X� L�NG V� X� �O
Phạm Minh-T�m
M�a Chay đ� trở lại trong t�m-linh t�n-hữu. Đ�y l� m�a s�m-hối h�ng năm vẫn đều đặn xoay tr�n theo v�ng thời-gian v� sấm-ng�n của ti�n-tri Gi�-r�-mi-a loan b�o xưa kia lại được nhắc đến trong kinh-nguyện phụng-vụ, trong c�c b�i giảng, trong c�c lời suy-niệm tĩnh-t�m v� nhiều nhất l� trong c�c � nguyện cầu. "Đ�y l� sấm-ng�n của Ch�a: c�c ngươi h�y ăn chay, kh�c-l�c, r�n-siết m� hết l�ng trở về với Ta. Anh em h�y x� n�t t�m-hồn chứ đừng x� �o. H�y trở về với Thi�n-Ch�a l� Ch�a của anh em; bởi v� Người nh�n-hậu từ-bi, nhẫn-nại v� giầu �n-nghĩa, thường bỏ � định gi�ng phạt" (Ge 2, 12-13). V� cứ thế, đo�n lữ-h�nh đức-tin đ� tiếp nối bước đều tr�n lộ-tr�nh rao giảng suốt hai mươi thế-kỷ nay v� rồi vẫn c�n bước m�i cho đến ng�y chung-thẩm.
Đ� đ�nh rằng s�m-hối l� một trong những điều-kiện sống c�n để nu�i dưỡng phần nội-t�m của từng t�n-hữu khi đ� tin theo bất kỳ một t�n-gi�o n�o theo kiểu �ng� nhật tam tỉnh ng� th�n� của Đức Khổng Phu-tử chẳng hạn; song người C�ng-gi�o lại c�n được đ�i hỏi thực-hiện h�nh-động n�y chặt chẽ v� nghi�m-t�c hơn nữa với kinh c�o m�nh, kinh ăn năn tội đọc h�ng ng�y; với b�-t�ch giải-tội v� hai m�a phụng-vụ quan-trọng l� M�a Vọng v� M�a Chay.Thế nhưng trong hai thi�n-ni�n kỷ qua, h�nh như chưa c� một thời-điểm n�o Hội-th�nh tuy�n-dương l� ch�ng ta đ� trưởng-th�nh đủ trong đức tin, m� ngược lại vẫn l� lu�n lu�n cảnh-tỉnh cộng-đo�n t�n-hữu phải ăn-năn s�m-hối, phải canh-t�n đời sống m�nh v� h�a-giải với Thi�n-Ch�a. Điều n�y n�i l�n rằng Gi�o-l� v� lu�n-l� Ki-t� gi�o chưa đan-kết được trong t�m-hồn mỗi người tin một chuỗi những gi�-trị nh�n-bản thiết-thực; nhất l� người tin chưa cảm-nghiệm được nhiều kinh-nghiệm sống giữa đời bằng nền lu�n-l� n�y, một nền lu�n-l� ho�n-to�n kh�ng ch�t n�o đi ngược lại nếp sống phẩm hạnh v� nh�n-nghĩa. Vậy th� phải chăng l� t�m-hồn người ta c�n qu� chai cứng với t�nh c�-nh�n hạn-hẹp v� l�ng dạ thực sự c�n kh�p k�n trong c�i t�i, c�i ta qu� lớn đến độ l�m khuất lấp đi b�ng c�y thập gi� khổ-nạn của Thầy m�nh.
V�o mỗi ng�y Thứ Tư Lễ Tro hằng năm, người ta tấp-nập nối đu�i nhau đến trước linh-mục chủ-tế để c�i đầu nhận một ch�t tro tượng-trưng tr�n tr�n. Song chẳng hiểu c�u nhắn gửi của Hội-th�nh qua vị linh-mục đem đến cho từng người khi nhận tro l� "h�y hối cải v� tin v�o Tin-mừng" c� được in s�u trong t�m-tr� hay �t ra cũng t�c-động được suốt M�a Chay hay lại sẽ vội bay theo ch�t bụi tro vừa được quệt nhanh tr�n da mặt m� c� nhiều người lại chỉ nghĩ đơn-giản rằng đ� cũng l� một dịp để được ơn thi�ng, được ph�c l�nh.
L� một Ki-t� hữu, nếu ch�ng ta chỉ giữ đạo "cầm chừng" kiểu đọc kinh xem lễ theo luật buộc; giữ c�c giới răn v� gi�o-luật c�ch nửa vời để phần c�n lại bắt Ch�a phải th�ng-cảm; giữa Tin-mừng v� cuộc sống kh�ng c� ảnh-hưởng g� đến nhau n�n cũng chẳng thực-thi được điều n�o trong nền lu�n-l� v� gi�o-l� th� sao đủ l�m th�ng bột nh�n-gian dậy men để Nước Cha được trị đến. V� t�nh-trạng n�y sẽ m�i m�i lẩn-khuất đ�u đ� trong những c�i t�i �o bền chặt kh� x� hoặc qu� đẹp n�n kh�ng cần x�.
Gi�o-hội C�ng-gi�o l� một gi�o -hội dấn-th�n v� phục-vụ. Tr�n nguy�n-tắc phải hiểu th� sự dấn-th�n n�y th�c-đẩy người tin cần đến bất cứ nơi n�o c� anh em đồng-loại đang đau-khổ, đang g�nh chịu bất c�ng, bị đ�n-�p v� bị tước-đoạt hết những nhu-cầu căn-bản của con người; trong đ� c� nhu-cầu t�m-linh thiết-yếu. Tuy nhi�n th�i-độ dấn-th�n của mỗi c�-nh�n trong thực-tế kh�ng nhất thiết bao-h�m qu� nhiều �-niệm như tr�n, m� chỉ cần những chia sẻ nho nhỏ trong phạm-vi cuộc sống h�ng ng�y nơi những m�i-trường giao-tiếp kh�c nhau hoặc những cố gắng ứng-xử với mọi người trong nghĩa t�nh huynh-đệ.
� nghĩa hai chữ "C�ng-gi�o" l� ở sứ-mạng n�y, l� t�n gọi của tập-thể những người tin theo Đức Gi�-su v� được Lời Người quy-tụ dưới sự hướng-dẫn của những người kế-vị c�c t�ng-đồ. Tập-thể n�y đồng-t�m nhất-tr� với nhau trong c�ng một đức tin, một đức cậy v� m�t đức mến, đuợc c�c b�-t�ch th�nh-h�a để c�ng nhau x�y-dựng cuộc sống tại-thế trong li�n-hệ huynh-đệ b�c-�i đang khi chờ đợi Thi�n-Ch�a ho�n-tất c�ng-tr�nh cứu-độ của Người.
Vậy Hội-th�nh C�ng-gi�o bao gồm mọi th�nh-phần nh�n-loại thuộc mọi chủng-tộc v� giai-cấp trong điều-kiện tin nhận Tin-mừng Đức Ki-t� Phục-sinh v� qua B�-t�ch Rửa tội để th�nh Ki-t� hữu trong cộng-đo�n D�n Ch�a, dưới quyền cai-quản của Đức Th�nh Cha v� h�ng Gi�m-mục. Th�nh ra một người d� đ� mặc �o Ph�p Rửa m� l�ng kh�ng hiệp-th�ng với Hội-th�nh C�ng-gi�o th� vẫn kh�ng được kể l� t�n-hữu thực-thụ. Đ�y l� n�t đặc-th� để ph�n-biệt Gi�o-hội C�ng-gi�o giữa cộng-đồng anh em Ki-t� gi�o (Christianism) tr�n to�n thế-giới. Hai chữ �C�ng Gi�o� l� dịch từ chữ Katholikos của Hy-lạp c� nghĩa l� chung, l� phổ-cập, l� lan rộng khắp nơi. Từ nghĩa n�y, đạo C�ng-gi�o l� đạo chung cho mọi người ở khắp nơi. Trong thư gửi cho gi�o-đo�n Smyrne năm 110, th�nh I-nha-xi-o đ� d�ng từ-ngữ n�y để nhấn mạnh đến t�nh to�n-cầu của Hội-th�nh v� đến giữa thế-kỷ thứ 3 v� 4, th�nh �u-tinh d�ng để ph�n-biệt Hội-th�nh ch�n thật với một số b� rối nổi l�n l�c bấy giờ. Bởi vậy, song song với cuộc sinh-hoạt đức tin, mỗi g�ao-d�n phải �-thức r� bồn-phận sống niềm tin của m�nh để t�n-trọng v� thẳng thắn bảo-vệ sự trong s�ng của �-nghĩa nguy�n-thủy n�y để dấn-th�n phục-vụ; để kh�ng lệch-lạc hay l�ng-t�ng khi bị g�n gh�p hạn hẹp v�o trong một v�i luận-điệu xuy�n-tạc giới-hạn bởi những phe, những nh�m tương-tranh quyền-lực của một quốc-gia để rồi nhiều khi ngay cả việc nhận-diện ch�nh m�nh cũng để m� mơ, kh�ng ch�nh-x�c.
Nhưng để sống đ�ng được sứ-mạng cao cả n�y, ch�ng ta lu�n phải nhờ v�o Tin-mừng như một lực linh-hướng duy-nhất để được l�i k�o, để được th�c đẩy m� kh�ng sợ lầm đường. Tin-mừng cũng l� c�ch thế tuyệt-đối an-to�n để người tin mạnh dạn x� l�ng ra từng mảnh m� kh�ng ngại bị n�t tan hay đau x�t. C� chăng chỉ l� khi niềm tin của ch�ng ta chưa vững đủ để th�nh-thật khi�m-cung v� kh�ch-quan ngay với ch�nh nội-t�m m�nh trong tư-thế đối-thoại m� kh�ng phải l� độc-thoại chủ-quan.
C� lẽ từ trước đến nay, ch�ng ta chỉ h�ng hổ x� �o m�nh v� chủ-quan với ch�t đạo-đức hời hợt như vết tro đen vị linh-mục nhẹ tay điểm tr�n tr�n ta. Th�nh ra, �nh s�ng của Ch�a Ki-t� rọi qua Tin-mừng c�ng ch�i th� định-mệnh con người lại c�ng thấy đen tối. Sở dĩ c� điều xem ra như nghịch-l� n�y l� tại con người thời-đại ch�ng ta đ� đ�nh mất hơi nhiều t�nh ch�n-phương v� trong s�ng của t�m-hồn để tự hướng đời m�nh theo một nếp sống được mệnh danh l� "tự tr�ch-nhiệm v� l�m chủ đời sống". N�i như vậy kh�ng phải l� ch�ng ta đ� đủ mạnh, đủ kh�n ngoan, hay ho, t�i giỏi m� chỉ l� một c�ch n� tr�nh tu�n-thủ những nguy�n-tắc đạo-đức cần c� khi thường xuy�n đối-thoại trong một thế h�a-giải với Thi�n-Ch�a v� th�m v�o đ� ch�nh l� tự bu�ng thả theo sự ph�ng t�ng của bản-năng v� đam-m� nhiều nỗi như sắc dục, tiền t�i, quyền-lực, danh-vọng v� c�c th�i quen hưởng-thụ. Ch�ng ta đ� t�nh-to�n v� quanh co với cả Thi�n-Ch�a v� h�nh như ch�ng ta cũng thường xuy�n kh�ng th�nh-thật lu�n với ch�nh bản th�n m�nh th� l�m sao c� thể tự x� n�t l�ng m�nh ra th�nh trăm mảnh m� t�m cho ra những bất-to�n, v�-dụng. C� x� n�t l�ng ra từng mảnh nhỏ mới thấy được hết những u-ẩn, những yếu đuối của bản-ng�, thấy "c�i t�i" h�n k�m, cầu an một c�ch �ch-kỷ của m�nh đang rất cần Thi�n-Ch�a soi t�nh thương đến.
Đức Th�nh Cha Phao-l� đệ lục khi suy-niệm về sự chết đ� viết "T�i lại tự hỏi : tại sao Ch�a lại chọn t�i, tại sao Ch�a đ� gọi t�i l� một con người qu� ư vụng-về, ngoan-cố, n�ng-cạn, hẹp h�i? T�i biết Ch�a đ� chọn những g� l� yếu đuối trong thế-gian để kh�ng một ai d�m tư-phụ trước mặt Người (1 Cr 1, 28). Sư kiện t�i được chọn l�m Gi�o-ho�ng đ� chứng-tỏ hai điều: một l� sự h�n mọn của t�i v� hai l� sự tự-do của Ch�a, một sự tự-do đầy nh�n-từ v� mạnh-mẽ. V� l�ng nh�n-từ của Ch�a đ� kh�ng ngừng lại trước những bất-trung, trước sự khốn c�ng của t�i v� ngay cả trước khả-năng bội-phản của t�i đối với Ch�a nữa". Phải chăng đ�y ch�nh l� một kinh-nghiệm rất cụ-thể trong đức tin l� những người c�ng cao trọng th� c�ng khi�m-cung tự-hạ hoặc ngược lại ch�nh v� họ c� t�m-hồn thực-sự khi�m-tốn, tự cho m�nh l� nhỏ nhoi bất to�n m� đ� được Thi�n-Ch�a n�ng l�n địa-vị cao t�n.
(�c Ch�u)