T�ng Thơ Mới Nhất

KINH M�N C�I ĐỨC MARIA TRINH NỮ

Nguyễn Đức Tuy�n

(tiếp theo)

Với T�i, Sống l� Sống Trong Đức Kit�

Kinh M�n C�i, kinh cầu cho H�a B�nh v� Gia Đ�nh

Chương III: Với T�i, Sống l� Sống Trong Đức Kit�

Việc suy gẫm c�c mầu nhiệm Đức Kit� trong Kinh M�n C�i được thực hiện bằng một phương ph�p dựa tr�n việc lặp đi lặp lại. Việc lặp đi lặp lại trước hết �p dụng cho kinh K�nh Mừng, được lặp lại 10 lần trong mỗi mầu nhiệm. Nếu lời kinh được lặp đi lặp lại một c�ch hời hợt, chắc hẳn người ta sẽ c� c�m dỗ xem Kinh M�n C�i như một việc đạo đức kh� khan v� nh�m ch�n. Việc lặp đi lặp lại được nu�i dưỡng bởi l�ng khao kh�t được trở n�n đồng h�nh dạng ho�n hảo hơn với Đức Kit�, đ� l� chương tr�nh đ�ch thực của đời sống kit� hữu.

Ch�ng ta n�n nhớ rằng mối tương giao của ch�ng ta với Đức Kit� cũng cần c� một phương ph�p. Trong Đức Kit� c� một tr�i tim nh�n loại, c� khả năng biểu lộ những t�nh cảm s�i nổi. Thi�n Ch�a th�ng ban ch�nh m�nh cho ch�ng ta m� vẫn t�n trọng bản t�nh nh�n loại v� nhịp sống của ch�ng ta. V� thế, mặc dầu linh đạo kit� gi�o quen thuộc với những h�nh thức thinh lặng thần giao, trong đ� mọi h�nh ảnh, lời n�i v� cử chỉ nhường chỗ cho sự kết hiệp li�n lỉ v� kh�n tả với Thi�n Ch�a, song linh đạo ấy thường mang dấu ấn của một sự dấn th�n của to�n thể con người c�ng với thực trạng phức tạp về t�m l�, thể l� v� tương quan.

Kinh M�n C�i tuy nằm trong bối cảnh rộng lớn của hiện tượng t�n gi�o, nhưng lại trổi vượt hơn nhờ những đặc t�nh ri�ng ph� hợp với những đ�i hỏi đặc th� của kit� gi�o. Quả thực, Kinh M�n C�i đơn thuần l� một phương ph�p chi�m niệm. V� l� một phương ph�p, kinh M�n C�i được d�ng như một phương c�ch để đạt tới một mục đ�ch, chứ tự n� kh�ng phải l� mục đ�ch. Điều n�y kh�ng c� nghĩa l� phương ph�p ấy kh�ng cần cải thiện. Đ� ch�nh l� mục đ�ch của việc bổ sung những Mầu Nhiệm �nh S�ng v�o chu kỳ c�c mầu nhiệm v� một v�i đề nghị trong T�ng thư li�n quan đến c�ch đọc. Nếu kh�ng, Kinh M�n C�i chẳng những c� nguy cơ kh�ng l�m ph�t sinh những hiệu quả thi�ng li�ng, m� ngay cả tr�ng hạt thường được d�ng để đọc kinh, cũng c� thể trở th�nh một loại b�a ph�p hay linh vật, như thế l� b�p m�o ho�n to�n � nghĩa v� c�ng dụng của n�.

Việc c�ng bố mỗi mầu nhiệm, v� ngay cả việc sử dụng một ảnh tượng th�ch hợp để chi�m ngắm, giống như thể l� mở ra một cảnh tượng để tập trung ch� � v�o đ�. Trong Đức Gi�su, Thi�n Ch�a muốn nhận lấy những n�t của con người. Ch�nh nhờ th�n x�c của Người m� ch�ng ta được dẫn đến việc tiếp x�c với mầu nhiệm thi�n t�nh của Người.Tuy nhi�n, cho dẫu c�c mầu nhiệm được chi�m niệm trong Kinh M�n C�i, d� c� bổ sung c�c Mầu Nhiệm �nh S�ng, chỉ ph�c hoạ n�n c�c n�t ch�nh trong cuộc đời Đức Kit�. Nhờ c�c mầu nhiệm, t�m tr� ta dễ d�ng thấu hiểu phần c�n lại của Tin mừng, nhất l� khi Kinh M�n C�i được cầu nguyện trong khung cảnh của một cuộc suy niệm k�o d�i.

Để việc suy gẫm c� được một nền tảng Kinh Th�nh v� c� chiều s�u hơn, sau khi xướng t�n mầu nhiệm, cần c�ng bố đoạn Kinh Th�nh li�n quan đến mầu nhiệm ấy, d�i ngắn t�y theo ho�n cảnh. Kh�ng lời n�o kh�c c� thể s�nh được t�nh hiệu nghiệm của Lời Ch�a được linh hứng.

Lắng nghe v� suy gẫm được nu�i dưỡng bằng thinh lặng. Sau khi xướng l�n mầu nhiệm v� c�ng bố Lời Ch�a, quả l� th�ch hợp khi ngừng lại một thời gian th�ch đ�ng để tập trung ch� � v�o mầu nhiệm li�n hệ, trước khi chuyển sang việc đọc kinh.

Sau khi lắng nghe Lời Ch�a v� ch� t�m v�o mầu nhiệm, l�ng tr� ta đương nhi�n được n�ng l�n c�ng Ch�a Cha. Trong mỗi mầu nhiệm, Đức Gi�su lu�n lu�n dẫn dắt ch�ng ta đến với Ch�a Cha, v� Người ở nơi cung l�ng Ch�a Cha (x. Ga 1,18) Người kh�ng ngừng hướng về Cha. Kinh "Lạy Cha", được xếp đặt như nền m�ng cho việc suy ngắm c� t�nh kit� học v� Th�nh mẫu học biểu lộ qua việc lặp đi lặp lại Kinh K�nh mừng, biến việc suy gẫm mầu nhiệm, ngay cả l�c nguyện ngắm một m�nh, th�nh một kinh nghiệm c� t�nh Gi�o hội.

Mười "Kinh K�nh Mừng" l� điểm trọng yếu nhất trong Kinh M�n C�i v� cũng l� yếu tố l�m cho Kinh M�n C�i trở th�nh lời kinh ưu việt. Tuy nhi�n, nếu thấu hiểu Kinh K�nh Mừng c�ch đ�ng đắn, ch�ng ta sẽ thấy r� đặc t�nh th�nh mẫu học của lời kinh kh�ng đối nghịch với đặc t�nh kit� học, tr�i lại n� thật sự l�m nổi bật v� gia tăng đặc t�nh kit� học.

Trọng t�m của Kinh M�n C�i, v� như bản lề nối kết hai phần, l� Danh Ch�a Gi�su, mầu nhiệm Đức Kit� gắn liền với việc lặp đi lặp lại Kinh K�nh Mừng trong sự li�n kết mật thiết với danh của Th�nh mẫu Người. Đ�i khi v� nguyện kinh hấp tấp m� đ�nh mất trọng t�m n�y, v� v� thế m� kh�ng c�n li�n kết với mầu nhiệm Đức Kit� đang được chi�m ngưỡng. Ch�nh sự nhấn mạnh v�o Danh Đức Gi�su v� mầu nhiệm của Người m� ta ph�n biệt được việc đọc Kinh M�n C�i c� � nghĩa v� hữu �ch.

Kinh "S�ng danh" l� ca tụng Ba Ng�i, l� mục ti�u của mọi chi�m ngưỡng kit� gi�o. Bởi v� Đức Kit� l� con đường dẫn ch�ng ta đến Ch�a Cha trong Ch�a Th�nh Thần. Nếu ch�ng ta đi con đường ấy cho đến c�ng, ch�ng ta li�n tiếp gặp gỡ mầu nhiệm của Ba Ng�i Thi�n Ch�a. Trong việc thực h�nh hiện nay, Vinh tụng ca Ba Ng�i được tiếp nối bởi một lời kinh kết th�c ngắn, thay đổi t�y tục lệ địa phương.

Tr�ng hạt l� phương tiện truyền thống gi�p đọc Kinh M�n C�i. Ở b�nh diện hời hợt nhất, tr�ng hạt thường được xem l� dụng cụ d�ng để đếm c�c Kinh K�nh Mừng. Tuy nhi�n n� cũng c� thể xem như một biểu tượng gi�p đi v�o chiều s�u của chi�m ngưỡng. Điều đầu ti�n đ�ng ghi nhận l� c�ch thức c�c chuỗi hạt đều đổ về tượng Th�nh gi�; Th�nh gi� vừa mở ra vừa đ�ng lại chuỗi lời kinh. Cuộc sống v� lời cầu nguyện của người t�n hữu đều tập trung v�o Đức Kit�. Mọi sự bắt đầu từ Người, mọi sự dẫn đến Người, mọi sự nhờ Người, trong Ch�a Th�nh Thần, đến với Ch�a Cha. L� một dụng cụ để đếm, ghi dấu tiến tr�nh của lời kinh, tr�ng hạt gợi l�n con đường v� tận của chi�m ngưỡng v� của việc ho�n thiện Kit� gi�o.

Một c�ch thức tốt để mở rộng � nghĩa biểu tượng của tr�ng hạt l� để nhắc nhở ch�ng ta về những mối tương quan của ch�ng ta, về mối gi�y hiệp th�ng v� huynh đệ kết hiệp tất cả ch�ng ta trong Đức Kit�.

Hiện nay, ở nhiều miền kh�c nhau của Gi�o hội, c� nhiều c�ch mở đầu Kinh M�n C�i. Ở một v�i nơi, người ta c� th�i quen mở đầu bằng lời khẩn cầu của Th�nh vịnh 70: "Lạy Ch�a Trời, xin tới gi�p con; mu�n lạy Ch�a, xin mau ph� trợ. Ở nơi kh�c, Kinh M�n C�i bắt đầu bằng việc đọc kinh Tin k�nh, như để đặt việc tuy�n xưng đức tin l�m nền tảng cho cuộc h�nh tr�nh chi�m ngưỡng m� ta thực hiện. Những th�i quen đ� v� những th�i quen tương tự, trong chừng mực ch�ng chuẩn bị t�m hồn để chi�m ngưỡng, đều ch�nh đ�ng. Rồi Kinh M�n C�i được kết th�c bằng một lời kinh theo � chỉ của đức gi�o ho�ng, như để mở rộng tầm nh�n của người cầu nguyện hầu �m ấp mọi nhu cầu của Gi�o hội.

Kinh M�n C�i c� thể được đọc trọn mỗi ng�y, v� c� nhiều người đ� thực hiện như thế. Theo c�ch thức ấy, n� lấp đầy cuộc sống của nhiều người chuy�n cần chi�m ngưỡng bằng lời cầu nguyện, hay đồng h�nh với người bệnh tật v� gi� cả l� những người c� nhiều th� giờ rảnh rỗi.

Theo c�ch thực h�nh th�ng thường, Thứ Hai v� Thứ Năm được d�nh cho "c�c sự Vui", Thứ Ba v� Thứ S�u cho "c�c sự Thương. Thứ Tư, Thứ Bảy v� Ch�a Nhật cho "c�c sự Mừng".

Nay được đề nghị như sau: Thứ Hai v� Thứ Bẩy được d�nh cho "c�c sự Vui", Thứ Ba v� Thứ S�u vẫn d�nh cho "c�c sự Thương. Thứ Tư v� Ch�a Nhật cho "c�c sự Mừng". Thứ Năm d�nh cho "c�c Mầu Nhiệm Sự S�ng".

Chỉ dẫn n�y kh�ng nhắm giới hạn sự tự do ch�nh đ�ng trong việc cầu nguyện ri�ng tư v� cộng đo�n, nơi đ� cần lưu � đến nhu cầu thi�ng li�ng v� mục vụ đ�i hỏi một sự th�ch ứng. Điều thực sự quan trọng l� Kinh M�n C�i phải lu�n được xem v� kinh nghiệm như một con đường chi�m niệm.

PHẦN KẾT

Những th�ch đố nghi�m trọng m� thế giới phải đương đầu chỉ nhờ sự can thiệp từ tr�n cao, Đấng c� quyền năng hướng dẫn những người sống trong ho�n cảnh xung đột v� những người nắm giữ vận mệnh c�c quốc gia, để đem lại hy vọng v� một tương lai tươi s�ng hơn. Tự bản chất, Kinh M�n C�i l� lời kinh cầu cho ho� b�nh, v� n� ch� t�m v�o việc chi�m ngưỡng Đức Kit�, Vua Ho� b�nh, l� sự b�nh an của ch�ng ta (Ep 2,14). Kinh M�n C�i cũng l� lời kinh cầu cho ho� b�nh, v� những hoa tr�i b�c �i m� n� sản sinh. T�m lại, bằng c�ch hướng cặp mắt ch�ng ta về Đức Kit�, Kinh M�n C�i cũng biến ch�ng ta th�nh những người kiến tạo ho� b�nh tr�n thế giới.

Kinh M�n C�i cũng l� v� lu�n lu�n l� lời kinh của gia đ�nh v� cho gia đ�nh. Lời kinh n�y đ� một thời hết sức th�n thiết với c�c gia đ�nh kit� gi�o, v� hẳn đ� l�m cho c�c gia đ�nh x�ch lại gần nhau hơn. Gia đ�nh m� cầu nguyện chung th� biết gi�m bọc nhau. C�c th�nh vi�n trong gia đ�nh, khi hướng mắt nh�n về Đức Kit�, cũng c� được khả năng th�ng hiệp, tỏ t�nh li�n đới, tha thứ lẫn cho nhau v� nh�n thấy giao ước t�nh y�u của họ được đổi mới trong Thần Kh� của Thi�n Ch�a.

Kinh M�n C�i đ� d�i theo cuộc đời của Đức Kit�, từ l�c thụ thai đến c�i chết, v� rồi từ phục sinh đến vinh quang. Quả l� tốt đẹp v� mang lại kết quả khi ph� d�ng cho lời kinh n�y sự tăng trưởng v� ph�t triển của c�c con c�i. Cầu nguyện bằng Kinh M�n C�i cho con c�i, v� với c�c con c�i, dạy dỗ ch�ng từ thuở ấu thơ, biết cầu nguyện với gia đ�nh h�ng ng�y, đ� l� một trợ gi�p thi�ng li�ng quan trọng.

T�ng thơ đặc biệt hướng về c�c gi�m mục, linh mục v� ph� tế l� những người lo c�ng t�c mục vụ v� nhờ kinh nghiệm ri�ng của c�c vị đ�, ước g� c�c vị dấn th�n cổ v� lời kinh ấy với l�ng x�c t�n. T�ng thơ cũng đặt tin tưởng v�o c�c thần học gia v� nhờ những suy tư kh�n ngoan v� nghi�m chỉnh, ước g� qu� vị gi�p kh�m ph� c�c nền tảng Kinh Th�nh, những phong ph� thi�ng li�ng v� gi� trị mục vụ của lời kinh truyền thống n�y. T�ng thơ đặt kỳ vọng v�o những người sống đời th�nh hiến nam nữ, được mời gọi c�ch đặc biệt để chi�m ngưỡng dung nhan Đức Kit� trong trường học của Đức Maria.

Sau hết, T�ng thơ nh�n đến to�n thể anh chị em thuộc mọi bậc sống, đến c�c gia đ�nh kit� gi�o, đến những người bệnh tật v� cao tuổi, đến những người trẻ v� xin họ h�y cầm lấy chuỗi M�n C�i với l�ng tin tưởng. H�y t�i kh�m ph� Kinh M�n C�i dưới �nh s�ng của Kinh Th�nh, trong sự h�i ho� với Phụng vụ v� trong bối cảnh đời sống hằng ng�y của mọi t�n hữu.

***

T�m lại, suy ngắm c�c mầu nhiệm năm sự Vui l� đi v�o c�c động cơ tối hậu v� � nghĩa th�m s�u của niềm vui kit� gi�o. Đ� l� tập trung v�o thực tại của mầu nhiệp Nhập thể v� điềm b�o kh� hiểu của mầu nhiệm Khổ nạn cứu độ. Đức Maria đẫn dắt ch�ng ta kh�m ph� b� mật của niềm vui kit� gi�o, khi nhắc nhở ch�ng ta rằng Kit� gi�o ti�n v�n l� "Tin mừng", m� trung t�m v� to�n bộ nội dung của Tin mừng l� con người Đức Gi�su Kit�, Ng�i Lời mặc lấy x�c ph�m, Đấng Cứu độ duy nhất của thế giới.

C�c sự Thương gi�p người t�n hữu sống lại c�i chết của Đức Gi�su, đứng dưới ch�n Th�nh gi� b�n cạnh Đức Maria, c�ng với Mẹ tiến v�o chiều s�u của t�nh y�u Thi�n Ch�a đối với lo�i người v� kinh nghiệm năng lực trao ban sự sống của n�.

Việc chi�m ngưỡng dung nhan của Đức Kit� kh�ng thể dừng lại ở h�nh ảnh của Đấng chịu đ�ng đinh. Người l� Đấng đ� sống lại!" V� thế, c�c sự Mừng dẫn đưa c�c t�n hữu đến niềm hi vọng mạnh mẽ hơn về mục ti�u c�nh chung, tiến về đ� như th�nh vi�n của D�n Thi�n Ch�a đang lữ h�nh trong lịch sử. Điều đ� kh�ng thể kh�ng th�c đẩy người t�n hữu can đảm l�m chứng về "Tin mừng" đ� đem lại � nghĩa cho to�n thể cuộc đời họ.

Đi từ cuộc đời thơ ấu v� ẩn dật tại l�ng Nazar�t đến cuộc đời c�ng khai của Đức Gi�su, việc chi�m ngưỡng dẫn ch�ng ta đến những mầu nhiệm c� thể được gọi một c�ch đặc biệt l� "c�c mầu nhiệm Sự s�ng". Ch�n l� n�y tỏ hiện một c�ch đặc biệt qua những năm th�ng của cuộc đời c�ng khai, khi Người c�ng bố Tin mừng Nước Thi�n Ch�a.

Chu kỳ suy niệm m� Kinh M�n C�i đề nghị kh�ng thể n�o bao gồm hết mọi kh�a cạnh, nhưng n� nhắc lại những điều cốt yếu v� gợi l�n trong t�m hồn một sự khao kh�t Đức Kit� lu�n được nu�i dưỡng từ nguồn mạch tinh tuyền của Tin mừng. Mọi biến cố ri�ng lẻ trong cuộc đời Đức Kit�, như được c�c t�c giả s�ch Tin mừng tường thuật lại, đều ch�i lọi với Mầu nhiệm vượt qu� mọi hiểu biết (x. Ep 3,19): Mầu nhiệm Ng�i Lời nhập thể, nơi Người "tất cả sự vi�n m�n của thần t�nh hiện diện c�ch cụ thể"
(Cl 2,9).