng để đáp-ứng nhu-cầu tâm-linh của họ là ai làm chủ đuợc sự sống sự chết và sau khi chết thì con người đi về đâu? Thành ra, tôn-giáo nào cũng có phần thần-học và giáo-lý căn-bản về lý-lẽ này trong đó nói chung thì đều minh-xác rằng cái chết không phải là bi-thảm như một tai-họa đến chấm dứt mọi sự về một kiếp người, mà chính là một tình-trạng đột-biến để hoặc là thăng-hoa hoặc là đoạ-lạc tuỳ vào cách sống ở thời-gian tại-thế trong thân-phận làm người.
        Sự xác-định của các tôn-giáo về một thực-tại tâm-linh trong cõi siêu-hình dưới nhiều cách gọi hàm-xúc không những chỉ thay cho chữ “chết” nghe hơi thô-bạo mà còn mở ra một ý-nghĩa đẹp cho con người giữa cuộc sống này. Chẳng hạn như các Phật-tử tin rằng sống mà chỉ theo bản-năng vật-tính, không giữ nhân-phẩm, không có lương-tri đạo-đức với những hành-sự vô-luân vô-đạo để tạo ác-nghiệp thì sau khi chết sẽ bị đầy xuống ngục a-tỳ nơi âm-phủ, rồi bị sinh trở lại thế-giới này để bị luân-lưu trong đủ thứ kiếp sống khổ nhục của trâu, chó, sâu bọ...Còn người nhân-hiền, đạo-hạnh thì thành Phật, thành Bồ-tát vân-du cõi tiên, cõi phúc. Những người này không chết mà là quy tiên, chầu Phật... trong cõi thiên-thu bất tuyệt. Nho-giáo lại cho rằng nếu sống mà làm tiểu-nhân thì khi chết sẽ theo hình-hài mà nát với cỏ cây và những bậc hiền-nhân quân-tử thì linh-hồn bất-diệt thăng-hoa nhập với khí thiêng trong trời đất và còn mãi lưu-danh. Nho-giáo rất trọng chữ danh, mà thường thì phải có công mới có danh và để lập công thì lại phải ý-thức được bổn-phận của mình cần làm gì và làm cho ai. Bởi thế, hai chữ công-danh đi liền đã tạo thành định-hướng cho cuộc sống của kẻ-sĩ thời trước vì có phận sự nên đứng trong trời đất, không công-danh thà nát với cỏ cây (Nguyễn Công Trứ). Như vậy, những người này sẽ thành bất-tử với nhiều đời sau, cho dù phách tan nhưng tinh-thần hoà nhập với chính-khí thành tinh-anh giữa đất trời (tử giả thề-phách bất tử giả tinh-thần).
        Với Công-giáo, trong những ngày này, Giáo-hội đang bước vào buổi đầu của một khoảng thời-gian dành cho những người đã ra đi khỏi cuộc sống này mà giáo dân quen gọi là tháng các đẳng linh-hồn, là trọn tháng 11 hàng năm theo Dương-lịch. Có thể nói đây chính là mùa giao-cảm theo giáo-lý về tín-điều “các thánh cùng thông-công” đuợc nêu ra thường-nhật khi chúng ta đọc kin Tin-kính. Tín-điều này cho chúng ta một xác-quyết về tình huynh-đệ trong Đức Ki-tô không thể đứt đoạn giữa con người với nhau, cho dù còn sống hay đã khuất cũng như đã đuợc vào cõi phúc-lộc đời-đời. Vì vậy, ngày 1-11 hàng năm đã mở đầu tháng các-đẳng này với nghi-thức phụng-vụ là Lễ Các Thánh và trong ngày lễ này, các tín-hữu tấp-nập đi thăm viếng mộ phần của thân-nhân, bằng-hữu và chung hết mọi người anh em mình trong các nghĩa-trang để cùng họ hiệp-thông trong Thánh-lễ vào ngày kế tiếp mà Hội-thánh đã dành riêng dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện của cộng-đồng Dân Chúa gửi đến các đẳng linh-hồn. Không phải vô-tình mà hai ngày lễ Các Thánh và Các Linh-hồn liền nhau để mở đầu cho một thời-gian đặc-biệt nhắm vào sự giao-hưởng giữa hai bờ tử sinh, song là Giáo-hội muốn nhấn mạnh đến mối giây liên-kết giữa người tin với nhau để giúp nhau nên thánh.
        Người tín-hữu Công-giáo khi có một đời sống lành-mạnh và thánh-thiện đạt đến đuợc mức bác-ái vẹn toàn thì nên thánh, đuợc ghi vào sổ đời-đời vì đã làm trọn sứ-vụ nhân-chứng đích-thực của Đức Ki-tô và đuợc cứu rỗi.
Kể từ sau ngày 1-11-1963 mà trong nhiều năm tháng đầu mới mẻ liền sau đó đã được nhiều người xưng tụng là “cách-mạng 1-11”, cách riêng trong sổ-bộ các đẳng đã ghi thêm ba linh-hồn của dòng họ Ngô-Đình là Tổng-thống Ngô Đình Diệm và hai bào-đệ của ông là ông Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn. Cả ba người này giờ đây chắc-chắn vẫn cùng chúng ta chung tâm-tình giao-cảm bằng niềm tin Phục-sinh và nói chung, trong chính-sử của Việt-Nam có thêm những trang viết còn chưa ráo mực về một biến-cố chính-trị hệ-trọng đã chấm-dứt một thể-chế đang phục-vụ chính-nghĩa dân-tộc để mở đầu cho giai-đoạn lịch-sử chuyển tiếp đầy biến-loạn, rối ren và lùi dần đến kết-cục là ngày 30-4-1975.
        Sở dĩ có thể nói những trang sử chép về cuộc chính-biến ngày 1-11-1963 do số đông tướng lãnh trong quân-lực Miền Nam tiếp tay cho nhiều thế-lực chính-trị đen tối phá đổ nền Đệ Nhất Cộng-hoà vẫn chưa ráo mực vì cho đến giờ này những người và việc xoay quanh nó vẫn còn nhiều tín nghi đang lần-lượt đuợc bạch hoá từ các nhân-chứng đã kinh-qua và nhất là từ hồ-sơ an-ninh tình-báo phía Hoa-kỳ.
        Nhớ lại những ngày đầu khi vừa xong cuộc chính-biến, có nhiều nơi trên đuờng phố Sài-gòn đã diễn ra cảnh tượng ngổn-ngang, đổ-nát và bạo-lực không khác gì Bắc-kinh với cuộc “cách-mạng văn-hoá” và cảnh tượng của những ngày sau 30-4-1975. Cũng có từng nhóm người trẻ hung-hăng xông vào nhà này, nhà nọ phá-phách và hành-hung với danh nghĩa đi lùng bắt dư-đảng Cần-lao, mật-vụ Nhu Diệm...cũng có những ánh lửa hừng-hực bùng lên trước nhà này, tư-thất nọ đốt phá và cũng có những khuôn mặt ủ-rũ, những ánh mắt thất-thần sợ hãi nhìn người, nhìn đời và nhìn anh em cách nghi-kỵ. Rồi báo-chí cũng loan tin một chiều với những danh xưng gán cho người này là trùm mật-vụ, người kia là trùm tình-báo...giống như sau 30-4-1975 đi đâu cũng thấy lảng-vảng những tên ác-ôn tàn dư Mỹ Ngụy và CIA. Không ai dám nói khác đi, không ai dám nhận-định chính tà hay gian nịnh. Thành ra, tuy Miền Nam mãi đến 30-4-1975 mới thực sự rơi vào tay cộng-sản, nhưng tự lúc đó người ta cũng đã nếm thử đuợc mùi vị của loại bạo-lực này....
        Đã gần nửa thế-kỷ qua với bao biến-thiên vây bọc tiếp sức cho nhau để xô đất nước vào trong con đuờng hầm chưa tìm ra đưọc chút sáng, bao nhiêu tham-vọng sân si cũng đã bị ngọn lửa đỏ thiêu rụi và từng chiếc mặt nạ cũng từ-từ rơi để phô bày ra sự thật. Ba cái chết bi-hùng mang nhiều bí-ẩn như một huyền-thoại đã làm cho chính những kẻ trực-tiếp nhúng tay vào đã phải quanh-quất che đậy cho đến cả nơi vùi sâu an-nghỉ và tên tuổi cũng không dám công-khai. Điều đó càng nói lên ý-nghĩa rằng uy-danh của những người ấy là một sức mạnh, là tinh- anh bất-diệt.
        Những ngày này là của mùa các đẳng linh-hồn thứ 46 rồi mà cũng ít ai đã có dịp một lần đi viếng mộ ba người huynh-đệ đã vì lý-tưởng quốc-gia mà bị uổng tử trong nhiều bàn tay bẩn.
        Giờ đây, tại một nơi mang tên NGHĨA TRANG NHÂN DÂN 660 ở Lái-thiêu có ba ngôi mộ mà trong đó vẫn còn hai người chưa đuợc ghi rõ tính danh sẽ giúp cho mai-hậu dễ-dàng phân-định công-minh mọi sự.
        Và cho dù không ghi tên ghi họ thì người ta vẫn tìm ra đuợc theo con đuờng từ Sài-gòn đi Lái Thiêu, qua cầu Ông Bố đến  trạm thu tiền rồi đi thẳng qua ngã ba chừng vài trăm thước sẽ thấy bên tay phải có bảng tên của nghĩa trang như trên và đi tiếp chừng 100 thước nữa thì rẽ vào khu mộ ngay bên đuờng sẽ thấy ngôi mộ của Tổng-thống Ngô Đình Diệm đề là “Huynh” và mộ của ông Ngô Đình Nhu mang trên bia là “Đệ”.
        Bên cạnh niềm tin vào Đức Ki-tô Phục-sinh, xin muợn lời văn-tế của người xưa để làm kết-luận thay vào tấm lòng hoài niệm : “Cho hay sinh là ký mà từ là quy, mới biết mệnh ấy yểu mà danh ấy thọ” (Nguyễn Văn Thành - Văn-tế Trận vong tướng-sĩ)
        Đừng rẽ vào, cứ tiếp tục đi thẳng qua . (còn chừng 50 thước là cuối nghĩa trang).
        Ngôi mộ đầu tên ĐỆ (ông Nhu), mộ giữa của bà cụ Phạm Thị Thân, và HUYNH (TT NĐD).
        Tắp xe vào lề, nhìn xuống mấy nấm mộ, thấy tấm BIA lớn để tên JEAN Baptist CẨN, bước xuống chừng 3 hàng mộ, quẹo qua phía TRÁI chừng 10 bước gặp 3 ngôi mộ xây liền nhau.