Phải Chăng CH�A GI�SU C�N C� NHIỀU ANH EM KH�C NỮA?
Nguyễn Xu�n T�ng
(tiếp theo số 22)
II- ĐỨC GI�SU L� CON DUY NHẤT CỦA ĐỨC TRINH NỮ MARIA:
Theo bản t�nh lo�i người, Ch�a Gi�su Kit� c� một người mẹ l� Đức Trinh Nữ Maria. Vậy vấn đề đặt ra ở đ�y l� nếu những ai kh�ng tin Đức Gi�su l� Con Thi�n Ch�a v� l� Thi�n Ch�a thật th� họ muốn bắt bẻ, xuy�n tạc, hiểu v� giải th�ch Kinh Th�nh thế n�o theo � kiến ri�ng tư l� quyền tự do của họ, v� họ sẽ phải chịu tr�ch nhiệm về việc xử dụng quyền tự do bừa b�i đ�! C�n nếu ch�ng ta tin v�o Thi�n Ch�a to�n năng, đ� dựng n�n trời đất vũ trụ, mu�n lo�i mu�n vật, v� muốn cứu độ lo�i người bằng mọi gi�. Th� khi sai Con xuống thế l�n người để cứu độ nh�n loại, đương nhi�n Thi�n Ch�a phải quan ph�ng, sắp xếp, lựa chọn cho Con của m�nh c� một người Mẹ to�n hảo, tinh tuyền, kh�ng vương l�y tội lỗi, giống như b�ng sen trắng ngần, tỏa hương thơm ng�t, gần b�n m� chẳng h�i tanh m�i b�n, để người mẹ đ� xứng đ�ng l� mẹ Con-Thi�n-Ch�a-L�m-Người! Nếu kh�ng l�m được như vậy th� Thi�n Ch�a đ�u phải l� Thi�n Ch�a, l� Nguy�n nh�n Đệ Nhất, l� Chủ Tể Vũ Trụ, l� Đấng Quyền Năng Hằng Hữu, đ�ng cho ta y�u mến T�n Thờ!
V� như vậy, vấn đề c� thể kết th�c ở đ�y. Nhưng Đức Tin sống động lu�n lu�n được hỗ trợ bằng l� tr�, nếu kh�ng như thế th� niềm tin nhiều khi chỉ l� m� t�n dị đoan! Do đ�, ch�ng ta n�n tr�nh b�y th�m dữ kiện để l�m s�ng tỏ vấn đề, kh�ng phải để thuyết phục người kh�ng tin, m� l� để người tin củng cố Đức Tin của m�nh, kh�ng bị xao động, lung lay, trao đảo trước những chứng cứ ngụy tạo, v� những lập luận mơ hồ, xuy�n tạc c� �c �!
Trước khi tr�nh b�y tiếp vấn đề, thiết tưởng n�n n�i sơ qua về Kinh Th�nh. Vậy Kinh Th�nh l� g�?
Kinh Th�nh l� một bộ s�ch gồm nhiều s�ch kh�c nhau, do nhiều t�c giả kh�c nhau thuộc nhiều thời đại viết dưới sự Linh Hứng của Ch�a Th�nh Thần, l� Ng�i Ba Thi�n Ch�a v� l� Ch�nh Thi�n Ch�a. Viết dưới ơn Linh Hứng v� được c�c giới chức c� thẩm quyền của Gi�o Hội thời đ� c�ng nhận l� s�ch c� Linh Hứng, đ� l� hai yếu tố căn bản, cốt l�i của Kinh Th�nh. Thiếu một trong hai yếu tố n�y, s�ch kh�ng thể được gọi l� Kinh Th�nh ! Ơn Linh Hứng l� g�?
Ơn Linh Hứng hay Ơn Linh Ứng l� ơn Thi�n Ch�a soi s�ng cho t�c giả viết đ�ng những điều Thi�n Ch�a muốn gửi gấm đến nh�n loại mọi nơi, mọi thời đại, để những ai t�m hiểu những điều đ� th� nhận biết Thi�n Ch�a, tin v�o Thi�n Ch�a v� được Ơn Cứu Độ, được c� sự sống đời đời. Ơn Linh Hứng kh�ng l�m mất tự do của người viết. Thi�n Ch�a kh�ng đọc ch�nh tả cho t�c giả viết Kinh Th�nh, do đ� t�c giả vẫn c� tự do, thoải m�i viết theo văn phong, văn c�ch của m�nh v� tr�nh độ kiến thức sẵn c� của m�nh, nhưng qua đ� Thi�n Ch�a đ� kh�o l�o Linh Hứng, sắp xếp, g�i đặt những Sứ Điệp của Ng�i v�o nội dung bản văn của t�c giả để gửi Th�ng Điệp của Ng�i đến cho nh�n loại. Do đ�, Th�ng Điệp của Ng�i c� khi l� ch�nh bản văn hiểu theo mặt chữ, c� khi tiềm ẩn s�u k�n trong bản văn trần tục theo ng�n ngữ nh�n loại. Ơn Linh Hứng bảo đảm kh�ng sai lầm về những ch�n l� ban sự sống h�m chứa trong c�c bản văn chứ kh�ng bảo đảm về những sự kiện đ�ng sai về mặt văn h�a, lịch sử, khoa học, x� hội, phong tục tập qu�n v.v... Do đ� Kinh Th�nh kh�ng phải l� một s�ch dạy về khoa học, lịch sử, x� hội! Người đọc cần c� th�i độ khi�m tốn, cầu học, ham chuộng ch�n l� v� mở rộng t�m hồn để đ�n nhận Sứ Điệp từ trời cao th� mới mong t�m được dấu vết Thi�n Ch�a ẩn t�ng trong đ�, v� mới hy vọng được Thi�n Ch�a đo�i thương, mở l�ng mở tr� để l�nh hội được Thi�n � trong Kinh Th�nh. Lại phải tinh tế nhận định, chịu kh� tra cứu c�c ghi ch�, ch� giải, b�nh giảng Th�nh Kinh của c�c nh� chuy�n m�n c� uy t�n, hoặc phải c� người hướng dẫn mới mong thấu đ�o Kinh Th�nh! Cung O�n Ng�m Kh�c, Truyện Kiều l� hai t�c phẩm mới c� v�i trăm năm m� nếu kh�ng đọc phần ch� giải ch�ng ta cũng đ� kh�ng hiểu t�c phẩm đến nơi đến chốn, phương chi l� Kinh Th�nh đ� c� sớm nhất từ 3800 năm, v� những s�ch muộn thời nhất th� cũng đ� c� từ 1900 năm nay, v� lại được viết bằng ng�n ngữ, văn h�a, lịch sử, phong tục, tập qu�n ho�n to�n kh�c biệt v� xa lạ với ch�ng ta, th� c�n kh� hiểu đến chừng n�o! Do đ� dễ g�y ngộ nhận, hiểu lầm v� dẫn đến ph� ph�n thi�n lệch, nếu kh�ng cẩn trọng khi đọc v� kh�ng c� người hoặc s�ch vở, t�i liệu đ�ng đắn hướng dẫn: �Thi�n Thần Ch�a n�i c�ng Phil�p: �H�y chỗi dậy v� đi về hướng nam, theo đường Gi�rusalem xuống Gaza, l� con đường vắng người�. �ng chỗi dậy ra đi. V� n�y, một người gốc �, hoạn quan quyền thế của Kan-đa-k�, nữ ho�ng d�n �, đang cai tất cả kho b�u của nữ ho�ng. Ong đi l�n Gi�rusalem chầu lễ. Ong đang tr�n đường về v� ngồi tr�n xe, �ng đọc s�ch Ti�n Tri Isaia. Thần Kh� n�i với Phil�p: �Tiến lại s�t xe ấy!� Chạy lại, Phil�p nghe �ng ấy đọc ti�n tri Isaia, th� n�i: �Ng�i c� hiểu điều Ng�i đọc kh�ng?� �ng n�i: �Tiện nh�n l�m sao hiểu nổi, họa chăng l� c� người vui l�ng chỉ gi�o!� (C�ng Vụ T�ng Đồ 12,26-31).
Kinh Th�nh trước khi được viết th�nh s�ch th� đ� được truyền tụng bằng miệng v� được khắc ghi trong t�m khảm d�n Ch�a (people of God) từ l�u đời, được truyền tụng qua những c�u chuyện kể trong gia đ�nh, nơi lữ qu�n, trong Hội Đường, dưới gốc vả, l�c đi đường, quanh bờ giếng ngo�i cổng l�ng v.v... rồi sau đ� nhiều đời, nhiều thế hệ, mới dần dần được ghi lại th�nh s�ch v� được Gi�o Hội c�ng nhận l� S�ch Th�nh. Cho n�n đ� c� thời, c� Gi�o Hội m� chưa c� Kinh Th�nh, hay n�i đ�ng hơn chỉ mới c� Kinh Th�nh truyền khẩu, Kinh Th�nh bất th�nh văn, Kinh Th�nh được ghi nhớ trong t�m khảm của những ai tin v�o Thi�n Ch�a, v� được kể đi kể lại cho nhau v� cho con ch�u nghe từ đờo n�y đến đời kh�c để c�ng nhớ, c�ng tin, c�ng gi�p nhau thi h�nh luật điều Thi�n Ch�a.
Kinh Th�nh chỉ ghi ch�p những điều cốt thiết của mạc khải chứ kh�ng ghi ch�p �to�n bộ mạc khải của Thi�n Ch�a cho lo�i người� như c�u kết Ph�c Am thứ tư của Th�nh Gioan đ� minh x�c: �Ch�nh m�n đồ ấy l�m chứng về mọi điều v� đ� viết ra, v� ch�ng t�i biết rằng chứng của �ng l� chứng x�c thực. C�n lắm điều kh�c, Đức Gi�su đ� l�m, nếu viết lại từng điều, th� thiết tưởng thế gian kh�ng đủ chỗ m� chứa s�ch viết ra!� (Gioan 21,24-25).
Những điều mạc khải kh�ng viết ra trong Kinh Th�nh l� TRUYỀN THỐNG C�C T�NG ĐỒ (The Apostolic Tradition) hay c�n gọi l� TH�NH TRUYỀN, vẫn c�n đang được giữ g�n, bảo quản, lưu truyền trong Gi�o Hội C�ng Gi�o v� T�ng Truyền; kế thừa địa vị Thủ L�nh c�c T�ng Đồ của Ph�r� với quyền cầm buộc, th�o cởi; quyền chăn dắt c�c chi�n con v� cừu mẹ; quyền giảng dạy ch�n l�. Do đ�, ở đ�u c� Ph�r� th� ở đ� mới c� Gi�o Hội, hiểu theo nghĩa to�n hảo. Gi�o Hội C�ng Gi�o coi �Truyền Thống c�c T�ng Đồ� c� gi� trị như Kinh Th�nh v� ch�nh l� kho t�ng mạc khải của Thi�n Ch�a kh�ng viết trong Kinh Th�nh! Cho n�n chỉ c� thể hiểu to�n bộ mạc khải của Thi�n Ch�a nếu kết hợp cả Th�nh Kinh v� Th�nh Truyền, c�n nếu chỉ căn cứ v�o Th�nh Kinh kh�ng th�i th� chưa đủ, v� v� thế kh�ng thể hiểu trọn vẹn mạc khải được!
Ch�a Gi�su-Kit� trước khi về trời - kh�ng c�n hiện diện trong x�c ph�m như trước nữa - đ� n�i với c�c T�ng Đồ: �Mọi quyền năng tr�n trời dưới đất được ban cho Ta. Vậy c�c ngươi h�y đi th�u nạp m�n đồ khắp mu�n d�n, thanh tẩy ch�ng nh�n danh Cha v� Con v� Th�nh Thần, dạy ch�ng hết mọi điều Ta đ� truyền cho c�c ngươi. V� n�y, Ta sẽ ở với c�c ngươi mọi ng�y cho đến tận thế.� (M�tth�u 28,18-20). M� trong c�c m�n đồ đ� th� Ph�r� l� thủ l�nh, do đ� Ph�r� v� những Đấng kế vị Ph�r� l� Th�y dạy ch�n l� tối cao trong Gi�o Hội, cho n�n mỗi khi c� kh�c mắc về Ch�n L� Mạc Khải, Kinh Th�nh, th� Ph�r� l� tiếng n�i tối hậu chứ kh�ng phải ai muốn hiểu v� giải th�ch Th�nh Kinh thế n�o t�y �! Đ� l� điểm kh�c biệt cốt l�i giữa Gi�o Hội C�ng Gi�o v� c�c Gi�o Hội của anh chị em Tin L�nh. Tuy nhi�n, Kinh Th�nh C�ng Gi�o v� Kinh Th�nh Tin L�nh n�i chung kh�ng c� g� kh�c biệt nhau lắm, c� bản hai b�n c�ng hợp dịch v� d�ng chung như bản Bible Jerusalem, chỉ c� c�ch hiểu v� giải th�ch Kinh Th�nh th� c� những chỗ kh�c biệt như đ� tr�nh b�y. Nhưng đối với một số Gi�o Ph�i như �Gi�o Ph�i Nh�n Chứng Gi�h�va� th� phải coi chừng, v� đ�i khi họ tự � sửa lại Kinh Th�nh cho ph� hợp với quan điểm v� lối suy diễn ri�ng tư của họ, cho n�n cần phải đối chiếu Kinh Th�nh của họ với những bản Kinh Th�nh c� uy t�n, chứ kh�ng thể đơn thuần căn cứ v�o bản Kinh Th�nh của ri�ng họ để hiểu Kinh Th�nh v� b�n giải Kinh Th�nh được!
Sau khi đ� ph�n biệt như vậy, ch�ng ta tiếp tục l� giải về trường hợp Ch�a Gi�su l� con trai đầu l�ng, duy nhất của Đức Trinh Nữ Maria. V� Đức Trinh Nữ Maria kh�ng c�n c� người con n�o kh�c, trước v� sau khi sinh Đức Gi�su:
2.1-Trinh Nữ Maria l� người đ� được tiền định l�m mẹ Ch�a Cứu Thế trong Tin Mừng nguy�n thủy (Khởi Nguy�n 3,15) v� sau đ� đ� được Ti�n Tri I-sai-ia loan b�o 740 năm trước Ch�a gi�ng sinh: �Đức Ch�a sẽ cho c�c ngươi một dấu lạ: N�y, Trinh Nữ sẽ thụ thai, v� sinh một Con Trai, v� B� sẽ gọi t�n con l� Em-ma-nu-el.� (I-sai-ia 7,14). Lời ti�n b�o n�y đ� được �p dụng cho Trinh Nữ Maria trong Ph�c �m Th�nh M�tth�u, khi Thi�n Thần Ch�a đoan quyết với Giuse trong giấc mộng: �B� sẽ sinh con, v� �ng sẽ đặt t�n cho người con l� Gi�su, v� ch�nh Ng�i sẽ cứu d�n Ng�i khỏi tội lỗi.� Sự đ� xảy ra l� để được n�n trọn điều Ch�a đ� ph�n nhờ vị Ti�n Tri n�i rằng: �N�y, Trinh Nữ sẽ thụ thai v� sinh con, v� người ta sẽ gọi t�n Ng�i l� Em-ma-nu-el, c� nghĩa l� Thi�n-Ch�a ở c�ng ch�ng t�i.� (M�tth�u 1,21-23). Danh th�nh Gi�su, c� nghĩa l� Giav� cứu tho�t.
2.2- Trinh Nữ Maria l� người Israel, chừng 14, 15 tuổi. L� con g�i độc nhất của �ng Gioan-Kim v� b� Ana. Hai �ng b� l� người hiền l�nh đạo đức, nhưng hiếm muộn kh�ng con. Ng�y đ�m thường cầu nguyện để xin Giav� Thi�n Ch�a cất đi nỗi hổ nhục kh�ng con, v� hứa nếu được như sở nguyện sẽ xin d�ng hiến người con đ� cho Thi�n Ch�a! Thời đ� v� cả thời nay cũng c�n c� nhiều người kh�c khấn nguyện như vậy, chứ kh�ng ri�ng g� �ng b�. V� thế sau khi sinh Maria, �ng b� đ� l�m trọn lời hứa, d�ng Trinh Nữ Maria v�o Đền Th�nh Gi�rusalem, l�c Trinh Nữ c�n ấu thời. Sống trong Đền Th�nh, Maria đ� khấn nguyện giữ trinh khiết, ở độc th�n để chuy�n cần cầu nguyện, xin Đấng Thi�n Sai Cứu Thế mau đến như Thi�n Ch�a đ� đoan hứa, v� to�n d�n Israel đang mong đợi!
Theo phong tục tập qu�n của d�n Israel thời đ� v� theo luật M�is� th� con g�i trong một gia đ�nh kh�ng c� con trai phải đ�nh h�n hay kết h�n với người trong d�ng tộc để t�i sản, cơ ngiệp của cha mẹ để lại kh�ng bị thất tho�t sang c�c chi tộc kh�c. (D�n số 36, 1-12). Do đ�, Trinh Nữ Maria, theo luật định, đ� đ�nh h�n với Giuse, c�ng d�ng tộc Đav�t, để cơ nghiệp, đất đai m� Giav� Thi�n Ch�a đ� ban cho chi tộc, do M�is� ph�n chia khi v�o đất hứa, kh�ng bị thất tho�t sang c�c chi tộc kh�c! Đ�nh h�n thời đ� kh�ng phải trường hợp n�o cũng tiến tới h�n nh�n, đ�m cưới, th�nh vợ th�nh chồng, m� c� những nố trừ, hai người vẫn sống độc th�n v� bảo vệ, giữ g�n đức trinh khiết cho nhau như hai người đ� khấn hứa với Giav� Thi�n Ch�a. Trường hợp Trinh Nữ Maria đ�nh h�n với Giuse như vậy kh�ng phải l� hiếm trong x� hội Israel thời đ�! Cho n�n, trong x� hội thời đ� đ� c� một loại người gọi l� �người Nazir� - Anh ngữ l� Nazirite - (D�n số 6,1-21). Nazir l� người thề hứa v� tự nguyện ki�ng cữ một số điều để k�nh Giav� Thi�n Ch�a, hoặc thề hứa quyết t�m l�m một việc g� cho Thi�n Ch�a, như trường hợp Gi�pt�. (Thẩm Ph�n 11,30-35) Lời hứa c� thể ngắn hạn, d�i hạn, hoặc suốt đời như Samson (Thẩm Ph�n 13,5-7.14;16,17). Samuel (1 Samuel 1,11). Gioan Tẩy Giả (Luca 1,15).
Theo LM. Nguyễn Thế Thuấn th� luật v� hiệu quả của luật khấn l�m Nazir l�: (1) D�ng m�nh cho Giav� Thi�n ch�a, để sức mạnh của Ng�i hoạt động trong m�nh. (2) n�i l�n ước nguyện khước từ một cuộc sống dễ d�i. (3) Đ�nh dấu sự thuộc về Giav� Thi�n Ch�a một c�ch đặc biệt, như c�c Tư Tế, c�c L�vi (L�vi 21,1-2.10-11; Amos 2,11-12). Một số c�c Nazir khấn hứa ở độc th�n, hiến d�ng cuộc đời để phụng sự Thi�n Ch�a, bảo vệ đức trinh khiết của c�c trinh nữ cũng c� lời khấn như vậy v.v... Giuse, phu qu�n của Đức Trinh Nữ Maria, dưỡng phụ của ch�a Gi�su Cứu Thế theo luật ph�p, cũng l� một Nazir thời đ�, người m� Kinh Th�nh gọi l�: �Người c�ng ch�nh� (M�tth�u 1,19) cũng đ� c� l�c ho�i nghi về sự mang thai của bạn m�nh th� được Thi�n Thần b�o tin trong giấc mộng: �Giuse con Đav�t, chớ sợ lấy Maria vợ �ng, v� thai sinh nơi b� l� do bởi Th�nh Thần. B� sẽ sinh con, v� �ng sẽ đặt t�n cho Ng�i l� Gi�su v� ch�nh Ng�i sẽ cứu d�n Ng�i khỏi tội lỗi. Tỉnh giấc, Giuse đ� l�m như Thi�n Thần Ch�a truyền cho �ng, v� �ng đ� rước vợ về nh�, v� �ng b� kh�ng c� việc tri giao vợ chồng, cả đến l�c b� sinh con, v� �ng đ� đặt t�n l� Gi�su.� (M�tth�u 1,20-21). Tục lệ n�y tồn tại l�u đời, một số c�c Hiệp Sỹ thời Trung Cổ cũng c�n mang tinh thần đ�.
Do đ�, trường hợp Trinh Nữ Maria đ�nh h�n với Giuse m� kh�ng ăn ở với nhau như vợ chồng, l� điều kh� tin v� đ�ng nghi ngờ trong thời đại ch�ng ta, nhưng lại l� một chuyện b�nh thường đối với phong tục tập qu�n Israel thời đ�! Ngo�i ra, dưới con mắt đức tin như đ� tr�nh b�y, đ�y l� kế hoạch, l� sự quan ph�ng của Thi�n Ch�a để ban ơn Cứu Độ cho nh�n loại như Ng�i đ� hứa trong Tin Mừng Nguy�n Thủy. Đ�nh h�n thời đ� c� gi� trị như h�n phối thời nay, bởi v� con sinh ra trong thời kỳ đ�nh h�n l� con hợp ph�p, được x� hội thừa nhận. Việc đ�nh h�n l� cần thiết để Đức Gi�su, Con Thi�n Ch�a gi�ng sinh l�m người theo quyền năng Thi�n Ch�a, chứ kh�ng phải theo c�ch ăn ở vợ chồng như thường t�nh, được ph�p luật thời đ� chấp nhận. Nếu kh�ng th� một phụ nữ kh�ng chồng m� chửa sẽ bị n�m đ� chết, theo luật M�is�, v� sẽ l� cớ vấp phạm cho nhiều người kh�ng tin v�o Ng�i. Ngay cả trinh nữ đ� đ�nh h�n bị cưỡng hiếp trong th�nh, m� kh�ng k�u cứu để chứng tỏ sự ngay t�nh của m�nh, cũng bị n�m đ� chết! (Thứ Luật 22, 23-24 ).
(c�n tiếp)