NHU CẦU TRỞ VỀ NGUỒN
v� TINH THẦN KHAI PH�NG
L.M. Cao Phương Kỷ
Sau gần một phần tư thế kỷ lưu lạc khắp nơi tr�n thế giới, người Việt nam sinh sống tại qu� hương hay tại ngoại quốc, đều cảm thấy nhu cầu cần phải t�m về cỗi nguồn của d�n tộc. Đ� l� ho�i b�o, ước vọng thầm k�n nhất vẫn ấp ủ trong t�m hồn mỗi người d�n Việt, v� từ ng�n xưa c�u ca dao: UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN, lu�n truyền miệng cho con ch�u hết đời nọ đến đời kia. Đặc biệt sau biến cố lịch sử năm 1975, phong tr�o trở về nguồn ở hải ngoại cũng như quốc nội đang rầm rộ ph�t khởi m�nh liệt hơn hết mọi giai đoạn lịch sử nước nh�. Thật vậy, - Tại Hải Ngoại - như tại Hoa kỳ, việc Hội Nhập v�o Văn h�a địa phương gặp nhiều trở ngại, kh� khăn , c�n cần một thời gian l�u d�i mới c� thể h�a đồng v�o x� hội mới; mặt kh�c, mỗi sắc tộc được khuyến kh�ch bảo tồn lấy căn t�nh, tinh hoa của m�nh. Do đ�, c�c trường dạy Việt Ngữ, Văn H�a Việt Nam được khai giảng khắp nơi. Một số s�ch b�o nghi�n cứu về nguồn gốc văn h�a d�n tộc như �TRỐNG ĐỒNG �., Ca Dao Tục ngữ�xuất bản, với chủ đ�ch x�y dựng một căn t�nh văn h�a đặc th� của d�n tộc Việt Nam, kh�c với c� t�nh của c�c chủng tộc kh�c.- Tại Quốc nội- v� thuyết M�c-L�-Mao đ� bị ph� sản tr�n ch�nh trường quốc tế, n�n c�i gọi l��x� hội chủ nghĩa�, tại qu� nh�, đ� đổ vỡ, tan t�nh. Hơn nữa, c�c đồng ch� của Mao vẫn �chứng n�o tật ấy�, gần đ�y đ� th�n t�nh đất, biển của tổ ti�n ch�ng ta để lại cho con ch�u..; do đ�, qua dư luận s�ch b�o xuất bản gần đ�y, một số học giả c�n gắn b� với n�i gống Lạc Hồng, đ� �Trở về Nguồn�, bằng c�ch khảo cổ, sưu tầm những truyền thống tinh hoa, đặc th� của d�n tộc, vừa kh�c biệt vừa độc lập với Bắc phương.
Phong Tr�o �Trở về Nguồn� thật đ�ng kh�ch lệ, minh chứng cho thế giới biết : d�n tộc Việt Nam đ� c� một nền Văn H�a rất kỳ cựu, v� độc lập, tuy vẫn h�a hợp v� giao lưu với c�c nền văn h�a kh�c.
Nhưng ch�ng ta cũng cần cảnh gi�c v� đề ph�ng những lập trường qu� kh�ch, lạc hậu, nhằm b�i x�ch c�c nền văn minh , văn h�a hay t�n gi�o của to�n cầu , hoặc mơ mộng trở về với nếp sống thời Trung cổ (1010-1300.. đời L�-Trần), hay cổ động cho một thứ �đạo sống Việt�(?), nhưng loại bỏ yếu tố �T�M LINH� như �Đạo Thờ TRỜI�v� �Hồn thi�ng bất tử� trong Văn H�a Việt Nam. Những chủ trương n�y đi ngược lại tr�o lưu tiến bộ v� tinh thần KHAI PH�NG của d�n tộc Việt Nam, trải qua bao thăng trầm lịch sử, đ� biết c�ch hội nhập, tiếp thu v� th�ch nghi một c�ch H�i H�a với mọi ho�n cảnh , với Bắc Phương, hay với T�y Phương, để sinh tồn v� vươn l�n.
Bởi vậy, trong b�i thảo luận n�y, xin chia ra hai đề mục: I/ Nhu Cầu Trở Về Nguồn; II/ Tinh Thần Khai Ph�ng của D�n Tộc Việt Nam.
I. NHU CẦU TRỞ VỀ NGUỒN
Nhu cầu trở về nguồn , cũng l� � nghĩa c�u tục ngữ:�chim c� tổ, người c� t�ng�. C� thể một l�c n�o đ�, một c�ch bất ngờ, con ch�u ch�ng ta sẽ hỏi �ng b�, cha mẹ: Tổ ti�n m�nh l� ai? Tại sao giađ�nh m�nh đến ở đ�y?(Mỹ, Ph�p, Uc, T�y�) n�i giống m�nh l� g�? Văm minh hay mọi rợ? C� văn h�a g� kh�ng? ..V� nhiều phụ huynh sẽ rất ngỡ ng�ng, bối rối kh�ng biết trả lời ra sao. Do đ�, một c�ch tổng qu�t, ngắn gọn, cần l�m s�ng tỏ những thắc mắc như: 1/ Tổ ti�n người Việt thuộc chủng tộc n�o? 2/ Nền Văn H�a n�o? 3/ Những đặc t�nh của nền văn h�a đ� như thế n�o? Đời sống t�m linh, tinh thần, gia đ�nh, x� hội, sinh hoạt kinh tế l�m sao?...
1. Người D�n Việt Từ Đ�u Đến?
Về nguồn gốc d�n Việt đ� c� nhiều giả thuyết đặt ra. Ở đ�y chỉ xin t�m lược một v�i điểm quan trọng. Đại kh�i, c� hai giả thuyết gần như tr�i ngược nhau. Một giả thuyết được c�c nh� khảo cổ trước thế chiến II chủ xướng cho rằng: gốc t�ch người Việt ph�t xuất từ một miền n�o đ� của Trung Hoa. V� thế, x�t về chủng tộc cũng như về văn h�a đều phụ thuộc v�o người T�u, v� kh�ng c� một nền văn h�a ri�ng biệt, độc lập với H�n tộc. Gần đ�y, đặc biệt sau c�c cuộc sưu tầm, khảo cổ, giả thuyết tr�n đ� kh�ng đứng vững v� cần bổ t�c. Ng�y nay, nhiều nh� khảo cổ danh tiếng đ� t�m thấy những cổ vật như: Trống Đồng miền Đ�ng Sơn (Thanh H�a), những chiếc �R�u�(phủ Việt) rải rắc khắp miền Nam S�ng Dương Tử ,từ Thượng Hải đến c�c Hải Đảo thuộc mạn Nam-Th�i B�nh Dương, rồi họ đi đến kết luận l�: v�o thời cổ, trong miền đất m�nh m�ng đ�, đ� sinh sống một chủng tộc đ�ng đ�c gọi l� B�ch Việt, đặc biệt c� chủng Lạc Việt, sau n�y trở th�nh tổ ti�n của d�n tộc Việt Nam. Lịch sử Trung Hoa cũng chứng minh: H�n tộc , sau n�y trở th�nh d�n T�u, đ� từ ph�a T�y tiến về ph�a Đ�ng, v� từ ph�a Bắc tr�n xuống miền Nam để x�m chiếm c�c sắc d�n B�ch Việt v� đồng h�a họ v�o với H�n tộc, chỉ trừ sắc d�n LẠC VIỆT kh�ng chịu th�n t�nh, đ� tiến xuống miền cực Nam, để lập ra một Nước độc lập, gọi l� Văn Lang, do Vua Việt cai trị ch�nh l� H�ng Vương.
Đ�y l� truyền thuyết x�c thực, v� từ đời Vua H�ng cho đến ng�y nay, người d�n Việt hằng năm vẫn nhớ ng�y �Giỗ Tổ H�ng Vương�, gọi l� ng�y �Trẩy Hội Đền H�ng �:
D� ai bu�n b�n đ�u xa
Nhớ ng�y Giỗ Tổ : th�ng Ba mồng Mười
HoặcD� ai đi ngược về xu�i
Nhớ ng�y Giỗ Tổ: Mồng Mười th�ng Ba
Mộ Quốc Tổ Vua H�ng ở n�i Hy Cương. Đền H�ng được x�y tr�n ngọn n�i Nghĩa Lĩnh Sơn, hay H�ng Sơn ( thuộc phủ L�m Thao, tỉnh Ph� Thọ, Bắc Việt Nam).( Ch� th�ch: c� nhiều giả thuyết về ni�n đại th�nh lập nước Văn Lang của Vua H�ng; giả thuyết c� thể tin được l� v�o khoảng thế kỉ thứ 7 trước C�ng Nguy�n (B.C) ; v� năm 257 trước B.C th� nước Văn Lang bị Thục An Dương Vương th�n t�nh. Tất cả c� 18 đời H�ng Vương. Kinh đ� cũng gọi l� Văn Lang, thuộc v�ng n�i Phong Ch�u ( huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Y�n ng�y nay)
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đ�n Gi�o D�n số 18 th�ng 4/2003 trang 53)