SỰ VẮNG MẶT T�NH NGUYỆN
Phạm Minh-T�m
(�c ch�u)
Hiến-chế Mục-vụ về Gi�o-hội trong thế-giới ng�y nay (Gaudium et Spes) đ� x�c-quyết một sứ-mệnh l� �Gi�o-hội hiện-diện trong thế-giới, Gi�o-hội sống v� h�nh-động với thế-giới... Gi�o-hội c�ng đi một con đường với to�n-thể nh�n-loại v� c�ng chung một số phận ở trần-gian với thế-giới�. Đ�y ch�nh l� tr�ch-nhiệm dấn-th�n m� người ta thường xuy�n nhắc đến tr�n m�i miệng song lại vắng b�ng ho�n-to�n trong những h�nh-vi thực-tiễn, nhất l� trong sinh-hoạt ch�nh-trị. Thực-trạng n�y biết quy-kết v�o đ�u v� biện-minh thế n�o để ph�-hợp với huấn-thị của Gi�o-hội : �Tất cả mọi Ki-t� hữu phải �-thức về sứ-mệnh đăc-biệt của m�nh trong cộng-đồng ch�nh-trị. Họ phải n�u gương s�ng bằng c�ch ch�nh m�nh �-thức tr�ch-nhiệm v� dấn-th�n phục-vụ c�ng �ch... Một c�ch thanh-li�m v� kh�n kh�o, họ h�y tranh-đấu ch�ng bất-c�ng v� �p-bức, chống độc-t�i v� ngoan-cố, bất cứ l� của một c�-nh�n hay của một đảng ph�i ch�nh-trị�...
Như vậy, chẳng lẽ mỗi Ki-t� hữu đều c� tr�ch nhiệm dấn th�n để thi-h�nh nghĩa vụ ng�n-sứ của m�nh c�n c�c linh-mục, tu-sĩ th� kh�ng. V� chẳng lẽ c�ng việc rao giảng của qu� vị l� chỉ lo củng-cố cơ-cấu quản-trị một cộng-đo�n, một gi�o xứ về mặt tổ-chức m� th�i? �Những nghi-lễ d� đẹp mắt, những hội-đo�n d� ph�t-triẻn rầm-rộ cũng kh�ng c� �ch bao nhi�u nếu ch�ng kh�ng hướng về việc gi�o-dục con người đạt tới sự trưởng-th�nh Ki-t� gi�o. Để đạt đến sự trưởng-th�nh đ�, c�c linh-mục phải gi�p họ s�ng suốt nhận ra trong c�c biến-cố lớn nhỏ, đ�u l� việc phải l�m, đ�u l� � Ch�a muốn�( Parum proderunt caeremoniae, etsi pulchrae, vel consociationes, etsi florentes, si non ordinantur ad educandos homines ad maturitatem christianam consequendam. Quam ut promoveant, eis auxilio erunt Presbyteri ut in ipsis eventibus magnis vel parvis, quid res exigant, quae sit Dei voluntas perspicere valeant. Sắc-lệnh về chức-vụ v� đời sống c�c linh-mục )
Cho n�n, thật l� một sự chẳng đặng đừng m� h�m nay b�i viết n�y muốn đề-cập thẳng đến th�i-độ gần như chối bỏ ho�n-to�n tr�ch-nhiệm li�n-đới của phần lớn c�c �đấng l�m thầy� như những lời thư ngỏ gửi đến qu� vị, d� biết chắc rằng sẽ kh�ng l�m qu� vị h�i l�ng, vui vẻ đ�n nhận như người xưa đ� n�i "thuốc đắng đ� tật, sự thật mất l�ng". Song le, v� lợi �ch của cộng-đo�n, v� muốn duy-tr� sự k�nh trọng cũng như niềm tin tưởng của người gi�o d�n Việt-Nam xưa nay sẵn c� đối với c�c vị thừa-t�c-vi�n của Gi�o hội v� tr�n hết mọi sự l� dưới �nh s�ng của Tin Mừng v� những huấn thị của th�nh C�ng-đồng Va-ti-ca-n� II về vai tr� của gi�o d�n, ch�ng t�i kh�ng muốn t�m-linh m�nh c� những bất ổn về c�c vị m� xưa nay vẫn được mang danh l� "l�nh đạo tinh thần" trong cộng đồng D�n Ch�a, nhất l� cộng đo�n C�ng gi�o Việt-Nam hải ngoại, n�n ch�ng t�i thấy cần phải viết theo ơn gọi được l�m Ki-t� hữu của m�nh.
Sau biến cố 1975, một số lớn người Vi�t-Nam ch�ng ta phải ra đi bằng những chuyến vượt bi�n, vượt biển gian lao, khổ nhục để t�m tự do m� trong đ� cũng c� rất nhiều qu� vị linh-mục v� nam nữ tu sĩ đ� bỏ Gi�o-hội qu�-hương ra đi cũng với l� lẽ chung l� tỵ nạn ch�nh trị, l� muốn tho�t chế đọ h� khắc của ch�nh-quyền hiện thời để được b�nh-an tiếp tục đời tận hiến trong l�-tưởng phục vụ Thi�n Ch�a v� đem c�ng bằng, b�c-�i đến tha nh�n. V� đ� hơn một phần tư thế kỷ qua, người Việt-Nam d� lưu lạc tr�n bất cứ miền đất n�o của thế giới, d� đ� mang đủ c�c quốc tịch của những quốc-gia tạm dung th� trong t�m-thức vẫn t�n- trọng Tổ-quốc m�nh, vẫn �-thức m�nh l� con d�n của đất nước Việt-Nam trong nỗi niềm cảm-th�ng v� chia sẻ với mọi giới đồng-b�o m�nh về cuộc sống vất vả, kh� khăn v� mất tự do; nhất l� những quyền tự do căn bản như tự-do đi lại, tự do ng�n luận v� tự do t�n gi�o. Qu� vị phải l� những người hiểu r� điều n�y hơn ai hết n�n trong những năm trước đ�y mới h�a nhập theo lớp s�ng người tỵ nạn ra đi.
(Xin xem tiếp trong Diễn ��n Gi�o D�n số 24 th�ng 10/2003 trang 64)