Trước Sự Ra Đi Của Đức Hồng Y 

PHANXIC� XAVI�  NGUYỄN VĂN THUẬN

Từ Những Cảm Nghĩ  Đến Tin Tưởng V� Cậy Tr�ng

Lm Phaol� Trần Xu�n T�m

Đức Hồng Y Phanxic� Xavi� Nguyễn Văn Thuận đ� ly trần! T�i sớm biết được tin đ� nhờ điện thư từ một trong những cựu học tr� th�n t�n của ng�i trong Tiểu chủng viện Hoan Thiện Huế  m� t�i nhận được v�o s�ng thứ Hai ng�y 16 th�ng 9.

Cảm nhận của t�i l�c đ� thế n�o? T�i kh�ng cảm thấy bất ngờ cho lắm: hơn nửa năm trước đ� từ một v�i nguồn tin đ�ng tin cậy, t�i đ� biết căn bệnh của ng�i kh�ng những nan y m� đ� ph�t triển v�o giai đoạn bất trị. Nhưng c� lẽ ng�i đ� ra đi hơi sớm một ch�t: theo d�i tin tức v�i ba tuần trước đ�, t�i vẫn cứ tưởng l� ng�i c� thể sống th�m được v�i ba th�ng hay nửa năm kh�ng chừng. Chưa kể biết đ�u nếu Ch�a muốn Người sẽ l�m ph�p lạ cứu sống t�i tớ Người. T�i c� thương tiếc ĐHY trước sự ly trần của ng�i kh�ng? Kh�ng, nhưng chỉ một ch�t buồn tho�ng qua. Ai đọc xin đừng hiểu lầm, t�i chỉ n�i thật những cảm nhận l�c đ� của m�nh th�i. Đối với t�nh cảm thương tiếc đau buồn của hầu hết anh chị em C�ng Gi�o Việt Nam của t�i trước sự ra đi của ng�i t�i ho�n to�n t�n trọng v� th�ng cảm. C�n về mối li�n hệ theo đức Tin th� cả hơn một th�ng trước khi ng�i mất hầu như kh�ng ng�y n�o m� t�i kh�ng nhớ cầu nguyện cho sức khoẻ của ng�i mỗi khi d�ng th�nh lễ. Rồi sau khi ng�i qua đời, t�i lại cầu nguyện cho sự an nghỉ trong Ch�a của ng�i li�n tục trong suốt mấy tuần.

***

1. TỪ NHỮNG CẢM NGHĨ

Những cảm nhận tức thời ở tr�n đương nhi�n bị chi phối bởi những cảm nghĩ m� t�i vốn c� về ĐHY Phanxic� Nguyễn Văn Thuận từ nhiều năm nay. Trước sự ra đi của ng�i theo lẽ thường t�nh t�i kh�ng thể kh�ng hồi tưởng những g� ng�i đ� l�m l�c c�n tại thế, dầu dĩ nhi�n ở dưới những kh�a cạnh m� t�i đặc biệt quan t�m.

Một sự kiện kh�ng ai c� thể phủ nhận đ� l� kh�ng c� Gi�m mục n�o được nhiều người C�ng Gi�o Việt Nam ngưỡng mộ v� qu� mến cho bằng ĐHY Thuận, �t nữa từ l�c ng�i bị nh� nước Cộng sản bắt giam v�o năm 1975 cho đến khi ly trần. Rất nhiều anh chị em CG của t�i s�ng mộ ng�i v� xem ng�i đạo đức th�nh thiện gần như một vị th�nh, nhưng hơn hết v� xem ng�i như l� người đ� đem đến nhiều đ�ng g�p lớn lao nhất cho Gi�o Hội C�ng Gi�o VN đặc biệt nhờ v�o những chứng từ trong t� của ng�i. Thế nhưng t�i kh�ng c� được t�m t�nh tương tự như thế đối với ng�i. L� do l� v� cảm nghĩ của t�i về ĐHY kh�ng ho�n to�n giống như phần lớn anh chị em CG của t�i, nhất l� khi nh�n từ những kh�a cạnh m� t�i đặc biệt quan t�m.

Đạo đức của một vị th�nh

L�c c�n l� cậu học sinh trung học rồi sau đ� l� sinh vi�n đại học ở b�n nh� t�i cũng đ� từng ngưỡng mộ v� qu� mến ĐHY kh�ng thua g� phần lớn anh chị em CG của t�i. Cuốn "Đường Hy Vọng" của ng�i in kiểu ron�o ở VN m� t�i may mắn c� được đ� một thời l� cuốn s�ch huấn đức t�i rất th�ch v� thường xuy�n đọc. Tuy nhi�n sau đ� khi qua Mỹ năm 1990, đi tu, th�nh chủng sinh, rồi trong suốt bốn năm học thần học ở R�ma (1995-1999) với nhiều lần gặp ng�i trong những cuộc nh�m họp của c�c linh mục, tu sĩ, v� chủng sinh VN , t�i lại kh�ng c�n giữ được t�m t�nh s�ng mộ như trước. Về sau n�y t�i mới kh�m ph� ra rằng kh�ng phải chỉ một m�nh t�i m� trong giới linh mục VN kh�ng phải ai cũng s�ng mộ ng�i d� l� do hay động lực c� thể kh�c với t�i. Xem ra tỷ lệ phần trăm những ai s�ng mộ ĐHY Thuận cao hơn nhiều ở nơi giới gi�o d�n. Dĩ nhi�n t�i vẫn k�nh trọng ng�i như một vị Gi�m mục đạo đức, c� đời sống nội t�m th�m s�u v� đức Tin mạnh mẽ, nhất l� được t�i luyện qua những năm th�ng d�i bị giam cầm hay quản th�c. T�i cũng vẫn th�n phục ng�i như một vị gi�m mục c� khả năng tổ chức, l�nh đạo, v� c� t�i thu phục nh�n t�m. Nhưng cảm nhận của t�i đối với đời sống đạo đức của ng�i chỉ c� thế th�i m� kh�ng nhiều hơn được. Tại sao như vậy?

C� lẽ v� m�nh c�ng lớn tuổi th� tự nhi�n c�ng c� �c ph� b�nh v� ho�i nghi đối với những ai m� m�nh l�c c�n nhỏ dễ cho l� gương mẫu. T�i ho�i nghi như thế chẳng qua cũng v� nhận thấy rằng c�i t�i �ch kỷ của mỗi người ch�ng ta ăn rễ s�u trong l�ng ch�ng ta nhiều hơn l� ch�ng ta nghĩ v� kh�ng phải bao giờ cũng dễ nhận ra n�. Nhiều l�c n� xem ra cũng cao cả v� đ�ng y�u lắm. Chỉ c� một m�nh Thi�n Ch�a mới thấy r� mọi căn rễ của sự �ch kỷ trong ch�ng ta, c�i khuynh hướng thần tượng h�a ch�nh m�nh. (C�m dỗ m� Adong v� Ev� vấp phạm ch�nh l� c�m dỗ mu�n đời của con người). Cũng  chỉ một m�nh Thi�n Ch�a mới c� đầy l�ng ki�n nhẫn, tha thứ, v� thương x�t để thanh luyện ch�ng ta đến mức ho�n to�n, thường l� phải k�o d�i qua b�n kia nấm mồ, trong lửa luyện ngục. Ch�nh v� ngoại trừ Thi�n Ch�a kh�ng ai thấy r� được mọi chiều s�u ẩn k�n trong l�ng người, n�n cho d� ngay cả sau khi điều tra nghi�n cứu cẩn thận v� đầy đủ, thấy được sự th�nh thiện v� đức hạnh của một c� nh�n về mặt kh�ch quan, Gi�o Hội cũng chỉ d�m c�ng bố người ấy l� t�i tớ Ch�a, đấng đ�ng k�nh, nhưng vẫn kh�ng d�m bảo đảm c�ch tuyệt đối, bất khả ngộ. Gi�o Hội c�n phải đợi xem con dấu x�c nhận của Thi�n Ch�a, nghĩa l� ph�p lạ từ trời cao ban xuống v� l� do sự chuyển cầu của vị t�i tớ đ�ng k�nh đ�, th� mới d�m tuy�n phong người ấy l� th�nh. V� xem ra để chắc ăn hơn, Gi�o Hội đ�i hỏi ph�p lạ tới hai v�ng. Vượt qua được v�ng đầu chỉ mới được c�ng nhận l� ch�n ph�c hay � th�nh th�i, chỉ được t�n k�nh trong mức độ địa phương hạn hẹp th�i, phải th�m một hai ph�p lạ nữa th� mới vượt qua được v�ng hai để được c�ng nhận l� hiển th�nh, được ph�p t�n k�nh khắp thế giới C�ng Gi�o.

Th�nh ra t�i rất d� dặt khi thấy người ta phong th�nh cho ai đ� trước cả Gi�o Hội, thậm ch� ngay cả khi đương sự vẫn c�n sống. Dĩ nhi�n t�i vẫn chấp nhận một v�i luật trừ, v� dụ t�i kh�ng hề c� một ch�t nghi ngờ rằng mẹ Teresa th�nh Calcutta quả thật l� một vị th�nh. Ai đọc c� thể cho rằng luật trừ kiểu đ� th� cần g� phải n�i, vậy c� phải l� t�i qu� khắt khe chăng? Cũng c� lẽ vậy, nhưng kh�ng phải đối với bất kỳ ai. T�i dễ d�ng tin một t�n hữu CG l� một vị th�nh nếu đ� l� một con người b�nh thường, đời sống tuy th�nh thiện, nhưng �m thầm, kh�ng một ch�t tiếng tăm, hơn l� nếu đ� l� một nh�n vật đ� qu� nổi tiếng ngay từ khi c�n sống. N�i v� dụ, đối với một quả phụ C�ng Gi�o qu� m�a thất học gốc Nam Định, hết l�m u gi� phần lớn cuộc đời cho c�c cậu d� v� mẹ t�i, th� sau đ� cuối đời đến lượt l�m b� ngoại nu�i của bọn nhỏ chị em tụi t�i (b� đ� ly trần mười mấy hai chục năm rồi), th� nay th�nh một linh mục rồi c�ng hồi tưởng lại những năm th�ng l�c b� c�n sống với chị em tụi t�i th� t�i c�ng kh�m ph� ra l� ch�ng t�i đ� được diễm ph�c sống dưới sự chăm s�c của một vị th�nh �m thầm v� danh, thế m� l�c đ� chẳng đứa n�o để � hay tr�n trọng.

C�i �c ph� b�nh ho�i nghi của t�i tựu trung cũng chỉ xuất ph�t từ sự d� dặt n�i chung th�i, chứ kh�ng phải v� những tiếp x�c hay quen biết gần gũi g� với ĐHY cả. Nhiều lần gặp mặt ng�i ở R�ma như đ� n�i tr�n, nhưng kh�ng phải v� th�n phận l� một chủng sinh v� danh tiểu tốt v�o l�c đ� cho bằng v� c� tinh của m�nh m� t�i lu�n giữ th�i độ "k�nh nhi viễn chi" đối với ng�i. Suốt bốn năm ở R�ma t�i chưa một lần n�i chuyện ri�ng với ng�i cũng như chưa một lần đến thăm ng�i tại tư gia, đi một m�nh hay với ai kh�c, dầu biết rằng tinh ng�i cũng b�nh d�n, nếu c� thời giờ vẫn sẵn s�ng tiếp x�c mọi giới, v� nếu cha, thầy, nữ tu n�o, d� kh�ng phải l� con c�i thi�ng li�ng của ng�i, nhưng nếu cần gi�p đỡ th� bao giờ ng�i cũng rộng lượng, thậm ch� gi�p đến nơi đến chốn. Chẳng biết th�i độ của t�i c� phải l� tự �i c� nh�n kh�ng? Nhưng d� sao t�i vốn vẫn khẳng định l� Thi�n Ch�a kh�ng thi�n vị ai cả, kh�ng phải trọng tr�ch hay chức vụ l�m cho người n�y đ�ng được Người đối xử c�ch đặc biệt hơn l� kẻ kh�c. Th�nh Phaol� đ� từng n�i thế về những vị T�ng đồ đứng đầu trong cộng đo�n Kit� hữu  ở Gi�rusalem, bao gồm lu�n cả th�nh Ph�r� (cf. Thư gửi c�c t�n hữu Galata 2, 6).  

Ng�n sứ hay chứng nh�n cho phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội ở Việt Nam

Nhưng khi nh�n v�o những việc l�m của ĐHY Thuận, những kh�a cạnh m� t�i đặc biệt quan t�m đ� l� ch�ng c� mang những t�nh c�ch ng�n sứ hay chứng nh�n cho phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội ở Việt Nam hay kh�ng. Th�nh thật m� n�i, những h�nh động của ĐHY đ� kh�ng ho�n to�n ph� hợp với c�i nh�n, quan niệm m� t�i vốn c� từ mười mấy năm nay về sứ mạng ng�n sứ hay vai tr� chứng nh�n của một Gi�m mục đ� từng sống hay c�n đang sống dưới chế độ cộng sản độc t�i to�n trị n�n c� đối với phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội. Từ khi ra ngoại quốc, kh�ng biết bao nhi�u lần ng�i n�i đến những ng�y th�ng ng�i ở t� nh� nước CS, n�i về sự tha thứ m� ng�i học được đối với những kẻ bắt giam v� h�nh hạ ng�i. Nhưng nếu t�i kh�ng lầm, chưa bao giờ ng�i l�n tiếng chống lại những h�nh vi ch� đạp của nh� nước CSVN đối với tự do t�n gi�o v� những phẩm gi� kh�c của con người cũng như những tương quan c�ng l� v� đạo đức trong x� hội. Lại c�ng kh�ng thấy ng�i l�n �n c�i thể chế độc t�i to�n trị cộng sản Việt Nam như l� c�i gốc rễ x� hội v� ch�nh trị của những h�nh vi phi nh�n v� bất c�ng đ�. Nhưng để tr�nh kiểu suy nghĩ v� đo�n t�i kh�ng thể kh�ng x�t đến một v�i l� do sau m� một số anh chị em CGVN của t�i thường trưng dẫn để giải th�ch hay biện hộ cho sự im lặng của ng�i.

Bị cản trở do phận vụ T�a Th�nh?

Kh�ng bao l�u sau khi ng�i được T�a Th�nh đặt l�m Ph� chủ tịch Hội đồng Gi�o ho�ng về C�ng L� v� H�a B�nh v� bắt đầu đi c�ng c�n ở quốc gia n�y quốc gia nọ, một linh mục Việt Nam dạy tại một Đại học Gi�o ho�ng ở R�ma c� thắc mắc tại sao kh�ng thấy đức Tổng Thuận (bấy giờ chưa l�m HY) l�n tiếng về những vi phạm nh�n quyền v� những bất c�ng x� hội ở VN. Vị linh mục thư k� v� th�n cận của ng�i từ khi ng�i qua R�ma cho biết khi đi c�ng c�n đ�y đ� ng�i kh�ng c� quyền n�i những g� m� Văn ph�ng Ngoại giao của T�a Th�nh đ� kh�ng ph� chuẩn hay chấp nhận trước.

 T�i kh�ng biết lời giải th�ch như thế c� căn cứ tới đ�u, nhưng cho d� đ�ng th� tự n� vẫn kh�ng thể giải th�ch được sự im lặng của ng�i nếu như ng�i thực bụng muốn l�n tiếng. Thật thế, d� l� Ph� chủ tịch v� sau n�y th�nh Chủ tịch của Hội Đồng, th� kh�ng phải v� thế m� ng�i mất đi tư c�ch c� nh�n ri�ng của ng�i. Nếu sợ ảnh hưởng đến những đường lối m� Văn ph�ng Ngoại giao chủ trương th� ng�i vẫn c� thể l�n tiếng với tư c�ch lương t�m c� nh�n ng�i v� đ�nh ch�nh trước khi l�n tiếng l� m�nh chỉ n�i theo tư c�ch ấy m� th�i, chứ kh�ng n�i như l� một vi�n chức hay đại diện g� của T�a Th�nh cả. T�i chắc chắn l� l�n tiếng như thế Văn ph�ng Ngoại giao của T�a Th�nh chẳng những kh�ng thể cấm m� c�n ho�n to�n t�n trọng. Tr�n thế giới n�y chỉ ngoại trừ cơ chế độc t�i to�n trị của đảng cộng sản chứ kh�ng c� nh� nước n�o lại đi cấm đo�n v� trừng trị c�ng d�n của n� nếu họ n�i bất kỳ điều g� kh�ng ph� hợp với n� cho d� l� nh�n danh lương t�m c� nh�n của họ. Phương chi ở đ�y lại l� cơ cấu tổ chức của Quốc gia Vatican. D� với t�nh c�ch phức tạp đến đ�u về mặt ch�nh trị v� ngoại giao, th� quốc gia Vatican vẫn kh�ng c� l� do hiện hữu v� hoạt động n�o kh�c hơn l� l� do thần học: để v� chỉ để phục vụ cho sứ mạng phổ qu�t của vị Gi�m mục R�ma, đấng kế vị th�nh Ph�r�, một sứ mạng kh�ng phải chỉ mang t�nh c�ch tư tế v� cai quản m� c�n ng�n sứ nữa, nghĩa l� l�n tiếng cho những sự thật của Kit� gi�o về Thi�n Ch�a v� về con người.

Ngược lại với đường lối "đối thoại"?

Một giải th�ch xem ra kh� hơn đ� l� � kiến cho rằng ĐHY kh�ng l�n tiếng chống lại những h�nh vi phi nh�n v� bất c�ng của nh� nước CSVN l� v� ng�i chủ trương đường lối "đối thoại" với n�.

Cho d� � kiến n�y c� giải th�ch được sự im lặng của ng�i th� về mặt kh�ch quan n� kh�ng thể biện minh cho th�i độ đ� được. Nếu như v� đường lối "đối thoại" v� những �ch lợi khả dĩ của n�, cho d� về mặt mục vụ, m� một vị Gi�m mục kh�ng l�n tiếng chống lại những h�nh vi phi nh�n v� bất c�ng của nh� nước CSVN, th� kh�ch quan m� n�i ng�i đ� kh�ng chu to�n sứ mạng ng�n sứ của m�nh.  Xin miễn giải th�ch tại sao t�i khẳng định như thế.

Nhưng đ�u c� phải l�n tiếng chống lại v� ngồi xuống n�i chuyện với nhau l� hai h�nh động nhất thiết loại trừ nhau như thể để c� c�i n�y th� kh�ng thể c� c�i kia v� ngược lại. Kh�ng cần hiểu hai việc l�m n�y theo � nghĩa Kit� gi�o, h�y x�t � nghĩa nh�n bản t�ch cực của ch�ng: một b�n l� v� điều tốt, v� lẽ phải m� l�n tiếng chống lại điều xấu, sự sai tr�i thấy ở nơi nhau chứ kh�ng phải để l�n �n loại trừ phẩm gi� của nhau. C�n b�n kia l� ngồi xuống �n h�a n�i chuyện với nhau để gi�p nhau nhận ra lẽ phải, từ bỏ sự sai tr�i, l�m điều tốt, tr�nh điều xấu. Hay �t nữa cho d� sau đ� kh�ng c� được sự đồng � hay đồng thuận với nhau như vậy, th� n�i chuyện với nhau vẫn c� thể gi�p hiểu nhau hơn v� gi�p tiếp tục t�n trọng phẩm gi� của nhau trong l�c vẫn tiếp tục phản đối những g� xấu xa, sai tr�i thấy ở nơi nhau. Hiểu như thế th� việc l�n tiếng chống lại v� việc ngồi xuống n�i chuyện hay đối thoại với nhau tự ch�ng c� thể bổ t�c cho nhau, hay �t nữa kh�ng thể loại trừ nhau m� c�ng tồn tại song song với nhau, nếu kh�ng c�ng l�c, th� �t cũng c� thể kế tiếp nhau.

Ngay cả khi hai h�nh động n�y kh�ng được hiểu theo nghĩa nh�n bản n�i tr�n m� theo nghĩa ch�nh trị v� ngoại giao, th� những ai chuy�n m�n trong những lĩnh vực n�y cũng c� thể l�m chứng l� ch�ng kh�ng nhất thiết phải loại trừ nhau, tr�i lại c� thể thực hiện song song hay kế tiếp nhau để m� hỗ trợ cho nhau. Nhưng kh�ng thể kh�ng lưu � sự kiện n�y đ� l� "n�i chuyện, đối thoại với nhau" v� "l�n tiếng phản đối nhau"  kh�ng c�n giống như � nghĩa nh�n bản của ch�ng m� thực sự thay đổi t�nh chất ở trong bối cảnh ch�nh trị v� ngoại giao. Trong bối cảnh ấy  th� "đối thoại" thực chất chỉ l� thương thuyết, điều đ�nh, đổi ch�c, thỏa hiệp, nhượng bộ, vv� Rồi cả "n�i chuyện, đối thoại với nhau" lẫn "l�n tiếng phản đối nhau" đều kh�ng nhằm sự thật, điều tốt, cho bằng những �ch lợi thực tiễn, kh�ng dựa tr�n sự t�n trọng phẩm gi� ngang h�ng của nhau cho bằng sự đ�nh gi� hơn thua về thế mạnh yếu, về lực lượng của nhau. 

Kh�ng cần phải ph�n t�ch cũng đủ thấy "đối thoại" giữa Vatican v� nh� nước CSVN trong căn bản kh�ng ra ngo�i những giới hạn ch�nh trị v� ngoại giao vừa n�i tr�n. Vậy xin đừng để mỹ từ "đối thoại" đ�nh lừa m� lẫn lộn những g� m� Hiến chế Vui Mừng v� Hy Vọng của C�ng đồng Vatican II n�i về đối thoại theo những nguy�n tắc thần học v� nh�n bản với những thương thuyết, điều đ�nh, vv � từ nhiều năm nay giữa Vatican v� nh� nước VN hiện nay. Đường lối hiện nay của Văn ph�ng Ngoại giao của T�a Th�nh đối với VN l� "đối thoại" m� vẫn kh�ng phải l� đối thoại. Cũng kh�ng phải kh� khăn lắm để thấy trong "đối thoại" như thế hiện nay Vatican hay l� nh� nước VN ai phải hạ m�nh nhiều hơn, ai phải nhượng bộ nhiều hơn, ph�a n�o tỏ ra cần ph�a kia hơn. H�y so s�nh như sau. Vatican l�n tiếng phản đối một số ch�nh s�ch của ch�nh quyền Mỹ dưới thời tổng thống Bill Clinton về vấn đề ph� thai v� th� nghiệm ph�i sinh người. Nhưng so với những luật lệ v� ch�nh s�ch của nh� nước CSVN, những luật lệ ủng hộ ph� thai hay th� nghiệm ph�i sinh người của ch�nh quyền Mỹ vẫn kh�ng t�n �c bằng một g�c nhỏ. Nhưng Vatican kh�ng bao giờ l�n tiếng phản đối nh� nước CSVN về chuyện n�y, lại c�ng kh�ng l�n tiếng chống lại việc n� ch� đạp phẩm gi� con người n�i chung, m� trong đ� ph� thai chỉ l� một kh�a cạnh. L� do kh�ng kh� thấy: ch�nh quyền Mỹ k�nh trọng Vatican, chứ nh� nước CSVN th� kh�ng. Vatican cần c� quan hệ với n�, chứ n� thực chất kh�ng cần quan hệ với Vatican. V� nhất l� ch�nh quyền Mỹ kh�ng những trước sau vẫn t�n trọng tự do t�n gi�o thực sự của Gi�o Hội C�ng Gi�o Mỹ m� c�n ki�ng nể ảnh hưởng lớn lao của Gi�o Hội tr�n đời sống gi�o dục, x� hội, v� ch�nh trị của nước Mỹ. C�n nh� nước CSVN th� chẳng những kh�ng muốn cho Gi�o Hội C�ng Gi�o VN c� ảnh hưởng g� đối với nh�n d�n v� đất nước m� c�n thực sự đang đ�n �p ch�nh tự do t�n gi�o của Gi�o Hội.

Nhưng dầu sao đối với Vatican th� nh� nước CS c�n xem l� c� tư c�ch, c� khả năng điều đ�nh v� thỏa hiệp đối với n�, d� ở v�o thế yếu. Chứ c�n đối với Hội Đồng Gi�m Mục VN th� nh� nước vẫn đối xử như l� một tổ chức chỉ c� quyền xin ph�p, rồi chờ đợi n� cho ph�p hay kh�ng. Thậm ch� việc ph�n n�n về ch�nh s�ch t�n gi�o của n� cũng bị n� ngăn chận kh�ng cho xảy ra. C�i khả năng, c�i tư c�ch mặc cả điều đ�nh của Gi�o Hội CGVN qua HĐGM từ năm 1975 đến nay chưa bao giờ c� trong mắt nh� nước CS. Như vậy trừ khi h�ng Gi�m mục VN c�ng khai l�n tiếng phản đối việc nh� nước CS đ�n �p tự do t�n gi�o của Gi�o Hội, nghĩa l� khẳng định c�ng khai v� dứt kho�t trước mặt n� c�i thế độc lập v� tự trị cần phải c� của Gi�o Hội, th� h�ng Gi�m mục kh� m� tạo ra được một thế mạnh n�o c� thể l�m cho c�i nh� nước ấy phải chấp nhận c�i thực quyền "đối thoại" của Gi�o Hội, d� ở đ�y chỉ hạn chế v�o � nghĩa ch�nh trị ngoại giao đang n�i, tức l� khả năng điều đ�nh, mặc cả, v� thỏa hiệp. C�n để c� đối thoại theo nghĩa nh�n bản v� Kit� gi�o của C�ng đồng Vatican II th� kh�ng cần phải giải th�ch ai cũng thấy l� điều kiện cần trước hết l� thể chế độc t�i to�n trị phải chấm dứt. 

Ngược lại với đức y�u thương tha thứ của Kit� gi�o?

Cuối c�ng l� � kiến cho rằng ĐHY Thuận kh�ng l�n �n những x�c phạm ch� đạp của nh� nước CSVN đối với nh�n phẩm v� c�ng l� x� hội ch�nh l� v� ng�i chủ trương y�u thương v� tha thứ đối với kẻ th� như Tin Mừng đ� dạy.

Thoạt nghe c� vẻ thuyết phục nhưng thực ra cũng giống như � kiến đầu ti�n, � kiến tr�n tự n� kh�ng thể giải th�ch được sự im lặng của ĐHY nếu giả như ng�i thực bụng muốn l�n tiếng phản đối. Thật vậy nếu như ng�i thực sự muốn th� theo lương t�m v� x�c t�n Kit� gi�o ng�i sẽ dễ d�ng nhận thấy việc l�n tiếng phản đối chẳng những kh�ng nhất thiết đối nghịch với việc y�u thương tha thứ của Tin Mừng m� thậm ch� nhiều l�c c�n bị n� đ�i hỏi phải c�. Th�nh ra � kiến tr�n kh�ch quan kh�ng thể biện minh cho sự im lặng của ĐHY.

Xin miễn l� giải d�ng d�i ở đ�y v� người C�ng Gi�o n�o đọc cũng dễ d�ng t�m ra v� số v� dụ trong Tin Mừng, trong c�c s�ch kh�c của Th�nh Kinh, trong truyền thống lu�n l� của Gi�o Hội, trong đời sống của c�c th�nh, c� thể giải th�ch v� bảo vệ khẳng định n�i tr�n của t�i. Ở đ�y t�i chỉ xin lưu � hay đ�ng hơn nhắc lại sự ph�n biệt sau. L�n �n những h�nh động x�c phạm ch� đạp phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội l� một chuyện; y�u thương tha thứ đối với những kẻ l�m những h�nh động ấy lại l� một chuyện kh�c. L�n �n v� đ�i hỏi phải chấm dứt hiện hữu một cơ cấu thể chế độc t�i to�n trị, căn rễ ch�nh trị v� x� hội của sự x�c phạm phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội l� một chuyện, nhưng y�u thương tha thứ đối với những c� nh�n c� tr�ch nhiệm �t hay nhiều trong việc tạo ra, duy tr�, v� b�nh trướng c�i cơ cấu thể chế ấy l� một chuyện kh�c. Ph�n biệt như thế th� việc y�u thương tha thứ kh�ng thể đối lập với việc l�n tiếng chống lại v� hơn nữa c�n đ�i hỏi n� �t nữa l� nếu như l�m vậy bề l�u bề d�i gi�p l�m cho những điều �c, điều xấu giảm thiểu hay chấm dứt. Việc t�i y�u thương tha thứ cho tha nh�n kh�ng thể kh�ng bao gồm việc t�i gi�p tha nh�n bớt hay hết l�m điều xấu, kể cả bằng c�ch l�n �n điều xấu m� tha nh�n l�m, cho d� về ph�a tha nh�n, đặc biệt khi kh�ng hề muốn từ bỏ điều xấu, họ c� thể hiểu lầm m� cho l� t�i th� gh�t họ khi t�i l�m vậy.

Với những hạn chế

Tuy cố gắng căn cứ tr�n những l� lẽ ch�nh đ�ng, những cảm nghĩ của t�i thật ra vẫn mắc nhiều hạn chế. Trước hết tuy hợp l� ch�ng cũng chỉ l� những cảm nghĩ của t�i về những việc l�m của ĐHY Phanxic� Xavi� Nguyễn Văn Thuận ở dưới một v�i kh�a cạnh kh�ch quan th�i chứ kh�ng phải l� tất cả. T�i kh�ng c� khả năng cũng như kh�ng c� quyền b�n đến sự th�nh thiện của c� nh�n ng�i d� nh�n c�ch kh�ch quan. N�n ở tr�n t�i chỉ n�u l�n cảm nghĩ d� dặt n�i chung th�i c� thể �p dụng cho bất kỳ một ai kh�c kể cả ch�nh t�i. T�i chỉ n�i về sứ mạng ng�n sứ của ĐHY chứ kh�ng đụng đến những sứ mạng chủ chăn kh�c của ng�i. Nhưng x�t như l� Linh mục rồi Gi�m mục ng�i kh�ng phải được gọi chỉ l�m ng�n sứ th�i nhưng c�n l�m tư tế v� người cai quản  nữa. Rồi ngay cả khi n�i về sứ mạng ng�n sứ t�i cũng chỉ hạn chế trong phạm vi phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội x�t ở dưới thể chế độc t�i to�n trị. Nhưng sứ mạng ng�n sứ cũng l�m chứng cho nhiều lĩnh vực kh�c. Một điều kh�ng thể phủ nhận được đ� l� Thi�n Ch�a đ� v� đang l�m ph�t sinh ra nhiều �ch lợi thi�ng li�ng ở nơi những ai nghe hay đọc những g� m� ĐHY từng n�i về l�ng tha thứ đối với kẻ th� v� về niềm t�n th�c cậy tr�ng trong cảnh kh� khăn bế tắc.

Rồi những l� lẽ của t�i chống lại những � kiến biện minh cho sự im lặng của ng�i cũng chỉ nhắm đến kh�a cạnh kh�ch quan của sứ mạng ng�n sứ đối với phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội, nghĩa l� việc l�n tiếng cho những gi� trị n�y x�t trong ch�nh bản chất của n�. Nhưng t�i kh�ng thể biết những ho�n cảnh kh�ch quan v� chủ quan li�n quan đến sự im lặng của ng�i. T�i lại c�ng kh�ng biết những � định, những chọn lựa c� nh�n của ng�i li�n quan đến sự im lặng đ�. T�i l�m sao biết được ng�i c� đau khổ trong l�ng hay kh�ng đứng trước những � định v� chọn lựa ấy, v� nếu c� đ� l� những đau khổ n�o? T�i l�m sao biết được b�n cạnh những đau khổ ấy ng�i c� c�n nu�i những ho�i bảo, dự �n m� ng�i hy vọng những � định, chọn lựa ấy một c�ch n�o đ� c� thể gi�p ng�i thực hiện nhằm phục vụ Gi�o Hội CGVN về một số mặt n�o đ�, v� nếu c� th� đ� l� những ho�i b�o, dự �n n�o?

Với đủ thứ hạn chế đ� n�u tr�n, những cảm nghĩ của t�i d� hợp l� tới đ�u cũng chỉ nhắm đến những việc l�m của ĐHY nh�n dưới một �t kh�a cạnh kh�ch quan b�n ngo�i. Nếu đem so s�nh với một bức tranh m� tả việc l�m v� con người ng�i một c�ch to�n diện d� chỉ dưới c�i nh�n kh�ch quan, th� những cảm nhận của t�i chỉ l� một mảnh rất nhỏ. Một mảnh nhỏ như thế lại c�ng kh�ng n�i được ch�t g� về ch�nh bản th�n c� nh�n hay con người b�n trong của ĐHY cũng như về những ho�n cảnh trực tiếp ảnh hưởng đến bản th�n ng�i. Điều trước th� t�i kh�ng c� khả năng để biết v� c�ng kh�ng c� quyền x�t đo�n, c�n những điều sau th� t�i đơn giản chỉ l� kh�ng biết v� nếu c� biết th� kh� m� biết đ�ch x�c.

2. ĐẾN TIN TƯỞNG CẬY TR�NG

Tuy nhi�n một v�i gi�y ph�t thinh lặng suy tư về ch�nh c�i chết của ĐHY Phanxic� Xavi� Nguyễn Văn Thuận cũng đủ để mở rộng l�ng t�i vượt qua những cảm nghĩ vốn c� của m�nh về những g� ng�i đ� l�m trong qu� khứ. C�i chết của một con người kh�ng chỉ gợi lại trong ta những ho�i niệm qu� khứ về người ấy. N� cũng khiến ta đặt c�u hỏi về sự hiện hữu của người ấy sau khi ly trần. Người ấy nay đi về đ�u? Chưa hết, c�i chết của người kh�c cũng nhắc nhở ta về c�i chết của ch�nh m�nh. Ch�nh ta sẽ đi về đ�u sau khi chết? Đối với một t�n hữu C�ng Gi�o, những điều n�y gi�p v�n m�n để nh�n qua một khung cửa sổ mới, cửa sổ của niềm tin tưởng, của l�ng cậy tr�ng v�o Thi�n Ch�a. Khung cửa sổ ấy hướng c�i nh�n của ch�ng ta đến với Đấng duy nhất c� quyền tr�n kẻ chết, Đấng duy nhất thấu suốt mọi điều ẩn k�n trong l�ng ch�ng ta, nhưng đồng thời cũng l� Đấng gi�u l�ng thương x�t v� tha thứ đối với những yếu h�n v� tội lỗi của ch�ng ta, thừa khả năng giải tho�t v� đưa ch�ng ta vượt l�n tr�n những bế tắc, ng� cụt của sự dữ.

Nh�n qua cửa sổ của tin tưởng v� cậy tr�ng kh�ng nhất thiết phải khiến t�i quay lưng lại m� phủ định những cảm nghĩ vốn c� của t�i ở tr�n về những việc l�m của ĐHY, nhưng mạnh mẽ nhắc nhở t�i về những hạn chế bất to�n của ch�ng. D� c� đ�ng, những cảm nghĩ đ� cũng chỉ đ�ng ở dưới một số kh�a cạnh hạn hẹp, cũng chỉ đ�ng trong một chừng mực n�o đ� th�i, bởi lẽ ch�ng vẫn l� nh�n từ ph�a con người hữu hạn. Do đ� nh�n qua cửa sổ của tin tưởng v� cậy tr�ng khiến t�i kh�ng bị giam cầm đ�ng k�n trong những cảm nghĩ của m�nh nhưng mở l�ng ra đối với những g� m�nh kh�ng nh�n thấy hay kh�ng c� thể nh�n thấy. 

Nh�n từ ph�a con người những cảm nghĩ của t�i về những việc l�m của ĐHY mang những giới hạn kh�ng chỉ của ri�ng t�i m� c�n l� những giới hạn thuộc về khả năng hiểu biết của bất kỳ con người n�o: những giới hạn thuộc về mẫu số chung l� người. Chỉ kh�ng c�n giới hạn khi n�o con người v� việc l�m của ĐHY được nh�n từ ph�a Thi�n Ch�a. V� đối với một t�n hữu C�ng Gi�o th� được nh�n từ ph�a Thi�n Ch�a mới l� điều đ�ng kể nhất, mới l� c�i nh�n m�i m�i c�n đ�, kể cả sau khi mọi c�i kh�c qua đi. Con người v� việc l�m của ĐHY Thuận c� nh�n từ ph�a Thi�n Ch�a th� mới nh�n hết được v� mới thực sự l� nh�n một lần sau c�ng cho m�i m�i.

D� t�i biết r� t�i hơn người n�o kh�c biết t�i, th� con người v� việc l�m của t�i được nh�n như thế n�o từ ph�a Thi�n Ch�a cũng vẫn l� một mầu nhiệm đối với ch�nh t�i. Nếu thế th� con người v� việc l�m của một con người kh�c như ĐHY Thuận được nh�n như thế n�o từ ph�a Thi�n Ch�a c�ng l� một mầu nhiệm cho t�i. Đ� l� một mầu nhiệm th� hiểu biết kh�ng c�n c� chỗ th�ch hợp v� quan trọng cho bằng tin tưởng v� cậy tr�ng. Hơn nữa ngay cả những cảm nghĩ của t�i về những việc l�m của ng�i m� t�i cho l� ph� hợp với những x�c t�n v� l� lẽ kh�ch quan của Tin Mừng cũng phải nhường chỗ ưu ti�n cho một niềm tin tưởng v� l�ng cậy tr�ng thuần t�y v�o c�i nh�n m� Thi�n Ch�a c� đối với đứa con n�y của Người.

Cho n�n con người v� việc l�m của ĐHY Thuận nh�n từ ph�a Thi�n Ch�a t�i kh�ng hiểu được, kh�ng biết được, cũng kh�ng cảm nhận được. T�i chỉ tin tưởng v� cậy tr�ng v�o l�ng thương x�t v� quyền năng của Thi�n Ch�a đối với con người v� việc l�m của ng�i. Cũng giống như t�i tin tưởng v� cậy v�o l�ng thương x�t v� quyền năng ấy đối với ch�nh t�i hay một ai kh�c. Sự khi�m hạ Kit� gi�o gi�p mỗi người ch�ng ta tin tưởng rằng cho d� nh�n từ ph�a con người những yếu h�n hay hậu quả của tội lỗi, những bế tắc, những thế kẹt, những ng� cụt xem ra kh�ng c� thể gỡ ra hay t�ch khỏi con người v� việc l�m của ch�ng ta, th� những c�i xấu n�y vẫn kh�ng thể g�y kh� khăn cho khả năng giải tho�t v� si�u thăng của l�ng thương x�t tha thứ m� Thi�n Ch�a c� đối với ch�ng ta. Ngay cả khi ch�nh ch�ng ta �t nhiều chịu tr�ch nhiệm cho những c�i xấu đ�, th� kh�ng phải v� thế m� ch�ng c� thể bắt chẹt được quyền năng của l�ng thương x�t Người.

Tin tưởng như thế kh�ng giải tho�t ch�ng ta khỏi những cảm nhận đau khổ m� những c�i xấu đ� c�ch n�y c�ch kh�c g�y ra nơi ch�ng ta nhưng đưa đến sự cậy tr�ng an b�nh ngay ở giữa những đau khổ ấy. ĐHY Thuận �t nữa l� hai lần đ� đau khổ rất nhiều về những bế tắc, đường c�ng trong cuộc đời ng�i. Vừa mới được đặt l�m ph� Tổng gi�m mục S�i G�n với biết bao hy vọng v� dự �n c� sẵn th� bị bắt giam, quản th�c suốt 13 năm. Vừa mới được tấn phong Hồng Y với biết bao khả năng v� c�ng việc sắp sửa c� điều kiện rất tốt để thực hiện v� ho�n th�nh th� phải đối diện với căn bệnh nan y ph�t triển v�o giai đoạn bất trị. Hơn nữa những năm th�ng cuối đời n�y c� lẽ đau khổ của ng�i kh�ng phải chỉ c� thế! Nhưng t�i c� thể khẳng định rằng ở giữa những đau khổ trước kia hay sau n�y, ĐHY vẫn lu�n tin tưởng v�o quyền năng của l�ng thương x�t m� Thi�n Ch�a d�nh cho con người v� việc l�m của ng�i. Ng�i vẫn lu�n cậy tr�ng v�o quyền năng của l�ng thương x�t đ� như l� c�u trả lời sau c�ng v� � nghĩa nhất cho cuộc sống v� những việc l�m của m�nh.

***

Sau ng�y 16 th�ng 9 năm 2002 ĐHY Phanxic� Xavi� Nguyễn Văn Thuận kh�ng c�n đau khổ như trước nữa v� ng�i bắt đầu thấy r� r�ng từ ph�a c�i nh�n của Thi�n Ch�a những hoa quả m� l�ng thương x�t quyền năng của Người đ� v� đang thực hiện tr�n con người v� c�ng việc của ng�i. V� l�c n�y ĐHY đang thấy được r� r�ng như thế, n�n c�i nh�n của ch�nh ng�i trước đ�y về con người v� việc l�m của m�nh, hay những cảm nghĩ n�i ở trước của t�i, tất cả đều đ� để lộ ra ho�n to�n bộ mặt thiếu s�t, bất to�n, v� tạm thời của ch�ng. Những c�i nh�n hay cảm nghĩ đ� qua đi m� kh�ng c�n để lại ngay cả một ch�t � nghĩa đối với ng�i l�c n�y đ�y cũng như m�i m�i về sau.

Lễ Kỷ niệm cung hiến hai Đền thờ Th�nh Ph�r� v� Th�nh Phaol� 18/11/2002
Tổng Gi�o phận Hoa Thịnh Đốn
, Hoa Kỳ