Lễ
Gi�ng Sinh
của
đời sống người Kit�-hữu
Đ.�.
Trần văn Ho�i
L�
người t�n-hữu gi�o d�n muốn l�m t�ng đồ
nghĩa l� muốn chu to�n bổn phận kit� hữu
của m�nh giữa trần thế,theo tinh thần Ph�c �m,
ch�ng ta kh�ng thể kh�ng t�m hiểu nguồn gốc � nghĩa
nhập thế của Gi�o hội.
Bổn
phận nhập thế của Gi�o hội l� một
bổn phận căn bản ph�t xuất từ mầu
nhiệm Nhập-thể của Ng�i Lời Con Thi�n Ch�a.
V�
Ng�i Hai đ� xuống thế l�m người,
V�
ở c�ng ch�ng ta.
V�
th�nh Gioan giải th�ch tiếp theo :
Ng�i
ở trong thế gian,
V�
thế gian do Ng�i dựng n�n,
V�
thế gian kh�ng nhận ra ng�i
Ng�i
đến nh� Ng�i,
Nhưng
b� con Ng�i kh�ng đ�n tiếp Ng�i. (Gio.1,10-11)
�
l� t�m trạng của con người, của x� hội lo�i
người khi Ng�i Hai đến để ở với
họ.
Nhưng
Ng�i Hai Thi�n Ch�a vẫn tiếp tục chương tr�nh
cứu chuộc của Ch�a Cha đ� tiền định l�
quy tụ mọi lo�i mọi vật tr�n trời dưới
đất dưới quyền một vị thủ l�nh
độc nhất l� đức Kit� v� ch�ng ta đ�
được ơn cứu rỗi v� ơn tha tội
nhờ m�u Ng�i đổ ra. (Eph.1,1-11).
Sau
đ�y l� chương tr�nh nhập-thế của đức
Kit� được th�nh Luca ghi lại, khi đức Kit�
bắt đầu c�ng việc rao giảng Tin Mầng :
Th�nh
Linh Ch�a ngự xuống tr�n t�i,
V�
Ng�i đ� xức dầu th�nh hiến t�i,
Để
t�i đem tin mầng cho người ngh�o kh�,
Ng�i
đ� sai t�i loan b�o sự giải tho�t cho những ai
bị bắt cầm t�,
V�
cho kẻ đui m� được thấy �nh s�ng,
Trả
tự do cho kẻ bị �p bức,
C�ng
bố năm hồng �n của Ch�a tể.
(Lc.4,18-20)
�y
l� chương tr�nh Nhập-thế nhằm cải tạo
x� hội con người đầy tội lỗi v�
bất c�ng. Biết rằng mục đ�ch của đức
Kit� trong chương tr�nh cứu chuộc l� đổi
mới con người. Nhưng đổi mới con người,th�
phải đổi mới xẵ hội n� đang sống
như tục ngữ ch�ng ta thường n�i: Gần
mực th� đen,gần đ�n th� s�ng hay l�: Ở
ống th� tr�n ở bầu th� d�i. Cũng như người
gieo giống. Nếu họ kh�ng l�m đất cho sạch
gai gốc đ� sỏi th� hạt giống gieo xuống
sẽ bị chết nghẹt kh�ng thể mọc l�n
được. Một x� hội thối n�t đầy
bất c�ng,đầy tệ đoan,đầy mọi
thứ tội lỗi,l�m sao con người mọc l�n
được nghĩa l� trở n�n tốt được?
Đức
Gi�su vừa rao truyền tin mầng l� hạt giống,
vừa cải tổ x� hội l� đ�m đất để
hạt giống tin mầng c� thể mọc l�n được.
Theo
b�i Ph�c �m của th�nh Luca, ch�ng ta thấy x� hội
thời Ch�a Gi�su c� những tệ đoan,những gai
gốc sỏi đ� sau đ�y: Đ� l� c�c người
ngh�o khổ kh�ng ai nghĩ tới để gi�p đỡ
như ch�ng ta thấy trong dụ ng�n người gi�u c�
với người ăn m�y Lazar� (Lc.16,19-30). Hạng người
thứ hai những kẻ bị t� đ�y. Hạng người
thứ ba l� những kẻ đui m�, bệnh tật, v�
sau hết l� hạng người bị �p bức.
C�
lẽ đ�y l� h�nh ảnh của mọi x� hội con người
qua mọi thời đại nhất l� x� hội Việt
nam h�m nay. Ch�ng ta thử đọc lại đoạn
đầu của dụ ng�n người gi�u c� trong Ph�c
�m của th�nh Luca sẽ thấy: C� một người gi�u
c� ăn mặc sang trọng lụa l� v� mỗi ng�y ăn
uống to�n nem c�ng chả phụng. V� một người
ngh�o khổ, t�n l� Lazar�, nằm trước cữa dinh �ng
nh� gi�u m�nh đầy ung nhọt. Việt Nam h�m nay l�
một trong những nước ngh�o đ�i nhất
thế giới v� cũng l� một nước c� nhiều
người gi�u c� m� sống v� nh�n đạo. Việt
Nam cũng l� một nước c� nhiều người
bệnh tật m� kh�ng được nh� nước
chiếu cố cấp dưởng. Việt Nam cũng l� nước
c� nhiều người bị �p bức, bị cầm t�
một c�ch rất bất c�ng.
Trong
chương tr�nh cứu chuộc của đức Kit�, th�
tất cả những hạng người tr�n đều
c� ph�c. Ch�ng ta h�y nghe Ng�i tuy�n bố:
Ph�c
cho kẻ ngh�o kh�,v� nước trời l� của họ.
Ph�c
cho kẻ phải ưu sầu phiền muộn,v� họ
sẻ được an ủi.
Ph�c
cho ai khao kh�t sự c�ng ch�nh,v� họ sẻ được
no thỏa.
Ph�c
cho ai t�m c�ch kiến tạo nền h�a b�nh,v� họ
sẻ được gọi l� con Thi�n Ch�a.
Ph�c
cho những kẻ bị bắt bớ v� lẽ c�ng ch�nh,v�
nước trời thuộc về họ.
Ph�c
cho c�c con khi bị người ta nhục mạ,bắt
bớ v� bị c�o gian về mọi điều bỉ
ổi v� danh thầy. Ch�ng con h�y vui mầng h�n hoan v�
phần thưởng của ch�ng con ở tr�n trời
sẽ được bội hậu.
(Mt.5,3-12)
Tại
sao những hạng người nầy lại c� ph�c ?
V�
những người ngh�o khổ,những kẻ bị �p
bức t� đ�y-- l� những nạn nh�n của tội
lỗi,của c�c tổ chức bất c�ng trong một x�
hội thối n�t. Đức Gi�su l� con chi�n g�nh tội
trần gian, n�n ng�i nhập thế để g�nh hết
mọi hậu quả của tội lỗi,l� y�u thương
những nạn nh�n của tội lỗi đến
nỗi Ng�i đồng h�a ch�nh m�nh ng�i với những
kẻ ngh�o kh� bệnh tật t� đ�y. Ch�nh Ng�i tuy�n
bố rằng Ng�i với những kẻ đ�i kh�t
bệnh tật t�-đ�y - l� một. Đọc lại �
nghĩa b�i Ph�c �m n�i về ng�y Ph�n x�t chung, ch�ng ta
sẽ thấy.
Khi
Con người ngự đến trong vinh quang,c�c thi�n
thần Ch�a ph�n biệt người l�nh kẻ dữ
đứng b�n hữu v� b�n tả Ng�i, th� Ng�i ph�n
với c�c kẻ l�nh như sau:
Hỡi
những người được Cha ta ch�c ph�c h�y đến
nhận phần gia nghiệp Nước trời đ�
dọn sẵn cho c�c con từ ng�y tạo dựng thế
gian. Bởi v� khi ta đ�i c�c con đ� cho ta ăn,k hi ta kh�t
c�c con đ� cho ta uống,khi ta lưu vong c�c con đ�
đ�n tiếp, khi ta ngh�o khổ trần truồng c�c con
đ� cho �o mặc, khi ta bệnh hoạn ch�ng con đ� thăm
viếng, khi ta bị t� tội c�c con đ� đến
gặp gỡ ủi an. Khi ấy c�c người l�nh
trả lời: C� khi n�o ch�ng con thấy Ch�a đ�i m� cho
ăn, Ch�a kh�t m� cho uống, Ch�a lưu vong m� đ�n
tiếp, Ch�a trần truồng m� cho �o mặc, Ch�a
bệnh hoạn v� bị t� m� thăm viếng đ�u? V�
Ch�a trả lời: Ta n�i thật với c�c con, khi c�c con l�m
những điều nầy cho một trong những anh em h�n
mọn nhất của ta, đ� l� ch�ng con l�m cho ch�nh m�nh
ta.
Rồi
Ch�a hướng về ph�a người dữ v� l�n �n
phải v�o lửa hỏa ngục đời đời v�
khi ở đời đ� kh�ng cho kẻ ngh�o đ�i ăn,kh�ng
cho kẻ kh�t uống,kh�ng thăm viếng người
tật bệnh t� tội... (Mt.25,31-46)
Như
vậy đức Gi�su Kit� đ� đưa ra cho ch�ng ta
một ti�u chuẩn r� r�ng để ph�n biệt đ�u l�
đời sống kit�-hữu thật sự v� đ�u l�
đời sống kit�-hữu sai lầm: Đời
sống kit�-hữu thực sự kh�ng chủ tại si�ng
năng xem lễ đọc kinh,giữ ng�y Ch�a nhật,
hoạt động t�ng đồ trong nhiều hội
đo�n� Đ�y chỉ l� phương thế. V� ch�ng ta
đừng hiểu lầm phương thế th�nh mục
đ�ch. Đời sống kit�-hữu thực sự cũng
kh�ng chủ tại đời sống tu tr� hay chức th�nh
của c�c linh mục gi�m mục. Đ�y l� chức vụ
Ch�a Giao ph� để điều h�nh v� th�nh h�a D�n Ch�a.
Nếu kh�ng sống đời sống kit�-hữu thực
sự th� c�c vị ấy cũng kh�ng thể chu to�n
chức vụ cao cả Ch�a đ� trao ph�.
Vậy
bản chất của đời sống kit�-hữu
thực sự l� sống như đức Kit� đ�
sống nghĩa l� Đồng h�a m�nh với c�c nạn nh�n
của tội lỗi. Ng�y n�o ch�ng ta n�i được như
th�nh Phaol�: T�i sống m� kh�ng phải t�i sống m� ch�nh
đức Kit� sống trong t�i. Nghĩa l� ch�ng ta đau c�i
đau của kẻ đau, khổ c�i khổ của
kẻ khổ.
Khi
Ch�a Kit� n�i: Tất cả c�c lề luật, c�c lời ti�n
tri, c�c điều răn-- chỉ t�m lại trong hai điều
l� mến Ch�a hết l�ng v� y�u thương anh em như ch�nh
m�nh th� ch�ng ta phải hiểu ch�nh đức Kit� đ�
sống đức �i nầy trước hết để
l�m gương cho ch�ng ta hiểu điều nầy l�:
Đức �i của đời sống kit�-hữu kh�ng
phải l� một h�nh động trong một ho�n cảnh
n�o đ�. Kh�ng! Đức
�i của Ch�a Kit� l� một trạng th�i của t�m
hồn: Người kit� hữu phải nh�n tất cả
những kẻ ngh�o đ�i,bệnh tật,t� tội,�p
bức-- nạn nh�n của tội lỗi, như ch�nh
bản th�n m�nh v� m�nh c� bổn phận phải l�m
mọi c�ch để cứu vớt họ.
Chương
tr�nh cứu chuộc của đức Kit�, Ng�i đ� trao
lại cho Gi�o hội của Ng�i tiếp tục, v� Gi�o
Hội l� th�n thể của Ng�i.
V�
thế ch�ng ta c� thể n�i: Gi�o Hội của Ch�a Kit� l�
Gi�o hội của người ngh�o, l� Gi�o hội của
kẻ bị bắt bớ �p bức. Bởi Gi�o hội
đ� nhận l�nh sứ mệnh nhập thế của
đức Kit�.
Qua c�ng
đồng Vatican II, Gi�o hội đ� � thức một c�ch
r� r�ng sứ mệnh nhập thế nầy. Trong hiến
chế Vui Mầng v� Hy vọng c�ng đồng tuy�n
bố:
Vui
mầng v� hy vọng, ưu sầu v� lo lắng của con
người ng�y nay,nhất l� của người ngh�o v�
của những ai đau khổ, cũng l� vui mầng v� hy
vọng, ưu-sầu v� lo lắng của c�c m�n đệ
Ch�a Kit�. V� kh�ng c� g� thực sự l� của con người
m� lại kh�ng gieo �m hưởng
trong l�ng họ. Thực vậy cộng đo�n
của họ được cấu tạo bằng
những con người đ� được quy tụ
trong Ch�a Kit�,được Ch�a Th�nh thần hướng
dẫn trong cuộc lữ h�nh về nước Cha v�
đ� đ�n nhận tin mầng cứu rỗi đem đến
cho mọi người. V� thế cộng đo�n ấy
mới nhận thấy m�nh thực sự li�n hệ
mật thiết với lo�i người v� lịch sử
nh�n loại... (số 1.)
Một khi đ� � thức được sứ-
mệnh của m�nh l� tiếp tục cuộc sống
nhập-thế của đức Kit� v� � thức
được t�nh li�n đới với nh�n loại, Gi�o
hội phải l�m g� ?
Gi�o
hội phải thi h�nh mệnh lệnh truyền gi�o
của đức Kit� đ� trao ph� trước khi Ng�i l�n
trời. Ng�i n�i với 11 vị m�n đệ như sau :
Mọi
quyền ph�p tr�n trời dưới đất đ� ban
cho Thầy.Vậy ch�ng con h�y đi rao giảng v� tuyển
chọn c�c đồ đệ trong mọi d�n mọi nước,rửa
tội cho họ nh�n danh Cha v� Con v� Th�nh Thần v�
dạy cho họ giữ c�c điều Thầy đ�
truyền dạy cho c�c con. V� đ�y Thầy ở với
c�c con mọi ng�y cho đến tận thế. ( Mt.28,18-20 )
Trong
hiến chế Truyền gi�o Ad Gentes của c�ng đồng
Vatican II, Gi�o hội giải th�ch sứ mệnh truyền
gi�o của m�nh như sau:
Tự
bản t�nh,Gi�o hội lữ h�nh phải truyền gi�o v�
ch�nh Gi�o hội bắt nguồn từ sứ mạng
của Ch�a Con v� Ch�a Th�nh thần theo � định
của Ch�a Cha� � định của Thi�n Ch�a nhằm
cứu rỗi to�n thể nh�n loại kh�ng phải chỉ
được thực hiện một c�ch c� thể n�i l�
k�n đ�o, trong t�m tr� con người� Nhưng để
cũng cố sự giao h�a hay l� mối hiệp th�ng c�ng
Thi�n Ch�a, v� để x�y dựng một x� hội huynh
đệ giữa con người, những con người
tội lỗi, Ng�i đ� quyết định đi v�o
lịch sử lo�i người một c�ch mới mẻ v�
dứt kho�t bằng c�ch sai Ch�a Con mặc lấy x�c ph�m
ch�ng ta để nhờ Ch�a Con Ng�i giải tho�t nh�n
loại khỏi quyền lực tối tăm v� Satan v�
để trong Ch�a Con Ng�i h�a giải thế gian với ch�nh
Ng�i. Thật vậy nhờ Ch�a Con Ng�i đ� s�ng tạo vũ
trụ n�n Ng�i cũng đạt Ch�a Con thừa hưởng
vũ trụ để trong Ch�a Con mọi sự được
t�i lập (số 3.)
Bản
văn nầy ph�n t�ch cho ch�ng ta thấy � định
cứu rỗi của Thi�n Ch�a gồm hai phần: Trước
ti�n l� t�m c�ch giao h�a con người lại với Thi�n
Ch�a. Tiếp đến l� x�y dựng một x� hội
huynh đệ giữa con người. Để thực
hiện hai mục đ�ch nầy, Ng�i sai Con Ng�i l� Ng�i
Lời nhập thể l�m người để sống
với con người một cuộc sống nhập
thế.
Gi�o
hội đang thực hiện hai mục đ�ch nầy
trong việc truyền gi�o của m�nh. V� Gi�o hội
thực hiện qua c�c con c�i của m�nh,nhất l� qua c�c
gi�o xứ, c�c xứ đạo. V� Gi�o xứ l� ch�nh Gi�o
hội sống giữa con c�i nam nữ của m�nh.
Nếu
nh�n v�o sự sống của c�c gi�o xứ Việt Nam ch�ng
ta trong cũng như ngo�i nước, ch�ng ta phải th�
nhận rằng ch�ng ta chưa sống đ�ng theo tinh
thần truyền gi�o Ph�c �m của Gi�o hội. Bởi
lẽ ch�ng ta chỉ ch� trọng một trong hai mục
đ�ch của � định của Thi�n Ch�a l� t�m c�ch
giao h�a con người lại với Thi�n Ch�a. C�n mục
đ�ch thứ hai l� x�y dựng một x� hội huynh
đệ giữa con người th� ch�ng ta lại cố
� bỏ qu�n.
Ch�ng
ta h�y đọc lại đoạn 4 của Ph�c �m th�nh
Luca ch�ng ta sẽ thấy đức Gi�su Kit� h�nh động
ngược hẳn lại với hoạt động
của c�c cha xứ trong c�c xứ đạo Việt Nam:
Sau khi th�nh Luca kể lại việc đức Gi�su Kit�
đưa ra chương tr�nh h�nh động nhập
thế v� bị b� con l�ng giềng định x� xuống
vực thẳm,Ng�i liền bỏ th�nh Nazar�t qu� qu�n
của Ng�i đi qua th�nh Capharnaum.Ở đ�y ng�i rao
giảng Ph�c �m v� chửa l�nh c�c bệnh tật :chữa
người bị quỷ �m,chữa cho b� nhạc gia
của th�nh Ph�r� khỏi sốt r�t, v� tất cả
những người bị đủ c�c thứ bệnh�
(Lc.4,18-41). Đối với đức Kit� rao truyền tin
mầng kh�ng chỉ chủ tại lời n�i, nhưng
chủ tại l�m sao cho con người đang sống
lầm than khổ n�o c�m nghiệm được Tin
Mầng thể hiện trong cuộc sống của họ.
V� thế ng�i bị tố c�o sống th�n thiện
với người tội lỗi, với hạng người
bần c�ng trong x� hội. Nhưng ai l� người
cần tin mầng hơn những người tội
lỗi,những nạn nh�n của tội lỗi? V� người
th�nh thiện, người gi�u c� họ đ� được
tin mầng do lời ca tụng t�n vinh của d�n ch�ng
rồi!
Một
c�ch cụ thể ch�ng ta h�y nh�n v�o chương tr�nh sinh
hoạt của một cộng đo�n gi�o xứ Việt
nam ở hải ngoại: Trước ti�n l� c�c việc
đạo đức như xưng tội rước
lễ, đi lễ ng�y Ch�a-nhựt, si�ng năng kinh
nguyện h�m mai� nghĩa l� c�c sinh hoạt của mục
vụ b�-t�ch.
Tiếp
đến l� sinh hoạt c�c hội đo�n c�ng gi�o
tiến h�nh như hội Đạo binh đức Mẹ,
Cursillos, t�ng đồ Fatima, hội c�c b� mẹ c�ng gi�o,nghĩa
binh th�nh thể. C� người gia nhập đến 3, 4
hội đo�n đến nỗi kh�ng c�n th� giờ lo c�c
bổn phận kh�c.
C�c
hội đo�n được Gi�o hội khuyến kh�ch
để l�m phương tiện gi�p ch�ng ta sống đạo
v� l�m việc t�ng đồ. Nhưng ch�ng ta lại
giới hạn việc t�ng đồ của ch�ng ta trong
ranh giới một gi�o xứ kh�ng nghĩ đến người
anh em ngo�i c�ng gi�o đang ở kế cận gi�o xứ
của m�nh, v� cũng giới hạn việc t�ng đồ
trong chiều k�ch duy nhất đạo đức kh�ng nghĩ
đến ho�n cảnh cụ thể x� hội m� ch�ng ta c�
bổn phận phải th�nh h�a. Một trong những � nghĩa
ch�nh của mầu nhiệm nhập thể l� cải
tạo x� hội lo�i người.
Đức
Gi�su nhập thế, Gi�o hội nhập thế, nhưng
cộng đo�n gi�o xứ th� xuất thế sống như
một h�n đảo thi�ng li�ng lơ lửng tr�n kh�ng
trung trong thế giới ri�ng của m�nh.
Để
biện minh cho cuộc sống xuất thế của m�nh c�
người đ� tuy�n bố: người c�ng gi�o kh�ng l�m
ch�nh trị .
Ch�nh
đức Gi�o ho�ng Gioan Phaol� II,trong t�ng huấn gởi người
t�n hữu gi�o d�n đ� b�c bỏ luận điệu
ngụy biện nầy: Ng�i viết:
Để
đem đời sống Kit�-hữu v�o trật tự
trần thế, nghĩa l� đem đạo v�o đời,
theo � nghĩa l� phục vụ con người v� x�
hội, c�c t�n hữu gi�o d�n tuyệt đối kh�ng
thể từ chối tham gia v�o việc ch�nh trị, nghĩa
l� tham gia v�o c�c hoạt động mang nhiều sắc th�i
như hoạt động kinh tế, x� hội, lập ph�p,
h�nh ch�nh, văn h�a c� mục đ�ch cổ v� c�ng �ch
một c�ch c� cơ chế. (số 42)
Tiếp
đến đức gi�o ho�ng c�n nhắc lại lời
của c�c nghị phụ c�ng đồng Vatican II tuy�n
bố: Mọi người t�n hữu v� mổi người
c� quyền lợi v� bổn phận phải tham gia v�o ch�nh
trị dưới nhiều h�nh thức kh�c nhau.
Theo
định nghĩa của đức Gi�o ho�ng Gioan Phaol�
II th�: Ch�nh trị l� việc tổ chức một x�
hội trong mọi cơ cấu của n�,từ lập ph�p,
h�nh ph�p đến kinh tế văn h�a.
C�
lẽ người tuy�n bố: ch�ng t�i kh�ng l�m ch�nh
trị, người c�ng gi�o kh�ng l�m ch�nh trị� v�
hiểu rằng ch�nh trị l� một hoạt động
đầy mưu m� xảo quyệt để đạt
tới quyền thế danh vọng tiền t�i. Nhưng cũng
ch�nh đức Gi�o ho�ng nầy trả lời cho c�c
vị ấy như sau :
Ch�ng
ta thường nghe n�i những nh� cầm quyền, c�c
quốc hội,c�c giai cấp l�nh đạo v� c�c đảng
ph�i ch�nh trị bị tố c�o l� những kẻ lợi
dụng thời cơ,t�n thờ quyền b�nh,�ch kỷ v�
tham nhủng. Ch�ng ta cũng nghe dư luận quần ch�ng
đ� đ�y bảo rằng ch�nh trị l� nơi đầy
dẫy h�nh động v� lu�n l�. Tất cả những
lời khinh khi nầy kh�ng c�ch n�o b�o chữa được
cho người c�ng gi�o trốn tr�nh ch�nh trị hay nghi
ngờ c�ng việc chung. (id.42.)
C�ng
đồng Vatican II l�n �n nặng nề những ai tuy�n
bố ph�n t�ch c�c hoạt động trần thế như
hoạt động ch�nh trị ra khỏi đời
sống kit�-hữu, v� l�m như vậy l� hiểu sai
lạc Mầu nhiệm Nhập thể của đức
Kit�.
Ch�nh
c�ng đồng đ� ra một hiến chế rất quan
trọng để khẳng định lập trường
v� đức tin của Gi�o hội đối với
Mầu nhiệm Nhập thể. Đ� l� Hiến chế
Vui Mầng v� Hy vọng n�i về Gi�o hội trong thế
giới ng�y h�m nay. Lời l�n �n nặng nề n�i tr�n
được ghi r� như sau :
C�ng
đồng khuyến kh�ch c�c Kit�-hữu, c�ng d�n của
hai th�nh tr� (hai nước) h�y nổ lực v� trung th�nh
chu to�n những bổn phận trần thế của
họ dưới sự hướng dẫn của tinh
thần Ph�c �m.
Thực
sai lầm cho những ai biết rằng ch�ng ta kh�ng c�
một qu� hương trường tồn ở trần
thế m� phải kiếm t�m một qu� hương
hậu lai,m� lại tưởng rằng m�nh c� thể xao
l�ng c�c bổn phận trần thế; l�m như thế l�
kh�ng hiểu rằng ch�nh đức tin buộc phải chu
to�n c�c bổn phận đ� ho�n hảo hơn, mỗi người
t�y theo ơn gọi của m�nh.
Ngược
lại cũng sai lầm kh�ng k�m đối với
những ai nghĩ rằng c� thể dấn th�n ho�n to�n v�o
c�c sinh hoạt trần thế như thể c�c sinh
hoạt ấy ho�n xa c�ch với đời sống đạo
đức của đức tin,v� cho rằng đời
sống đạo đức chỉ chủ tại
những h�nh vi phụng tự v� một v�i bổn
phận lu�n l� phải chu to�n m� th�i. Sự ph�n t�ch giữa đức tin m�
họ tuy�n xưng với cuộc sống thường
nhật m� nhiều người chủ trương,đ�
l� một trong những sai lầm trầm trọng nhất
của thời đại ch�ng ta. V� gương m� nầy
trong Cựu ước c�c ti�n tri đ� mạnh mẽ
tố c�o (Is.58,1-12) v� trong T�n ước ch�nh Ch�a Gi�su c�n
đe dọa nặng nề hơn nữa bằng những
h�nh phạt rất nghi�m giặt. (Mt.23,3-33) .
Đối
với người kit� hữu,xao l�ng bổn phận
trần thế tức l� xao l�ng bổn phận đối
với tha nh�n v� hơn nữa đối với ch�nh Thi�n
Ch�a,khiến phần rỗi đời đời của m�nh
bị đe doạ. (số 43.)
Nếu
ph�n t�ch lời tuy�n bố của C�ng đồng ch�ng ta
thấy C�ng đồng nhấn mạnh những điểm
sau đ�y:
C�ng
đồng k�u gọi v� khuyến kh�ch tất cả
mọi kit� hữu kh�ng ph�n biệt l� gi�o d�n tu sĩ hay
linh mục gi�m mục phải chu to�n bổn phận
trần thế.
Mỗi
người t�y theo ơn gọi của m�nh phải chu to�n
c�c bổn phận ấy theo sự hướng dẫn
của tinh thần ph�c �m.
Đức
tin kh�ng phải l� một trở ngại cho c�c hoạt
động trần thế. Ngược lại đức
tin buộc phải chu to�n c�c bổn phận ấy ho�n
hảo hơn.
Ph�n
t�ch đức tin ra khỏi đời sống thường
nhật của con người đ� l� một sai lầm
trầm trọng nhất trong thời đại ch�ng ta.
Theo
sự hướng dẩn của C�ng đồng ch�ng ta
thấy: mỗi người theo ơn gọi của m�nh
phải chu to�n c�c bổn phận trần thế, Gi�m
mục theo ơn gọi của gi�m mục, linh mục theo
ơn gọi của linh mục v� gi�o d�n theo ơn gọi
của gi�o d�n.
Nhưng
trong l�nh vực c�c hoạt động trần thế,người
t�n hữu gi�o d�n đ�ng vai tr� ch�nh giữa s�n khấu
cuộc đời v� T�nh c�ch trần thế của
họ. C�n c�c vị l�nh đạo tinh thần c� tr�ch
nhiệm đ�o tạo hướng dẫn họ để
họ thi h�nh đ�ng theo tinh thần Ph�c �m. (Về
vấn đề nầy ch�ng ta sẽ b�n tới trong b�i:
Ơn gọi v� sứ mệnh của t�n hữu gi�o d�n
ở giữa trần thế.)
Đức
Gi�o ho�ng nầy khi mới l�n ng�i, trong b�i giảng khai
mạc triều đại mục vụ của ng�i, ng�i k�u
gọi :
C�c
con đừng sợ, c�c con h�y mở cửa, h�y mở
rộng cửa cho đức Kit�. H�y mở rộng cho Ng�i
c�c bi�n giới quốc gia,c�c hệ thống kinh tế ch�nh
trị, c�c l�nh vực m�nh m�ng của văn h�a, của c�c
nền văn minh, của ph�t triển.
Một
số cộng đo�n gi�o xứ �u Mỹ đ� đ�p
lời mời gọi nầy.
Muốn
đ�p lại lời mời gọi nầy,c�c gi�o xứ
Việt Nam trước ti�n H�y mở cửa c�c nh�
thờ, nh� xứ cho Ch�a Kit� đi ra với trần
thế, với c�c t�n gi�o bạn,với những người
ngh�o kh� t�n tật. Đừng giam lỏng Ng�i trong xứ
đạo của m�nh v� cấm Ng�i Kh�ng được l�m
ch�nh trị!