N�O TRẠNG, T�M TRẠNG Đ�NG V� T�Y
Trần Duy Nhi�n
V� vấn đề đa diện v� đa dạng, n�n t�i chủ yếu đề cập đến những kh�c biệt giữa đ�ng v� t�y dựa tr�n kh�a cạnh TRỌNG TĨNH v� TRỌNG ĐỘNG. Những � tưởng sau đ�y phần lớn l� dựa v�o những điều m� t�c giả Trần Ngọc Th�m ghi lại trong cuốn �T�m Về Bản Sắc Văn H�a Việt Nam�1 , cộng với những gợi � của c�c anh Trần Ngọc B�u (Thụy Sĩ), Nguyễn Ch�nh Kết (VN) v� Nguyễn Đăng Tr�c (Ph�p). A - Điểm xuất ph�t. Trước hết, để x�c định Đ�ng T�y, t�i chỉ xin hạn chế trong l�nh thổ địa dư của lục địa �u �. V� để cho r� n�t th� chỉ xin so s�nh giữa �u Ch�u v� Viễn Đ�ng, m� tạm qu�n v�ng Cận Đ�ng v� Trung Đ�ng. Một c�ch cụ thể, ta tưởng tượng một đường ch�o thứ nhất k�o từ t�y bắc Ấn Độ đến bắc Nhật Bản. Một đường ch�o thứ hai song song với đường thứ nhất, k�o d�i từ bắc Palestine đến biển Sib�rie. V� như thế, Đ�ng m� t�i đề cập l� phần b�n phải của đường ch�o thứ nhất, hay phần đ�ng nam của lục địa � �u, v� T�y l� phần b�n tr�i của đường ch�o thứ hai, hay phần t�y bắc của lục địa. C�n phần giữa, gồm c�c nước trung cận đ�ng, một phần của nước Nga v� ph�a t�y bắc Trung Hoa (từ Bắc Kinh trở l�n) được xem l� v�ng tr�i độn, v� kh�ng được x�t đến trong b�i n�y. Sở dĩ như vậy l� để tr�nh những vấn đề nhập nhằng khi n�u l�n những c�u hỏi chẳng hạn: Thổ Nhĩ Kỳ, Palestine, Iran, Irak, Nga v�n v�n... l� đ�ng hay t�y? hoặc: Ch�a Gi�su, gốc Do Th�i, l� người T�y hay người Đ�ng? (Mặc d� trong b�i n�y t�i c� tr�ch dẫn v�i c�u từ Kinh Th�nh Do Th�i, miền cận đ�ng, để minh họa cho t�nh chất t�y phương)
Sau khi x�c định như thế, ta thấy nổi l�n sự kh�c biệt tr�n nhiều phương diện: ng�n ngữ t�y th� biến h�nh v� đ�ng th� đơn lập; t�y trọng c� nh�n, đ�ng trọng cộng đồng; khi giao tiếp, ch�o nhau, th� b�n t�y người n�y nắm tay người kia, c�n b�n đ�ng th� mỗi người tự nắm tay m�nh... Những kh�c biệt đa dạng hơn được n�u l�n qua c�c thuật ngữ: đ�ng hướng nội, t�y hướng ngoại; đ�ng trầm mặc, t�y hoạt động; đ�ng trọng phẩm, t�y trọng lượng...
V� sao c� sự kh�c biệt đ�? Hay đặt vấn đề c�ch kh�c: Sự kh�c biệt đ� bắt nguồn từ đ�u Từ m�i trường tự nhi�n v� x� hội . V� con người l� một hữu thể sống trong một m�i trường tự nhi�n v� x� hội nhất định n�n hai yếu tố n�y hẳn l� nguồn gốc của sự kh�c biệt đ�.
M�i trường sống của cộng đồng d�n cư ở phương Đ�ng (ch�nh x�c l� Đ�ng Nam � �u, theo như x�c định tr�n) l� n�ng, khiến mưa nhiều n�n ẩm , tạo n�n s�ng rạch v� đồng bằng tr� ph�. C�n phương T�y (ch�nh x�c l� T�y Bắc � �u) lại l� xứ lạnh với kh� hậu kh� , thực vật kh� sinh trưởng, c� chăng l� c�c đồng cỏ rộng lớn.
Hai m�i trường ấy khiến c�c cộng đồng cư d�n chọn một lối sống th�ch hợp, m� kinh tế chủ yếu dựa v�o hoặc l� trồng trọt hoặc l� chăn nu�i. Người đồng bằng phương đ�ng hướng về trồng trọt v� thi�n về nếp sống định cư , v� trồng th� phải đợi thu hoạch, v� c� những c�y đ�i hỏi phải chờ đợi thời gian d�i. Người t�y phương thi�n về chăn nu�i v� t�i sản của họ l� gia s�c . Gia s�c phải di chuyển để ăn khi đồng hết cỏ, v� thế nghề du mục dẫn đến nếp sống du cư .
Nếp sống định cư t�m kiếm một sự ổn định l�u d�i , n�n người phương đ�ng c� một n�o trạng TRỌNG TĨNH, c�n nếp sống du cư th� phải tổ chức thể n�o để di chuyển gọn g�ng nhanh ch�ng , n�n người phương t�y c� một n�o trạng TRỌNG ĐỘNG.
Từ hai n�o trạng đ�, ta thử xem ch�ng t�c động như thế n�o tr�n c�ch thức tư duy, tr�n tổ chức x� hội v� quan hệ với tha nh�n. B - T�c Động tr�n nhận thức, tư duy: Người n�ng d�n sống phụ thuộc v�o thi�n nhi�n rất nhiều, kh�ng phải v�o những sự kiện ri�ng lẻ m� tất cả c�ng một l�c: trời, đất, nắng, mưa ... Nắng qu� cũng chết m� kh�ng nắng cũng chết, mưa qu� cũng chết m� kh�ng mưa cũng chết. Ta thấy qua sự tr�ng mong của họ trong ca dao: Tr�ng trời, tr�ng đất, tr�ng m�y,
Tr�ng mưa, tr�ng gi�, tr�ng ng�y, tr�ng đ�m,
Tr�ng cho ch�n cứng đ� mềm,
Trời �m bể lặng mới y�n tấm l�ng.. Nếp sống n�y đưa đến lối tư duy tổng hợp . C�ch nh�n mọi sự trong tổng thể lại dẫn đến nếp suy nghĩ biện chứng : người n�ng d�n kh�ng x�t mỗi yếu tố ri�ng lẻ m� x�t theo quan hệ qua lại . Được m�a l�a, �a m�a cau - Th�m đ�ng th� mưa, th�m dưa th� kh�, th�m v� th� chửa. Ngược lại, người du mục tập trung v�o từng con vật m�nh nu�i. V� suy nghĩ theo lối ph�n t�ch: chia mọi yếu tố cấu th�nh ra từng phần biệt lập , khởi đầu từ việc mổ xẻ con vật ra m� ăn: mỗi bộ phận tự n� l� đủ (bởi lẽ li�n hệ giữa ch�ng l� điều đương nhi�n, kh�ng cần phải xem x�t để t�c động). Từ c�ch tư duy ph�n t�ch đ�, người phương t�y đi đến suy tư �si�u h�nh� (theo nguy�n ngữ của Aristote: meta physika , nghĩa l� vượt qua c�i hữu h�nh, cụ thể, vật chất) để đi đến việc trừu tượng h�a những c�i cụ thể th�nh kh�i niệm.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đ�n Gi�o D�n số 27 th�ng
1&2/2004 trang 58)