NH�M CẦU NGUYỆN JARAI

 

(NGUỒN SỨC MẠNH LINH THI�NG)

 

Lm. Trần Sỹ T�n, CSsR

 

    Trong cuộc sống của người Jarai từ trước, họ đ� quen "tiếp x�c" với "thần linh" (YANG). Họ lu�n "n�i với" những YANG-DLEI (forest-spirits), YANG-CHƯ� (mountain-spirits), YANG-IA (water-spirits), YANG-LON (earth-spirits), YANG-HRI (rice-spirits), YANG-SANG (home-spirits), YANG-PRIN-THA (ancester-spirits), YANG-GAH-NGO� (higher?-spirits)� (Xin coi THẦN LINH TRONG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI JARAI, Diễm-Ly, Luận Văn trg.20). Đ�y mới l� những thần linh m� họ "nhận thức" được, gần gũi họ hơn theo nghĩa l� cũng vừa l� vật chất vừa l� linh thi�ng như ch�nh con người vừa l� vật chất vừa l� linh thi�ng (material and spiritual or divine). C�n c� cấp "to�n linh" (total spiritual), "ch� linh" (super spiritual), con người kh�ng thể tự m�nh đạt thấu, phải cần tới "mạc khải" (revelation).

Người Jarai kh�ng c� đền thờ. Trời đất l� đền thờ của họ. Họ cầu c�ng trong nh�, ngo�i ruộng, ngo�i rẫy, bến s�ng, giọt nước� Họ khấn v�i (c� khi chỉ cần n�i miệng, kh�ng cần lễ nghi) khi đi rừng, đi săn (xin thần rừng nhốt những con th� cần phải nhốt v� thả ra cho họ những con th� c� thể l�m mồi cho họ). D�ng bữa b�n bờ suối, miếng cơm đầu ngay "miệng nồi" (asơi mbah go�) được n�m xuống d�ng suối cho thần nước, thần rừng với một lời cầu khấn b�nh an v� ch�i được c�, bắt được th� � Họ c� thể cầu mọi nơi mọi l�c . Họ tiếp x�c với m�i trường vật chất (material milieu). Họ tiếp x�c với m�i trường x�-hội nh�n-văn (human milieu). V� họ tiếp x�c với m�i trường thần linh (divine or spiritual milieu). V� họ thuộc về cả ba m�i trường đ�. V� cả ba m�i trường đ� l�m th�nh họ. V� cả ba m�i trường đ� th�nh một trong họ. N�i như tư-tưởng �-Ch�u th� "con người l� c�i đức của Trời Đất" (nh�n Thi�n Địa chi đức).

 

Ch�ng ta h�y khoan xếp họ v�o những ph�n loại m� ch�ng ta quen như đa thần, phiếm thần, spiritism hay totemism� hay idealism� Nhưng d� sao, họ cũng đ� nhắc nhở ch�ng ta rằng "vạn vạt đều linh", linh nhiều hay linh �t c�n t�y. Mỗi vật (every thing) đều c� c�i "b�n trong" (the inside) của n�. C�i "b�n trong" đ� l� c�i "linh thi�ng" (the spiritual). Tư tưởng �-Đ�ng đ� nhận ra rằng con người l� linh hơn hết vạn vật (hữu h�nh), "nh�n linh ư vạn vật"�  Đ� linh th� tiếp x�c với linh l� lẽ b�nh thường.

 

Trong thực tiễn, con người đ� đạt đến độ "văn-minh" c� thể phủ nhận chiều k�ch linh-thi�ng của m�nh. X�-hội của ch�ng ta hiện nay được gọi l� x�-hội tục-ho� (secularised) : kh�ng c� g� l� "linh" cả (no spiritual), chỉ c� "vật" (only material), qu� lắm l� c� "l�" (rational). M� ch�nh c�i "l�" lại phủ nhận c�i "linh" (Rm 1,21-23 ; 1Cr 2,21) . L�m sao người Jarai c� thể đi v�o x�-hội hiện đại? Họ kh� c� thể sống như xưa. Họ chỉ c� thể trở th�nh "văn-minh hiện đại" bằng c�ch sống duy-vật v�-thần thực tiễn như bao người (v� c�ng với bao người l�m rối loạn x�o trộn tất cả, g�y � nhiễm tất cả, kh�ng c�n hjan klă iă hiam/mưa l�nh nắng đẹp � m� lon abih rai dlei abih ram/đất hư hoại rừng tan hoang ). Hoặc họ chọn một lối sống mới nhưng vẫn h�i h�a "Thi�n Nh�n Địa", vẫn ở trong "m�i trường thần linh" (milieu divin như Teilhard de Chardin n�i). M�i trường thần linh ấy ch�nh l� Mạc Khải Kế Đồ Cứu Độ của Thi�n-Ch�a (The Revelation of the God Salut Economy).

 

Chương-tr�nh cứu độ n�y của Thi�n Ch�a được tỏ b�y bằng nhiều c�ch trong to�n bộ Th�nh Kinh, nhưng c� thể t�m gọn thế n�y : Thi�n Ch�a đ� y�u thương con người đến nỗi ban ch�nh Con của Người (Ga 3,14-17) l�m người (Ga 1,14), chịu đ�ng đinh thập gi� (Pl 2,6-11), chết v� sống lại, được t�n vinh l�m Ch�a để tu�n ban Thần Kh� (Cv 2,14-36), l�m cho những ai tiếp nhận (Ga 1,12) th� được sống bằng Thần Kh� m� l�m con của Cha (Rm 8,1-17).

 

Khi người Jarai (cũng như hầu hết c�c d�n-tộc �t người kh�c tr�n khắp đất nước Việt-Nam) trở lại một c�ch nhiệm lạ v�o đ�ng thời điểm chuẩn bị Năm Th�nh 2000 với Năm Th�nh Mẫu 1985 v� với việc phong th�nh c�c vị Tử-Đạo tại Việt-Nam (1988), th� người Jarai chỉ c� cuốn s�ch Kinh Th�nh T�n-Ước. N�i họ trở lại một c�ch nhiệm lạ bởi v� tuyệt đại đa số trong họ trước đ� kh�ng hề biết đến c�c thừa-sai, v� c�c thừa-sai trước đ� cũng kh�ng thể tiếp x�c với họ. Từ 1975, theo ph�p luật của Nh� Nước, cấm kh�ng được truyền đạo, kh�ng được qui tụ hội họp, kh�ng được c� một lễ nghi n�o ngo�i nh� thờ đ� được c�ng nhận (m� người d�n-tộc thiểu số th� chưa c� một nh� thờ n�o � b�n anh em Tin L�nh c� nh� thờ nhưng bị đ�ng cửa v� tịch thu hết), kh�ng được đi đ�u m� kh�ng b�o c�o tạm vắng tạm tr�� C� nhiều người d�n-tộc chịu đi bộ hằng chục, hằng trăm c�y số để t�m Đạo v� học Đạo. M� học Đạo đối với họ c� nghĩa l� họ nghe Lời Ch�a, họ tin v� họ bắt đầu "n�i với Ch�a". Ti�n v�n họ chuẩn bị đ�n nhận Ch�a Y�su l�m Ch�a v� xin Ng�i d�m họ trong Thần Kh�. Rồi Thần Kh� Ch�a dạy dỗ họ mọi sự v� dẫn đưa họ tới tất cả sự thật (Ga 14,26 ; 16,13). Họ sống đời b�-t�ch như đ� n�i (ở trg?). C�ng tiễp x�c trao đổi với Ch�a, c�ng sống trong Thần Kh�, c�ng được ng�i dạy dỗ, c�ng hăng say sống Đạo, hiểu Đạo, l�m chứng cho Đạo, v� sinh nhiều "hoa tr�i" (Ga 15,1-17).

(Xin xem tiếp trong Diễn ��n Gi�o D�n số 24 th�ng 10/2003 trang 101)

Trở lại Trang Nh�: