TRUYỀN ĐẠO
v� VĂN H�A
Lm Cao Phương Kỷ
Nhiệm vụ Truyền B� Đức Tin, gắn liền với việc l�nh nhận Ph�p B� T�ch Rửa tội: Ai đ� được Rửa tội, tuy�n xưng Đức Tin v�o Ch�a Cứu Thế, th� cũng c� nghĩa vụ phải th�ng truyền Đức Tin ấy cho tha nh�n, như lời Ch�a dạy :� H�y đi rao giảng cho mọi d�n tộc, v� h�y l�m Ph�p Rửa cho họ: Nh�n Danh Cha v� Con v� Th�nh Thần ..�( Matt.28:19). Khi ta nhận được một Tin Mừng , th� cũng muốn chia sẻ với người kh�c. Trong Th�nh Lễ bế mạc � Hội Ngộ Niềm Tin�, tại Roma, năm 2003, Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng Trưởng Bộ Rao Giảng Tin Mừng, đ� giảng thuyết theo lời mời gọi của Đức Th�nh Cha: �RA KHƠI�(Duc in Altum)về nhiệm vụ Truyền Đạo của c�c t�n hữu Việt nam, ở hải ngoại cũng như tại qu� nh�: �Hội Th�nh Việt Nam Hải ngoại th�n mến, ng�y h�m nay Ch�a đang mời gọi bạn h�y trở th�nh nh� Truyền Đạo, thực hiện một cuộc h�nh tr�nh kỳ th� tr�n những nẻo đường của thế giới, nơi bạn đang sinh sống �.. Sau Th�nh Lễ, c�n m�n hoạt cảnh �Sai Đi �, do c�c thanh thiếu ni�n tr�nh diễn.
Qua b�i giảng thuyết của Đức Hồng Y, v� hoạt cảnh �Sai Đi�, người ta c� cảm tưởng: đ�y l� một luồng gi� mới đang thổi tới, khai th�ng cho một hướng đi mới của Hội Th�nh C�ng Gi�o Việt Nam. Hiện nay, người t�n hữu ch� trọng đến việc �giữ Đạo �, hơn l� �truyền Đạo �, kh�c với thời kỳ khai s�ng Đạo, dầu bị cấm c�ch , cầm t�, bị giết, nhưng c�c vị thừa sai, c�c linh mục, c�c tu sĩ, gi�o d�n vẫn xả th�n, len lỏi v�o c�c l�ng x�m để truyền Đạo. Sự ph�n biệt hai � niệm tr�n kia l� cần thiết, để c� thể nhận x�t một c�ch ch�nh x�c về c�c sinh hoạt t�n gi�o hiện nay của c�c Cộng Đồng C�ng Gi�o Việt, rải rắc khắp nơi. Dĩ nhi�n, �giữ Đạo� một c�ch nghi�m chỉnh, sốt s�ng như: tham dự Th�nh Lễ đ�ng đảo, rước kiệu , sinh hoạt hội đo�n�nghĩa l� sống Đức Tin, l�m chứng nh�n giữa một thế giới bỏ Đạo (de-christianized) như tại c�c nước Au-Mỹ tục h�a, đ� cũng l� một h�nh thức truyền Đạo. Nhưng ở đ�y, chữ �truyền Đạo� phải được hiểu một c�ch t�ch cực hơn, nghĩa l� �sai đi� rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa được nghe biết Sứ Điệp của Đấng Cứu Thế . Trong trường hợp Cộng đồng Việt, trong cũng như ở ngo�i nước, �truyền Đạo� l� đem Tin Mừng trực chỉ đến 80% người đồng hương, chẳng những chưa hiểu biết Ch�a Cứu Thế l� ai, m� c�n th� gh�t, hiểu lầm, xuy�n tạc, nghi kị Đạo Ch�a. Đ�y cũng l� mối ưu tư của T�a Th�nh, v� Gi�o Hội Việt nam, vẫn c�n tuỳ thuộc Th�nh Bộ Rao Giảng Tin Mừng, v� theo c�c bản tường tr�nh hằng năm của c�c địa phận, gi�o xứ, th� c�c con số thống k� về người t�n t�ng chịu Ph�p Rửa tội c�n qu� khi�m tốn.
B�n về vấn đề truyền Đạo, cũng n�n ph�n biệt hai kh�a cạnh kh�c nhau: �l�ng nhiệt th�nh� muốn mở mang Nước Ch�a v� �phương c�ch� hợp thời, hợp ho�n cảnh để rao giảng Tin Mừng được hữu hiệu, đạt được nhiều kết quả. Đối với nhiều t�n hữu, l�ng nhiệt th�nh, � thức về nghĩa vụ truyền Đạo rất cao, nhưng lại kh�ng biết phải �l�m thế n�o �, d�ng phương thức n�o để rao giảng Tin Mừng. Trong Thư Mục Vụ năm 2003 của Hội Đồng Gi�m Mục Việt Nam, họp tại B�i D�u Vũng T�u, từ 06-11, th�ng 10, 2003( xin coi: DĐGD, số 25, th�ng11/2003, trang 29-31) , đ� n�u l�n hai phương thức mới, cụ thể để truyền Đạo cho c�c đồng hương . Một l� , Đối Thoại , � Thăm viếng th�n hữu c�c th�nh vi�n t�n gi�o bạn; trao đổi với người ngo�i c�ng gi�o về một đề t�i chung; hai l� , �thiết lập ban truyền gi�o cho mỗi gi�o xứ, v� �kết nghĩa� giữa một gi�o xứ k� cựu với một gi�o điểm xa x�i hẻo l�nh; mỗi gia đ�nh c�ng gi�o n�n kết nghĩa với một gia đ�nh ngo�i c�ng gi�o ..
Sau đ�y, Đoạn I , xin giới thiệu một phương thức �đối thoại� với 80% đồng hương để đ�nh tan mọi nghi kị, hiểu lầm, v� đem lại t�nh th�n hữu, th�ng cảm. Đ�y ch�nh l� phương c�ch tiếp cận, chia sẻ về c�c gi� trị văn h�a chung của d�n tộc . Đoạn II , l�m c�ch n�o để truyển Đạo cho giới trẻ, cho ch�nh con ch�u trong gia đ�nh , để ch�ng bảo to�n Đức Tin của tồ ti�n, v� tinh hoa văn h�a của d�n tộc?
1. ĐỐI THOẠI TR�N B�NH DIỆN: GI� TRỊ VĂN H�A
ĐẠO THI�N CH�A đ� du nhập v�o Việt nam gần 500 năm, nhưng trong một bối cảnh lịch sử rối ren, loạn lạc, Nam-Bắc ph�n tranh, thế lực thực d�n ngoại lai đang b�nh trướng, n�n đ� g�y ra nơi c�c giới đồng hương những mối nghi kị, hiểu lầm, đố kị, vẫn c�n dai dẳng k�o d�i cho đến ng�y nay, khiến cho sự đại đo�n kết d�n tộc gặp nhiều trở lực, quốc gia kh�ng thể ph�t triển mạnh được. Khu�n mặt thật của Đạo Ch�a đ� bị một số con bu�n của chủ nghĩa thực d�n l�m lem luốc, n�n người ta kh�ng nhận ra được Tin Mừng của Ch�a Cứu Thế. Do đ�, cần phải giải gỡ những mối nghi kị, đ�nh tan những hiểu lầm, xuy�n tạc , đồng thời tr�nh b�y một c�ch trung thực cốt tuỷ của Đạo Thi�n Ch�a, một Đạo Mến Ch�a , Y�u Người . So s�nh những điểm ch�nh yếu của Đạo với những n�t tinh t�y của văn h�a d�n tộc, để tạo n�n niềm th�ng cảm chung v� t�nh tương th�n tương k�nh. Đ�y l� những c�ng t�c văn h�a quan trọng hơn việc ph� trương hiếu thắng(triumphalism) bề ngo�i.
Tuy kh�ng chấp nhận một số quan điểm ch�nh trị sai lầm của một v�i c� nh�n thừa sai ngoại quốc đ� kh�ng theo đ�ng chỉ thị của Hội Th�nh trong việc truyền Đạo, nhưng c�c sự kiện lịch sử cận đại của Việt nam cũng cho thấy: Nguy�n nh�n ch�nh khiến nước ta bị thực d�n x�m chiếm l� v� ch�nh s�ch sai lầm về ngoại giao :� bế quan tỏa cảng �, v� d�n nước loạn lạc, ngh�o đ�i, v� quan lại tham nhũng, thủ cựu, qu�n ngũ yếu nhược, vũ kh� th� sơ�,chứ một v�i thừa sai ngoại quốc sống chui r�c, len lỏi trong th�n d�, rừng n�i, cho d� c� l�m �l�m gi�n điệp�, �nối gi�o cho giặc �, th� cũng kh�ng thể n�o l�m ta mất nước được!
Tục ngữ c� c�u: một con s�u l�m rầu nồi canh. � nghĩa c�u n�y dạy ta phải bảo to�n t�nh li�n đới, v� tiếng tốt cho đo�n thể. Nhưng nếu �p dụng cho c�ch lập luận �bao đồng�, �vơ đũa cả nắm�, từ một v�i sự kiện lẻ tẻ rồi vội �tổng qu�t h�a�( generalization) th� vừa phản luận l�, vừa thiếu c�ng bằng, g�y hiểu lầm, tạo th�nh kiến, chia rẽ, như vẫn thường xẩy ra trong c�c cộng đồng. Trong qu� khứ, nếu một v�i c� nh�n thừa sai ngoại quốc, v� quan điểm ri�ng về ch�nh trị, đ� cộng t�c với thực d�n, nhưng kh�ng v� thế m� c� thể l� luận �bao qu�t� rằng Đạo Ch�a l� �tả đạo �, l� �b�n nước �, l� �m�c mắt trẻ con�..
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đ�n Gi�o D�n số 28 th�ng 3/2004 trang 84)