Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma N�i Chuyện Về ch�a Gi�su

 

�ỗ T�n-Hưng

 

CHƯƠNG VI - SỨ VỤ T�NG ĐỒ

  Ph�c �m Th�nh Luca (9, 2-6)

(tiếp theo)

  THẢO LUẬN VỀ ĐOẠN PH�C �M

  Cha Laurence
 
Thưa ng�i, cho ph�p t�i được giới thiệu hai người sẽ ph�t biểu � kiến trong cuộc thảo luận s�ng nay. Trước hết l� c� Maureen Allen đ� chi�m niệm từ ba mươi năm nay v� đ� gi�p đỡ ch�ng t�i rất nhiều trong việc chuẩn bị cuộc hội học nầy bằng c�ch li�n lạc với Văn Ph�ng người T�y Tạng ở Lu�n Đ�n. Kế đ� l� �ng Peter Ng, gi�m đốc đầu tư của Singapore Investment Corporation, người m� đứng tr�n b�nh diện t�m linh l� một vị gi�m đốc c�ng với b� vợ l� Patricia, đặc tr�ch Trung T�m Chi�m Niệm Kit� gi�o ở Singapore. Xin mời �ng Peter tr�nh b�y điểm thảo luận đầu ti�n.

 Peter Ng (thắc mắc trong Phật gi�o c� gi�o huấn về chi�m niệm như l� con đường t�nh y�u v� chi�m niệm c� hỗ trợ cho đời sống t�m linh đ� kh�ng)

  Thưa ng�i, c�u hỏi m� t�i xin đặt ra với ng�i rất sơ đẳng. C�u hỏi đ� li�n quan đến mục đ�ch v� lối sống t�m linh trong viễn tượng Phật gi�o, cũng như c�ch thức m� ng�i l�nh hội về việc h�nh thiền bằng c�ch qu�n chiếu v�o một điểm duy nhất nhằm gi�p ph�t triển t�m linh. Trong viễn tượng Kit� gi�o, mục đ�ch đời sống t�m linh, tức định mệnh của ch�ng ta như cha Laurence đ� n�i l� th�ng phần v�o bản t�nh Thi�n Ch�a. Đối với ch�ng t�i con đường đ� l� ch�nh Ch�a Gi�su. Giới luật hay gi� trị tối cao để theo Ch�a Gi�su ch�nh l� t�nh y�u. Thực ra, với tư c�ch l� những người chi�m niệm Kit� gi�o, chi�m niệm l� con đường của t�nh y�u đối với ch�ng t�i. Đ� l� điều m� cha John Main đ� dạy ch�ng t�i về chi�m niệm. Qua chi�m niệm, ch�ng t�i đạt tới một tương quan c� nh�n với Ch�a Gi�su v� ch�ng t�i khai triển t�nh y�u của ch�ng t�i cho tới khi đạt tới sự sung m�n của t�nh y�u l� Thi�n Ch�a.

 Đứng tr�n quan điểm Phật gi�o, xin ng�i cắt nghĩa cho ch�ng t�i mục đ�ch của đời sống t�m linh l� g�: c� một gi�o huấn trong Phật gi�o tương đương với gi�o huấn về t�nh y�u như l� con đường v� ng�i c� coi chi�m niệm như l� một c�ch thức hỗ trợ trong đời sống t�m linh đ� kh�ng?  

  Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma (cho biết bi v� tr� ch�nh l� con đường, tức l� Ph�p, đưa tới t�nh kh�ng v� sự tập trung tuyệt đỉnh trong chi�m niệm gọi l� chỉ �samatha�)

  Để trả lời c�u hỏi của �ng, c� lẽ hữu �ch để tr�nh b�y điều m� người ta gọi l� bốn yếu tố tối hảo v� hai mục ti�u m� mỗi c� nh�n muốn đạt tới. Bốn yếu tố tối hảo đ� l�: (1) sự giải tho�t t�m linh, (2) sự thịnh vượng trần thế, (3) thực h�nh Phật Ph�p v� (4) sự gi�u sang. Hai mục ti�u l�: (a) sự sung t�c vật chất, c� t�nh c�ch tầm thường (bao gồm hai yếu t�: sự gi�u sang v� thịnh vượng ở trần thế) v� (b) đạt tới sự tối hảo hay giải tho�t t�m linh, tức Niết-B�n (bao gồm hai yếu tố kia: sự giải tho�t t�m linh v� thực h�nh Phật Ph�p). Phương thế để đạt tới sự sung t�c tầm thường đ� l� thu g�p của cải vật chất, trong khi phương thế th�ch ứng để đạt tới sự giải tho�t hay sự thiện hảo t�m linh l� thực h�nh Phật Ph�p. Trong trường hợp của �ng, hai mục ti�u đ� xem ra được hội tụ bởi v� �ng l� ng�n h�ng gia! Từ ngữ T�y Tạng tương đương với Phật Ph�p l� cho c� nghĩa l� �biến đổi� hay �năng lực biến đổi�. X�t về nhiều phương diện, �bi� (l�ng mẫn cảm) l� nguy�n tắc căn bản của Ph�p; tuy nhi�n bi phải được gắn liền chặt chẽ với tr�. Đạo hay Ph�p, ch�nh l� sự li�n kết giữa bi v� tr�.

 Khi người ta n�i về bi v� tr�, về bi v� tr� th�ng minh hoặc kiến thức, phải n�i ngay rằng ch�ng ta đang c�n đề cập tới những tr�nh độ kh�c nhau v� những loại kiến thức c�ng minh tr� kh�c nhau. Đại cương, người ta ph�n biệt kiến thức qui ước gắn liền với l�nh vực kinh nghiệm hằng ng�y v� kiến thức tuyệt đĩnh li�n hệ đến những kh�a cạnh về thực tại th�m s�u hơn. Th�ng thường đối với c�c Phật tử, �ch�n l� tuyệt đỉnh� c� nghĩa l� bản chất tuyệt đỉnh của thực tại m� người ta gọi l� v� ng� (anatman) (tức kh�ng phải ng�). N�i t�m lại, khi c�c Phật tử đề cập tới bản chất tuyệt đỉnh của thực tại, họ c� trong đầu �c gi�o thuyết về t�nh kh�ng (sunyata).

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đ�n Gi�o D�n số 27 th�ng 1&2/2004 trang 135)

Trở lại Trang Nh�: