Trước
Sự Ra Đi Của Đức Hồng Y
PHANXIC�
XAVI� NGUYỄN VĂN
THUẬN
Từ
Những Cảm Nghĩ Đến
Tin Tưởng V� Cậy Tr�ng
Lm
Phaol� Trần Xu�n T�m
Đức
Hồng Y Phanxic� Xavi� Nguyễn Văn Thuận đ� ly
trần! T�i sớm biết được tin đ�
nhờ điện thư từ một trong những
cựu học tr� th�n t�n của ng�i trong Tiểu chủng
viện Hoan Thiện Huế m�
t�i nhận được v�o s�ng thứ Hai ng�y 16 th�ng 9.
Cảm
nhận của t�i l�c đ� thế n�o? T�i kh�ng cảm
thấy bất ngờ cho lắm: hơn nửa năm trước
đ� từ một v�i nguồn tin đ�ng tin cậy, t�i
đ� biết căn bệnh của ng�i kh�ng những nan y
m� đ� ph�t triển v�o giai đoạn bất trị. Nhưng
c� lẽ ng�i đ� ra đi hơi sớm một ch�t: theo
d�i tin tức v�i ba tuần trước đ�, t�i vẫn
cứ tưởng l� ng�i c� thể sống th�m được
v�i ba th�ng hay nửa năm kh�ng chừng. Chưa kể
biết đ�u nếu Ch�a muốn Người sẽ l�m
ph�p lạ cứu sống t�i tớ Người. T�i c� thương
tiếc ĐHY trước sự ly trần của ng�i kh�ng?
Kh�ng, nhưng chỉ một ch�t buồn tho�ng qua. Ai đọc
xin đừng hiểu lầm, t�i chỉ n�i thật
những cảm nhận l�c đ� của m�nh th�i. Đối
với t�nh cảm thương tiếc đau buồn
của hầu hết anh chị em C�ng Gi�o Việt Nam
của t�i trước sự ra đi của ng�i t�i ho�n
to�n t�n trọng v� th�ng cảm. C�n về mối li�n
hệ theo đức Tin th� cả hơn một th�ng trước
khi ng�i mất hầu như kh�ng ng�y n�o m� t�i kh�ng
nhớ cầu nguyện cho sức khoẻ của ng�i
mỗi khi d�ng th�nh lễ. Rồi sau khi ng�i qua đời,
t�i lại cầu nguyện cho sự an nghỉ trong Ch�a
của ng�i li�n tục trong suốt mấy tuần.
***
1.
TỪ NHỮNG CẢM NGHĨ
Những
cảm nhận tức thời ở tr�n đương nhi�n
bị chi phối bởi những cảm nghĩ m� t�i
vốn c� về ĐHY Phanxic� Nguyễn Văn Thuận
từ nhiều năm nay. Trước sự ra đi
của ng�i theo lẽ thường t�nh t�i kh�ng thể kh�ng
hồi tưởng những g� ng�i đ� l�m l�c c�n
tại thế, dầu dĩ nhi�n ở dưới
những kh�a cạnh m� t�i đặc biệt quan t�m.
Một
sự kiện kh�ng ai c� thể phủ nhận đ� l� kh�ng
c� Gi�m mục n�o được nhiều người C�ng
Gi�o Việt Nam ngưỡng mộ v� qu� mến cho
bằng ĐHY Thuận, �t nữa từ l�c ng�i bị nh�
nước Cộng sản bắt giam v�o năm 1975 cho
đến khi ly trần. Rất nhiều anh chị em CG
của t�i s�ng mộ ng�i v� xem ng�i đạo đức
th�nh thiện gần như một vị th�nh, nhưng hơn
hết v� xem ng�i như l� người đ� đem đến
nhiều đ�ng g�p lớn lao nhất cho Gi�o Hội C�ng
Gi�o VN đặc biệt nhờ v�o những chứng
từ trong t� của ng�i. Thế nhưng t�i kh�ng c�
được t�m t�nh tương tự như thế
đối với ng�i. L� do l� v� cảm nghĩ của t�i
về ĐHY kh�ng ho�n to�n giống như phần lớn
anh chị em CG của t�i, nhất l� khi nh�n từ
những kh�a cạnh m� t�i đặc biệt quan t�m.
Đạo
đức của một vị th�nh
L�c
c�n l� cậu học sinh trung học rồi sau đ� l�
sinh vi�n đại học ở b�n nh� t�i cũng đ�
từng ngưỡng mộ v� qu� mến ĐHY kh�ng thua g�
phần lớn anh chị em CG của t�i. Cuốn "Đường
Hy Vọng" của ng�i in kiểu ron�o ở VN m� t�i may
mắn c� được đ� một thời l� cuốn
s�ch huấn đức t�i rất th�ch v� thường xuy�n
đọc. Tuy nhi�n sau đ� khi qua Mỹ năm 1990, đi
tu, th�nh chủng sinh, rồi trong suốt bốn năm
học thần học ở R�ma (1995-1999) với nhiều
lần gặp ng�i trong những cuộc nh�m họp của
c�c linh mục, tu sĩ, v� chủng sinh VN , t�i lại kh�ng
c�n giữ được t�m t�nh s�ng mộ như trước.
Về sau n�y t�i mới kh�m ph� ra rằng kh�ng phải
chỉ một m�nh t�i m� trong giới linh mục VN kh�ng
phải ai cũng s�ng mộ ng�i d� l� do hay động
lực c� thể kh�c với t�i. Xem ra tỷ lệ
phần trăm những ai s�ng mộ ĐHY Thuận cao hơn
nhiều ở nơi giới gi�o d�n. Dĩ nhi�n t�i
vẫn k�nh trọng ng�i như một vị Gi�m mục
đạo đức, c� đời sống nội t�m th�m
s�u v� đức Tin mạnh mẽ, nhất l� được
t�i luyện qua những năm th�ng d�i bị giam cầm
hay quản th�c. T�i cũng vẫn th�n phục ng�i như
một vị gi�m mục c� khả năng tổ chức,
l�nh đạo, v� c� t�i thu phục nh�n t�m. Nhưng
cảm nhận của t�i đối với đời
sống đạo đức của ng�i chỉ c� thế
th�i m� kh�ng nhiều hơn được. Tại sao như
vậy?
C�
lẽ v� m�nh c�ng lớn tuổi th� tự nhi�n c�ng c� �c
ph� b�nh v� ho�i nghi đối với những ai m� m�nh l�c
c�n nhỏ dễ cho l� gương mẫu. T�i ho�i nghi như
thế chẳng qua cũng v� nhận thấy rằng c�i t�i
�ch kỷ của mỗi người ch�ng ta ăn rễ s�u
trong l�ng ch�ng ta nhiều hơn l� ch�ng ta nghĩ v� kh�ng
phải bao giờ cũng dễ nhận ra n�. Nhiều l�c
n� xem ra cũng cao cả v� đ�ng y�u lắm. Chỉ c�
một m�nh Thi�n Ch�a mới thấy r� mọi căn
rễ của sự �ch kỷ trong ch�ng ta, c�i khuynh hướng
thần tượng h�a ch�nh m�nh. (C�m dỗ m� Adong v� Ev�
vấp phạm ch�nh l� c�m dỗ mu�n đời của con
người). Cũng chỉ
một m�nh Thi�n Ch�a mới c� đầy l�ng ki�n
nhẫn, tha thứ, v� thương x�t để thanh
luyện ch�ng ta đến mức ho�n to�n, thường l�
phải k�o d�i qua b�n kia nấm mồ, trong lửa
luyện ngục. Ch�nh v� ngoại trừ Thi�n Ch�a kh�ng ai
thấy r� được mọi chiều s�u ẩn k�n
trong l�ng người, n�n cho d� ngay cả sau khi điều
tra nghi�n cứu cẩn thận v� đầy đủ,
thấy được sự th�nh thiện v� đức
hạnh của một c� nh�n về mặt kh�ch quan, Gi�o
Hội cũng chỉ d�m c�ng bố người ấy l�
t�i tớ Ch�a, đấng đ�ng k�nh, nhưng vẫn kh�ng
d�m bảo đảm c�ch tuyệt đối, bất
khả ngộ. Gi�o Hội c�n phải đợi xem con
dấu x�c nhận của Thi�n Ch�a, nghĩa l� ph�p lạ
từ trời cao ban xuống v� l� do sự chuyển
cầu của vị t�i tớ đ�ng k�nh đ�, th�
mới d�m tuy�n phong người ấy l� th�nh. V� xem ra
để chắc ăn hơn, Gi�o Hội đ�i hỏi
ph�p lạ tới hai v�ng. Vượt qua được v�ng
đầu chỉ mới được c�ng nhận l� ch�n
ph�c hay � th�nh th�i, chỉ được t�n k�nh trong
mức độ địa phương hạn hẹp th�i,
phải th�m một hai ph�p lạ nữa th� mới vượt
qua được v�ng hai để được c�ng
nhận l� hiển th�nh, được ph�p t�n k�nh
khắp thế giới C�ng Gi�o.
Th�nh
ra t�i rất d� dặt khi thấy người ta phong th�nh
cho ai đ� trước cả Gi�o Hội, thậm ch� ngay
cả khi đương sự vẫn c�n sống. Dĩ
nhi�n t�i vẫn chấp nhận một v�i luật trừ,
v� dụ t�i kh�ng hề c� một ch�t nghi ngờ rằng
mẹ Teresa th�nh Calcutta quả thật l� một vị th�nh.
Ai đọc c� thể cho rằng luật trừ kiểu
đ� th� cần g� phải n�i, vậy c� phải l� t�i
qu� khắt khe chăng? Cũng c� lẽ vậy, nhưng kh�ng
phải đối với bất kỳ ai. T�i dễ d�ng
tin một t�n hữu CG l� một vị th�nh nếu đ�
l� một con người b�nh thường, đời
sống tuy th�nh thiện, nhưng �m thầm, kh�ng một
ch�t tiếng tăm, hơn l� nếu đ� l� một nh�n
vật đ� qu� nổi tiếng ngay từ khi c�n sống.
N�i v� dụ, đối với một quả phụ C�ng
Gi�o qu� m�a thất học gốc Nam Định, hết l�m
u gi� phần lớn cuộc đời cho c�c cậu d� v�
mẹ t�i, th� sau đ� cuối đời đến lượt
l�m b� ngoại nu�i của bọn nhỏ chị em tụi
t�i (b� đ� ly trần mười mấy hai chục năm
rồi), th� nay th�nh một linh mục rồi c�ng hồi tưởng
lại những năm th�ng l�c b� c�n sống với
chị em tụi t�i th� t�i c�ng kh�m ph� ra l� ch�ng t�i đ�
được diễm ph�c sống dưới sự chăm
s�c của một vị th�nh �m thầm v� danh, thế m�
l�c đ� chẳng đứa n�o để � hay tr�n
trọng.
C�i
�c ph� b�nh ho�i nghi của t�i tựu trung cũng chỉ
xuất ph�t từ sự d� dặt n�i chung th�i, chứ kh�ng
phải v� những tiếp x�c hay quen biết gần gũi
g� với ĐHY cả. Nhiều lần gặp mặt ng�i
ở R�ma như đ� n�i tr�n, nhưng kh�ng phải v� th�n
phận l� một chủng sinh v� danh tiểu tốt v�o l�c
đ� cho bằng v� c� tinh của m�nh m� t�i lu�n giữ th�i
độ "k�nh nhi viễn chi" đối với ng�i.
Suốt bốn năm ở R�ma t�i chưa một lần n�i
chuyện ri�ng với ng�i cũng như chưa một
lần đến thăm ng�i tại tư gia, đi
một m�nh hay với ai kh�c, dầu biết rằng tinh ng�i
cũng b�nh d�n, nếu c� thời giờ vẫn sẵn s�ng
tiếp x�c mọi giới, v� nếu cha, thầy, nữ tu
n�o, d� kh�ng phải l� con c�i thi�ng li�ng của ng�i, nhưng
nếu cần gi�p đỡ th� bao giờ ng�i cũng
rộng lượng, thậm ch� gi�p đến nơi
đến chốn. Chẳng biết th�i độ của
t�i c� phải l� tự �i c� nh�n kh�ng? Nhưng d� sao t�i
vốn vẫn khẳng định l� Thi�n Ch�a kh�ng thi�n
vị ai cả, kh�ng phải trọng tr�ch hay chức
vụ l�m cho người n�y đ�ng được Người
đối xử c�ch đặc biệt hơn l� kẻ kh�c.
Th�nh Phaol� đ� từng n�i thế về những vị
T�ng đồ đứng đầu trong cộng đo�n
Kit� hữu ở Gi�rusalem, bao gồm lu�n cả th�nh Ph�r�
(cf. Thư gửi c�c t�n hữu Galata 2, 6).
Ng�n
sứ hay chứng nh�n cho phẩm gi� con người v� c�ng
l� x� hội ở Việt Nam
Nhưng
khi nh�n v�o những việc l�m của ĐHY Thuận,
những kh�a cạnh m� t�i đặc biệt quan t�m đ�
l� ch�ng c� mang những t�nh c�ch ng�n sứ hay chứng nh�n
cho phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội ở
Việt Nam hay kh�ng. Th�nh thật m� n�i, những h�nh động
của ĐHY đ� kh�ng ho�n to�n ph� hợp với c�i nh�n,
quan niệm m� t�i vốn c� từ mười mấy năm
nay về sứ mạng ng�n sứ hay vai tr� chứng nh�n
của một Gi�m mục đ� từng sống hay c�n
đang sống dưới chế độ cộng
sản độc t�i to�n trị n�n c� đối với
phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội. Từ khi
ra ngoại quốc, kh�ng biết bao nhi�u lần ng�i n�i
đến những ng�y th�ng ng�i ở t� nh� nước
CS, n�i về sự tha thứ m� ng�i học được
đối với những kẻ bắt giam v� h�nh hạ
ng�i. Nhưng nếu t�i kh�ng lầm, chưa bao giờ ng�i
l�n tiếng chống lại những h�nh vi ch� đạp
của nh� nước CSVN đối với tự do t�n gi�o
v� những phẩm gi� kh�c của con người cũng
như những tương quan c�ng l� v� đạo đức
trong x� hội. Lại c�ng kh�ng thấy ng�i l�n �n c�i
thể chế độc t�i to�n trị cộng sản
Việt Nam như l� c�i gốc rễ x� hội v� ch�nh
trị của những h�nh vi phi nh�n v� bất c�ng đ�.
Nhưng để tr�nh kiểu suy nghĩ v� đo�n t�i kh�ng
thể kh�ng x�t đến một v�i l� do sau m� một
số anh chị em CGVN của t�i thường trưng
dẫn để giải th�ch hay biện hộ cho sự
im lặng của ng�i.
Bị
cản trở do phận vụ T�a Th�nh?
Kh�ng
bao l�u sau khi ng�i được T�a Th�nh đặt l�m Ph�
chủ tịch Hội đồng Gi�o ho�ng về C�ng L� v�
H�a B�nh v� bắt đầu đi c�ng c�n ở quốc
gia n�y quốc gia nọ, một linh mục Việt Nam
dạy tại một Đại học Gi�o ho�ng ở R�ma
c� thắc mắc tại sao kh�ng thấy đức
Tổng Thuận (bấy giờ chưa l�m HY) l�n tiếng
về những vi phạm nh�n quyền v� những bất c�ng
x� hội ở VN. Vị linh mục thư k� v� th�n
cận của ng�i từ khi ng�i qua R�ma cho biết khi đi
c�ng c�n đ�y đ� ng�i kh�ng c� quyền n�i những g�
m� Văn ph�ng Ngoại giao của T�a Th�nh đ� kh�ng ph�
chuẩn hay chấp nhận trước.
T�i
kh�ng biết lời giải th�ch như thế c� căn
cứ tới đ�u, nhưng cho d� đ�ng th� tự n�
vẫn kh�ng thể giải th�ch được sự im
lặng của ng�i nếu như ng�i thực bụng
muốn l�n tiếng. Thật thế, d� l� Ph� chủ
tịch v� sau n�y th�nh Chủ tịch của Hội Đồng,
th� kh�ng phải v� thế m� ng�i mất đi tư c�ch c�
nh�n ri�ng của ng�i. Nếu sợ ảnh hưởng
đến những đường lối m� Văn ph�ng
Ngoại giao chủ trương th� ng�i vẫn c� thể l�n
tiếng với tư c�ch lương t�m c� nh�n ng�i v�
đ�nh ch�nh trước khi l�n tiếng l� m�nh chỉ n�i
theo tư c�ch ấy m� th�i, chứ kh�ng n�i như l�
một vi�n chức hay đại diện g� của T�a Th�nh
cả. T�i chắc chắn l� l�n tiếng như thế Văn
ph�ng Ngoại giao của T�a Th�nh chẳng những kh�ng
thể cấm m� c�n ho�n to�n t�n trọng. Tr�n thế
giới n�y chỉ ngoại trừ cơ chế độc
t�i to�n trị của đảng cộng sản chứ kh�ng
c� nh� nước n�o lại đi cấm đo�n v�
trừng trị c�ng d�n của n� nếu họ n�i bất
kỳ điều g� kh�ng ph� hợp với n� cho d� l� nh�n
danh lương t�m c� nh�n của họ. Phương chi
ở đ�y lại l� cơ cấu tổ chức của
Quốc gia Vatican. D� với t�nh c�ch phức tạp đến
đ�u về mặt ch�nh trị v� ngoại giao, th�
quốc gia Vatican vẫn kh�ng c� l� do hiện hữu v�
hoạt động n�o kh�c hơn l� l� do thần học:
để v� chỉ để phục vụ cho sứ
mạng phổ qu�t của vị Gi�m mục R�ma, đấng
kế vị th�nh Ph�r�, một sứ mạng kh�ng
phải chỉ mang t�nh c�ch tư tế v� cai quản m� c�n
ng�n sứ nữa, nghĩa l� l�n tiếng cho những
sự thật của Kit� gi�o về Thi�n Ch�a v� về con
người.
Ngược
lại với đường lối "đối
thoại"?
Một
giải th�ch xem ra kh� hơn đ� l� � kiến cho rằng
ĐHY kh�ng l�n tiếng chống lại những h�nh vi phi
nh�n v� bất c�ng của nh� nước CSVN l� v� ng�i
chủ trương đường lối "đối
thoại" với n�.
Cho d�
� kiến n�y c� giải th�ch được sự im
lặng của ng�i th� về mặt kh�ch quan n� kh�ng
thể biện minh cho th�i độ đ� được.
Nếu như v� đường lối "đối
thoại" v� những �ch lợi khả dĩ của n�,
cho d� về mặt mục vụ, m� một vị Gi�m
mục kh�ng l�n tiếng chống lại những h�nh vi phi
nh�n v� bất c�ng của nh� nước CSVN, th� kh�ch quan
m� n�i ng�i đ� kh�ng chu to�n sứ mạng ng�n sứ
của m�nh. Xin miễn
giải th�ch tại sao t�i khẳng định như
thế.
Nhưng
đ�u c� phải l�n tiếng chống lại v� ngồi
xuống n�i chuyện với nhau l� hai h�nh động
nhất thiết loại trừ nhau như thể để
c� c�i n�y th� kh�ng thể c� c�i kia v� ngược lại.
Kh�ng cần hiểu hai việc l�m n�y theo � nghĩa Kit� gi�o,
h�y x�t � nghĩa nh�n bản t�ch cực của ch�ng:
một b�n l� v� điều tốt, v� lẽ phải m� l�n
tiếng chống lại điều xấu, sự sai tr�i
thấy ở nơi nhau chứ kh�ng phải để l�n
�n loại trừ phẩm gi� của nhau. C�n b�n kia l�
ngồi xuống �n h�a n�i chuyện với nhau để
gi�p nhau nhận ra lẽ phải, từ bỏ sự sai tr�i,
l�m điều tốt, tr�nh điều xấu. Hay �t
nữa cho d� sau đ� kh�ng c� được sự đồng
� hay đồng thuận với nhau như vậy, th� n�i
chuyện với nhau vẫn c� thể gi�p hiểu nhau hơn
v� gi�p tiếp tục t�n trọng phẩm gi� của nhau
trong l�c vẫn tiếp tục phản đối những
g� xấu xa, sai tr�i thấy ở nơi nhau. Hiểu như
thế th� việc l�n tiếng chống lại v� việc
ngồi xuống n�i chuyện hay đối thoại
với nhau tự ch�ng c� thể bổ t�c cho nhau, hay �t
nữa kh�ng thể loại trừ nhau m� c�ng tồn
tại song song với nhau, nếu kh�ng c�ng l�c, th� �t cũng
c� thể kế tiếp nhau.
Ngay
cả khi hai h�nh động n�y kh�ng được
hiểu theo nghĩa nh�n bản n�i tr�n m� theo nghĩa ch�nh
trị v� ngoại giao, th� những ai chuy�n m�n trong
những lĩnh vực n�y cũng c� thể l�m chứng l�
ch�ng kh�ng nhất thiết phải loại trừ nhau, tr�i
lại c� thể thực hiện song song hay kế tiếp
nhau để m� hỗ trợ cho nhau. Nhưng kh�ng thể
kh�ng lưu � sự kiện n�y đ� l� "n�i
chuyện, đối thoại với nhau" v� "l�n
tiếng phản đối nhau"
kh�ng c�n giống như � nghĩa nh�n bản của
ch�ng m� thực sự thay đổi t�nh chất ở
trong bối cảnh ch�nh trị v� ngoại giao. Trong
bối cảnh ấy th� "đối thoại" thực
chất chỉ l� thương thuyết, điều đ�nh,
đổi ch�c, thỏa hiệp, nhượng bộ, vv�
Rồi cả "n�i chuyện, đối thoại với
nhau" lẫn "l�n tiếng phản đối nhau"
đều kh�ng nhằm sự thật, điều tốt,
cho bằng những �ch lợi thực tiễn, kh�ng
dựa tr�n sự t�n trọng phẩm gi� ngang h�ng của
nhau cho bằng sự đ�nh gi� hơn thua về thế
mạnh yếu, về lực lượng của nhau.
Kh�ng
cần phải ph�n t�ch cũng đủ thấy "đối
thoại" giữa Vatican v� nh� nước CSVN trong căn
bản kh�ng ra ngo�i những giới hạn ch�nh trị v�
ngoại giao vừa n�i tr�n. Vậy xin đừng để
mỹ từ "đối thoại" đ�nh lừa m�
lẫn lộn những g� m� Hiến chế Vui Mừng v�
Hy Vọng của C�ng đồng Vatican II n�i về đối
thoại theo những nguy�n tắc thần học v� nh�n
bản với những thương thuyết, điều
đ�nh, vv � từ nhiều năm nay giữa Vatican v� nh�
nước VN hiện nay. Đường lối hiện
nay của Văn ph�ng Ngoại giao của T�a Th�nh đối
với VN l� "đối thoại" m� vẫn kh�ng
phải l� đối thoại. Cũng kh�ng phải kh� khăn
lắm để thấy trong "đối thoại"
như thế hiện nay Vatican hay l� nh� nước VN ai
phải hạ m�nh nhiều hơn, ai phải nhượng
bộ nhiều hơn, ph�a n�o tỏ ra cần ph�a kia hơn.
H�y so s�nh như sau. Vatican l�n tiếng phản đối
một số ch�nh s�ch của ch�nh quyền Mỹ dưới
thời tổng thống Bill Clinton về vấn đề
ph� thai v� th� nghiệm ph�i sinh người. Nhưng so
với những luật lệ v� ch�nh s�ch của nh� nước
CSVN, những luật lệ ủng hộ ph� thai hay th�
nghiệm ph�i sinh người của ch�nh quyền Mỹ
vẫn kh�ng t�n �c bằng một g�c nhỏ. Nhưng
Vatican kh�ng bao giờ l�n tiếng phản đối nh� nước
CSVN về chuyện n�y, lại c�ng kh�ng l�n tiếng
chống lại việc n� ch� đạp phẩm gi� con người
n�i chung, m� trong đ� ph� thai chỉ l� một kh�a
cạnh. L� do kh�ng kh� thấy: ch�nh quyền Mỹ k�nh
trọng Vatican, chứ nh� nước CSVN th� kh�ng. Vatican
cần c� quan hệ với n�, chứ n� thực chất
kh�ng cần quan hệ với Vatican. V� nhất l� ch�nh
quyền Mỹ kh�ng những trước sau vẫn t�n
trọng tự do t�n gi�o thực sự của Gi�o Hội
C�ng Gi�o Mỹ m� c�n ki�ng nể ảnh hưởng
lớn lao của Gi�o Hội tr�n đời sống gi�o
dục, x� hội, v� ch�nh trị của nước
Mỹ. C�n nh� nước CSVN th� chẳng những kh�ng
muốn cho Gi�o Hội C�ng Gi�o VN c� ảnh hưởng g�
đối với nh�n d�n v� đất nước m� c�n
thực sự đang đ�n �p ch�nh tự do t�n gi�o
của Gi�o Hội.
Nhưng
dầu sao đối với Vatican th� nh� nước CS c�n
xem l� c� tư c�ch, c� khả năng điều đ�nh v�
thỏa hiệp đối với n�, d� ở v�o thế
yếu. Chứ c�n đối với Hội Đồng Gi�m
Mục VN th� nh� nước vẫn đối xử như
l� một tổ chức chỉ c� quyền xin ph�p, rồi
chờ đợi n� cho ph�p hay kh�ng. Thậm ch� việc ph�n
n�n về ch�nh s�ch t�n gi�o của n� cũng bị n� ngăn
chận kh�ng cho xảy ra. C�i khả năng, c�i tư c�ch
mặc cả điều đ�nh của Gi�o Hội CGVN qua
HĐGM từ năm 1975 đến nay chưa bao giờ c�
trong mắt nh� nước CS. Như vậy trừ khi h�ng
Gi�m mục VN c�ng khai l�n tiếng phản đối
việc nh� nước CS đ�n �p tự do t�n gi�o
của Gi�o Hội, nghĩa l� khẳng định c�ng khai
v� dứt kho�t trước mặt n� c�i thế độc
lập v� tự trị cần phải c� của Gi�o
Hội, th� h�ng Gi�m mục kh� m� tạo ra được
một thế mạnh n�o c� thể l�m cho c�i nh� nước
ấy phải chấp nhận c�i thực quyền "đối
thoại" của Gi�o Hội, d� ở đ�y chỉ
hạn chế v�o � nghĩa ch�nh trị ngoại giao đang
n�i, tức l� khả năng điều đ�nh, mặc
cả, v� thỏa hiệp. C�n để c� đối
thoại theo nghĩa nh�n bản v� Kit� gi�o của C�ng
đồng Vatican II th� kh�ng cần phải giải th�ch ai
cũng thấy l� điều kiện cần trước
hết l� thể chế độc t�i to�n trị phải
chấm dứt.
Ngược
lại với đức y�u thương tha thứ của
Kit� gi�o?
Cuối
c�ng l� � kiến cho rằng ĐHY Thuận kh�ng l�n �n
những x�c phạm ch� đạp của nh� nước
CSVN đối với nh�n phẩm v� c�ng l� x� hội ch�nh
l� v� ng�i chủ trương y�u thương v� tha thứ
đối với kẻ th� như Tin Mừng đ�
dạy.
Thoạt
nghe c� vẻ thuyết phục nhưng thực ra cũng
giống như � kiến đầu ti�n, � kiến tr�n
tự n� kh�ng thể giải th�ch được sự im
lặng của ĐHY nếu giả như ng�i thực
bụng muốn l�n tiếng phản đối. Thật
vậy nếu như ng�i thực sự muốn th� theo lương
t�m v� x�c t�n Kit� gi�o ng�i sẽ dễ d�ng nhận
thấy việc l�n tiếng phản đối chẳng
những kh�ng nhất thiết đối nghịch với
việc y�u thương tha thứ của Tin Mừng m�
thậm ch� nhiều l�c c�n bị n� đ�i hỏi
phải c�. Th�nh ra � kiến tr�n kh�ch quan kh�ng thể
biện minh cho sự im lặng của ĐHY.
Xin
miễn l� giải d�ng d�i ở đ�y v� người C�ng
Gi�o n�o đọc cũng dễ d�ng t�m ra v� số v�
dụ trong Tin Mừng, trong c�c s�ch kh�c của Th�nh Kinh,
trong truyền thống lu�n l� của Gi�o Hội, trong đời
sống của c�c th�nh, c� thể giải th�ch v� bảo
vệ khẳng định n�i tr�n của t�i. Ở đ�y
t�i chỉ xin lưu � hay đ�ng hơn nhắc lại
sự ph�n biệt sau. L�n �n những h�nh động x�c
phạm ch� đạp phẩm gi� con người v� c�ng l�
x� hội l� một chuyện; y�u thương tha thứ
đối với những kẻ l�m những h�nh động
ấy lại l� một chuyện kh�c. L�n �n v� đ�i
hỏi phải chấm dứt hiện hữu một cơ
cấu thể chế độc t�i to�n trị, căn
rễ ch�nh trị v� x� hội của sự x�c phạm
phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội l� một
chuyện, nhưng y�u thương tha thứ đối
với những c� nh�n c� tr�ch nhiệm �t hay nhiều trong
việc tạo ra, duy tr�, v� b�nh trướng c�i cơ
cấu thể chế ấy l� một chuyện kh�c. Ph�n
biệt như thế th� việc y�u thương tha
thứ kh�ng thể đối lập với việc l�n
tiếng chống lại v� hơn nữa c�n đ�i
hỏi n� �t nữa l� nếu như l�m vậy bề l�u
bề d�i gi�p l�m cho những điều �c, điều
xấu giảm thiểu hay chấm dứt. Việc t�i y�u
thương tha thứ cho tha nh�n kh�ng thể kh�ng bao
gồm việc t�i gi�p tha nh�n bớt hay hết l�m điều
xấu, kể cả bằng c�ch l�n �n điều xấu
m� tha nh�n l�m, cho d� về ph�a tha nh�n, đặc biệt
khi kh�ng hề muốn từ bỏ điều xấu,
họ c� thể hiểu lầm m� cho l� t�i th� gh�t họ
khi t�i l�m vậy.
Với
những hạn chế
Tuy
cố gắng căn cứ tr�n những l� lẽ ch�nh
đ�ng, những cảm nghĩ của t�i thật ra
vẫn mắc nhiều hạn chế. Trước hết
tuy hợp l� ch�ng cũng chỉ l� những cảm nghĩ
của t�i về những việc l�m của ĐHY Phanxic�
Xavi� Nguyễn Văn Thuận ở dưới một v�i
kh�a cạnh kh�ch quan th�i chứ kh�ng phải l� tất
cả. T�i kh�ng c� khả năng cũng như kh�ng c�
quyền b�n đến sự th�nh thiện của c� nh�n
ng�i d� nh�n c�ch kh�ch quan. N�n ở tr�n t�i chỉ n�u l�n
cảm nghĩ d� dặt n�i chung th�i c� thể �p dụng
cho bất kỳ một ai kh�c kể cả ch�nh t�i. T�i
chỉ n�i về sứ mạng ng�n sứ của ĐHY
chứ kh�ng đụng đến những sứ mạng
chủ chăn kh�c của ng�i. Nhưng x�t như l� Linh
mục rồi Gi�m mục ng�i kh�ng phải được
gọi chỉ l�m ng�n sứ th�i nhưng c�n l�m tư
tế v� người cai quản
nữa. Rồi ngay cả khi n�i về sứ mạng
ng�n sứ t�i cũng chỉ hạn chế trong phạm vi
phẩm gi� con người v� c�ng l� x� hội x�t ở dưới
thể chế độc t�i to�n trị. Nhưng sứ
mạng ng�n sứ cũng l�m chứng cho nhiều lĩnh
vực kh�c. Một điều kh�ng thể phủ nhận
được đ� l� Thi�n Ch�a đ� v� đang l�m ph�t
sinh ra nhiều �ch lợi thi�ng li�ng ở nơi những
ai nghe hay đọc những g� m� ĐHY từng n�i về
l�ng tha thứ đối với kẻ th� v� về
niềm t�n th�c cậy tr�ng trong cảnh kh� khăn bế
tắc.
Rồi
những l� lẽ của t�i chống lại những �
kiến biện minh cho sự im lặng của ng�i cũng
chỉ nhắm đến kh�a cạnh kh�ch quan của
sứ mạng ng�n sứ đối với phẩm gi� con
người v� c�ng l� x� hội, nghĩa l� việc l�n
tiếng cho những gi� trị n�y x�t trong ch�nh bản
chất của n�. Nhưng t�i kh�ng thể biết
những ho�n cảnh kh�ch quan v� chủ quan li�n quan đến
sự im lặng của ng�i. T�i lại c�ng kh�ng biết
những � định, những chọn lựa c� nh�n
của ng�i li�n quan đến sự im lặng đ�. T�i
l�m sao biết được ng�i c� đau khổ trong l�ng
hay kh�ng đứng trước những � định v�
chọn lựa ấy, v� nếu c� đ� l� những đau
khổ n�o? T�i l�m sao biết được b�n cạnh
những đau khổ ấy ng�i c� c�n nu�i những ho�i
bảo, dự �n m� ng�i hy vọng những � định,
chọn lựa ấy một c�ch n�o đ� c� thể gi�p
ng�i thực hiện nhằm phục vụ Gi�o Hội CGVN
về một số mặt n�o đ�, v� nếu c� th�
đ� l� những ho�i b�o, dự �n n�o?
Với
đủ thứ hạn chế đ� n�u tr�n, những
cảm nghĩ của t�i d� hợp l� tới đ�u cũng
chỉ nhắm đến những việc l�m của ĐHY
nh�n dưới một �t kh�a cạnh kh�ch quan b�n ngo�i.
Nếu đem so s�nh với một bức tranh m� tả
việc l�m v� con người ng�i một c�ch to�n diện
d� chỉ dưới c�i nh�n kh�ch quan, th� những cảm
nhận của t�i chỉ l� một mảnh rất
nhỏ. Một mảnh nhỏ như thế lại c�ng kh�ng
n�i được ch�t g� về ch�nh bản th�n c� nh�n
hay con người b�n trong của ĐHY cũng như
về những ho�n cảnh trực tiếp ảnh hưởng
đến bản th�n ng�i. Điều trước th� t�i
kh�ng c� khả năng để biết v� c�ng kh�ng c�
quyền x�t đo�n, c�n những điều sau th� t�i
đơn giản chỉ l� kh�ng biết v� nếu c�
biết th� kh� m� biết đ�ch x�c.
2.
ĐẾN TIN TƯỞNG CẬY TR�NG
Tuy
nhi�n một v�i gi�y ph�t thinh lặng suy tư về ch�nh c�i
chết của ĐHY Phanxic� Xavi� Nguyễn Văn Thuận
cũng đủ để mở rộng l�ng t�i vượt
qua những cảm nghĩ vốn c� của m�nh về
những g� ng�i đ� l�m trong qu� khứ. C�i chết
của một con người kh�ng chỉ gợi lại
trong ta những ho�i niệm qu� khứ về người
ấy. N� cũng khiến ta đặt c�u hỏi về
sự hiện hữu của người ấy sau khi ly
trần. Người ấy nay đi về đ�u? Chưa
hết, c�i chết của người kh�c cũng nhắc
nhở ta về c�i chết của ch�nh m�nh. Ch�nh ta sẽ
đi về đ�u sau khi chết? Đối với
một t�n hữu C�ng Gi�o, những điều n�y gi�p v�n
m�n để nh�n qua một khung cửa sổ mới,
cửa sổ của niềm tin tưởng, của l�ng
cậy tr�ng v�o Thi�n Ch�a. Khung cửa sổ ấy hướng
c�i nh�n của ch�ng ta đến với Đấng duy
nhất c� quyền tr�n kẻ chết, Đấng duy
nhất thấu suốt mọi điều ẩn k�n trong l�ng
ch�ng ta, nhưng đồng thời cũng l� Đấng
gi�u l�ng thương x�t v� tha thứ đối với
những yếu h�n v� tội lỗi của ch�ng ta,
thừa khả năng giải tho�t v� đưa ch�ng ta vượt
l�n tr�n những bế tắc, ng� cụt của sự
dữ.
Nh�n
qua cửa sổ của tin tưởng v� cậy tr�ng kh�ng
nhất thiết phải khiến t�i quay lưng lại m�
phủ định những cảm nghĩ vốn c�
của t�i ở tr�n về những việc l�m của
ĐHY, nhưng mạnh mẽ nhắc nhở t�i về
những hạn chế bất to�n của ch�ng. D� c� đ�ng,
những cảm nghĩ đ� cũng chỉ đ�ng ở
dưới một số kh�a cạnh hạn hẹp, cũng
chỉ đ�ng trong một chừng mực n�o đ� th�i,
bởi lẽ ch�ng vẫn l� nh�n từ ph�a con người
hữu hạn. Do đ� nh�n qua cửa sổ của tin tưởng
v� cậy tr�ng khiến t�i kh�ng bị giam cầm đ�ng
k�n trong những cảm nghĩ của m�nh nhưng mở l�ng
ra đối với những g� m�nh kh�ng nh�n thấy hay kh�ng
c� thể nh�n thấy.
Nh�n
từ ph�a con người những cảm nghĩ của t�i
về những việc l�m của ĐHY mang những
giới hạn kh�ng chỉ của ri�ng t�i m� c�n l�
những giới hạn thuộc về khả năng
hiểu biết của bất kỳ con người n�o:
những giới hạn thuộc về mẫu số chung l�
người. Chỉ kh�ng c�n giới hạn khi n�o con người
v� việc l�m của ĐHY được nh�n từ ph�a
Thi�n Ch�a. V� đối với một t�n hữu C�ng Gi�o
th� được nh�n từ ph�a Thi�n Ch�a mới l� điều
đ�ng kể nhất, mới l� c�i nh�n m�i m�i c�n đ�,
kể cả sau khi mọi c�i kh�c qua đi. Con người
v� việc l�m của ĐHY Thuận c� nh�n từ ph�a Thi�n
Ch�a th� mới nh�n hết được v� mới
thực sự l� nh�n một lần sau c�ng cho m�i m�i.
D� t�i
biết r� t�i hơn người n�o kh�c biết t�i, th�
con người v� việc l�m của t�i được nh�n
như thế n�o từ ph�a Thi�n Ch�a cũng vẫn l�
một mầu nhiệm đối với ch�nh t�i. Nếu
thế th� con người v� việc l�m của một con
người kh�c như ĐHY Thuận được nh�n
như thế n�o từ ph�a Thi�n Ch�a c�ng l� một
mầu nhiệm cho t�i. Đ� l� một mầu nhiệm th�
hiểu biết kh�ng c�n c� chỗ th�ch hợp v� quan
trọng cho bằng tin tưởng v� cậy tr�ng. Hơn
nữa ngay cả những cảm nghĩ của t�i về
những việc l�m của ng�i m� t�i cho l� ph� hợp
với những x�c t�n v� l� lẽ kh�ch quan của Tin
Mừng cũng phải nhường chỗ ưu ti�n cho
một niềm tin tưởng v� l�ng cậy tr�ng thuần
t�y v�o c�i nh�n m� Thi�n Ch�a c� đối với đứa
con n�y của Người.
Cho n�n
con người v� việc l�m của ĐHY Thuận nh�n
từ ph�a Thi�n Ch�a t�i kh�ng hiểu được, kh�ng
biết được, cũng kh�ng cảm nhận
được. T�i chỉ tin tưởng v� cậy tr�ng v�o
l�ng thương x�t v� quyền năng của Thi�n Ch�a
đối với con người v� việc l�m của ng�i.
Cũng giống như t�i tin tưởng v� cậy v�o l�ng
thương x�t v� quyền năng ấy đối
với ch�nh t�i hay một ai kh�c. Sự khi�m hạ Kit� gi�o
gi�p mỗi người ch�ng ta tin tưởng rằng cho d�
nh�n từ ph�a con người những yếu h�n hay
hậu quả của tội lỗi, những bế
tắc, những thế kẹt, những ng� cụt xem ra kh�ng
c� thể gỡ ra hay t�ch khỏi con người v�
việc l�m của ch�ng ta, th� những c�i xấu n�y
vẫn kh�ng thể g�y kh� khăn cho khả năng
giải tho�t v� si�u thăng của l�ng thương x�t tha
thứ m� Thi�n Ch�a c� đối với ch�ng ta. Ngay cả
khi ch�nh ch�ng ta �t nhiều chịu tr�ch nhiệm cho
những c�i xấu đ�, th� kh�ng phải v� thế m� ch�ng
c� thể bắt chẹt được quyền năng
của l�ng thương x�t Người.
Tin tưởng
như thế kh�ng giải tho�t ch�ng ta khỏi những
cảm nhận đau khổ m� những c�i xấu đ�
c�ch n�y c�ch kh�c g�y ra nơi ch�ng ta nhưng đưa
đến sự cậy tr�ng an b�nh ngay ở giữa
những đau khổ ấy. ĐHY Thuận �t nữa l�
hai lần đ� đau khổ rất nhiều về
những bế tắc, đường c�ng trong cuộc
đời ng�i. Vừa mới được đặt l�m
ph� Tổng gi�m mục S�i G�n với biết bao hy vọng
v� dự �n c� sẵn th� bị bắt giam, quản th�c
suốt 13 năm. Vừa mới được tấn phong
Hồng Y với biết bao khả năng v� c�ng việc
sắp sửa c� điều kiện rất tốt để
thực hiện v� ho�n th�nh th� phải đối diện
với căn bệnh nan y ph�t triển v�o giai đoạn
bất trị. Hơn nữa những năm th�ng cuối
đời n�y c� lẽ đau khổ của ng�i kh�ng
phải chỉ c� thế! Nhưng t�i c� thể khẳng
định rằng ở giữa những đau khổ trước
kia hay sau n�y, ĐHY vẫn lu�n tin tưởng v�o quyền
năng của l�ng thương x�t m� Thi�n Ch�a d�nh cho con
người v� việc l�m của ng�i. Ng�i vẫn lu�n
cậy tr�ng v�o quyền năng của l�ng thương x�t
đ� như l� c�u trả lời sau c�ng v� � nghĩa
nhất cho cuộc sống v� những việc l�m của m�nh.
***
Sau
ng�y 16 th�ng 9 năm 2002 ĐHY Phanxic� Xavi� Nguyễn Văn
Thuận kh�ng c�n đau khổ như trước nữa v�
ng�i bắt đầu thấy r� r�ng từ ph�a c�i nh�n
của Thi�n Ch�a những hoa quả m� l�ng thương x�t
quyền năng của Người đ� v� đang
thực hiện tr�n con người v� c�ng việc của
ng�i. V� l�c n�y ĐHY đang thấy được r� r�ng
như thế, n�n c�i nh�n của ch�nh ng�i trước
đ�y về con người v� việc l�m của m�nh, hay
những cảm nghĩ n�i ở trước của t�i,
tất cả đều đ� để lộ ra ho�n to�n
bộ mặt thiếu s�t, bất to�n, v� tạm thời
của ch�ng. Những c�i nh�n hay cảm nghĩ đ� qua
đi m� kh�ng c�n để lại ngay cả một ch�t �
nghĩa đối với ng�i l�c n�y đ�y cũng như
m�i m�i về sau. �
Lễ
Kỷ niệm cung hiến hai Đền thờ Th�nh Ph�r�
v� Th�nh Phaol� 18/11/2002
Tổng Gi�o phận Hoa Thịnh Đốn