ĐI VÀO SA MẠC

TRỞ V�̀ NGU�̀N VỚI THÁNH AN-T�N

Hương Vĩnh

H�̀i �́y, �ng Gio-an T�̉y Giả đ�́n rao giảng trong hoang địa mi�̀n Giu-đ� rằng:   Anh em hãy sám h�́i, vì Nước Trời đã đ�́n g�̀n.� �ng chính là người được ng�n sứ I-sai-a nói tới: �Có ti�́ng người h� trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa l�́i cho thẳng đ�̉ Người đi�. (Mát-th�u 3, 1-4)

Đức Gi�su được đ�̀y Thánh Th�̀n, từ s�ng Gio-đan trở v�̀. Su�́t b�́n mươi ngày, Người được Thánh Th�̀n d�̃n đi trong hoang địa và chịu quỷ cám d�̃. (Lu-ca 4, 1-2)

 

Hằng năm, m�̃i khi Mùa Chay trở v�̀, m�̣t trong những đ�̀ tài suy ni�̣m được ưa thích nh�́t là �ĐI VÀO SA MẠC�.

Ngược dòng lịch sử, trong vòng vài trăm năm sau khi Chúa Gi�su giáng tr�̀n, m�̣t sự khao khát s�́ng đời c�̀u nguy�̣n th�m s�u được tìm th�́y nơi rừng s�u núi thẳm mi�̀n Bắc Phi ch�u. Ni�̀m khát khao đó là ngu�̀n hứng khởi cho vi�̣c bắt đ�̀u thực hành chi�m ni�̣m Kit� giáo r�́t thịnh hành trong những vùng dọc theo s�ng Nile. Đi�̉m khởi đ�̀u đời s�́ng tu trì đó đã h�́p d�̃n nhi�̀u người đ�́n từ mi�̀n Ai-C�̣p, cũng như những nơi khác thu�̣c cựu th�́ giới và đã g�y ngu�̀n hứng khởi trong vi�̣c thành l�̣p những c�̣ng đ�̀ng tu trì khắp vùng Địa Trung Hải và lan tới cả �u ch�u cùng những vùng xa x�i hơn nữa.

Ni�̀m hứng khởi đ�̀u ti�n đ�́i với phong trào s�́ng đời tu trì trong ch�́n rừng s�u núi thẳm ph�̀n lớn được gắn li�̀n cho Thánh An-T�n ở Ai-C�̣p. An-T�n sinh vào khoảng năm 250. Khi ngài l�n mười tám tu�̉i, cả cha l�̃n mẹ của ngài qua đời, đ�̣t nhi�n đ�̉ lại cho ngài trách nhi�̣m phải quán xuy�́n m�̣t gia sản đ�̀ s�̣. Bị gánh nặng của những ưu tư mới n�̀y, ngài đọc th�́y trong Phúc �m c�u sau đ�y: �Hãy bán h�́t những gì ngươi có và b�́ thí cho người nghèo�. Những lời nói đó đã xuy�n th�́u con tim của ngài: kh�ng th�̉ qu�n được, ngài đã mau mắn tước bỏ gia tài thừa hưởng và đã ph�n phát ti�̀n tài cùng sản v�̣t cho người nghèo khó. Trong vòng mười lăm năm sau đó, ngài đã thực hành đời s�́ng tu trì với những �̉n sĩ s�́ng rải rác trong vùng. Trong khi c�́ gắng ti�́n tới trong đời s�́ng tu đức, An-T�n ti�́p tục s�́ng g�̀n thành ph�́ sinh trưởng của mình, làm vi�̣c bằng tay ch�n đ�̉ cung ứng cho mình những nhu c�̀u v�̣t ch�́t c�̀n thi�́t và ph�̀n thừa thải ngài đã đem b�́ thí cho những người nghèo khó.

Mặc dù ngài s�́ng đời t�̣n hi�́n bằng khó nghèo, hãm mình và ti�́t ch�́, nhưng danh ti�́ng của ngài đã được đ�̀n đãi r�́t xa. An-T�n ti�́p tục c�́ gắng s�́ng cu�̣c đời bu�ng bỏ trọn vẹn bằng đức tin và c�̀u nguy�̣n. Vào tu�̉i đ�̣ ba mươi lăm, ngài bắt đ�̀u s�́ng s�u trong những vùng xa x�i hẻo lánh hơn. Có thời gian ngài s�́ng trong m�̣t m�̣ ph�̀n nơi hoang địa và m�̣t người bạn mang đ�́n cho ngài những thứ c�̀n thi�́t đ�̉ s�́ng qua ngày. Chẳng bao l�u ở đó ngài đã gặp những chước cám d�̃ khủng khi�́p nh�́t cho đ�́n đ�̃i đã khi�́n th�n th�̉ ngài rã rời và hoàn toàn m�́t h�́t sinh lực. Khi người bạn thường ngày đ�́n thăm vi�́ng ngài, th�́y ngài b�́t tỉnh ở trong m�̣ ph�̀n, đã mang ngài tới m�̣t nhà thờ và d�n chúng địa phương đã v�y quanh đ�̉ canh thức c�̀u nguy�̣n. Khi tỉnh lại vào giữa đ�m khuya, An-T�n th�́y mình đang bị bao quanh bởi m�̣t nhóm người đang ngủ. Chỉ có người bạn còn thức b�n cạnh, An-T�n đã vang xin mang ngài trở lại đ�̉ ch�n mình trong m�̣ ph�̀n và ngài bắt đ�̀u chịu mọi thử thách trở lại. Kh�ng th�̉ đứng d�̣y đ�̉ c�̀u nguy�̣n, ngài nằm trong m�̣t trạng thái b�́t đ�̣ng trong khi ng�i m�̣ bị rung chuy�̉n vì những dã thú hi�̣n ra. Sư tử và bò đực, rắn r�́t và bò cạp, t�́t cả đ�̀u xu�́t hi�̣n trước An-T�n, t�́n c�ng ngài v�̀ mặt th�̉ xác nhưng ngài v�̃n bình tỉnh và ngài đã la lớn vào đám quỉ dữ: �N�́u chúng bay có chút quy�̀n lực nào, chỉ c�̀n m�̣t đứa trong chúng bay tới đ�y.�

Ít l�u sau đó, tòa nhà có ng�i m�̣ ở b�n trong mà trước đ�y đã bị lay chuy�̉n đ�́n t�̣n n�̀n móng, lại l�̀n nữa trở n�n nguy�n vẹn. Ma quỉ và thú v�̣t đã rút lui trong r�́i loạn và bi�́n m�́t, tức thì cơ th�̉ của ngài h�́t đau đớn, mái nhà được mở ra và ng�i m�̣ tràn đ�̀y ánh sáng. Nh�̣n thức v�̀ thị ki�́n đó, An-T�n cảm th�́y hơi thở của mình trở n�n �̉n định và ngài thưa: �Chúa ở đ�u? Sao Chúa kh�ng xu�́t hi�̣n ngay từ đ�̀u đ�̉ Chúa có th�̉ ngăn chặn cho con bớt n�̃i kh�́n kh�̉?� M�̣t ti�́ng nói đ�́n với ngài: �Cha ở đ�y, An-T�n ạ, nhưng Cha đợi xem con chi�́n đ�́u. Và giờ đ�y, vì con đã ki�n nh�̃n và kh�ng bị đánh bại, Cha sẽ là người h�̃ trợ con mãi mãi.�

Sau đó, An-T�n đã vào s�u hơn trong rừng núi. Ngài giam mình trong m�̣t pháo đài ki�n c�́ trong nhi�̀u năm, s�́ng h�̀u như bằng bánh mì kh� và nước lã. Ngài ít ti�́p xúc với người khác, nhưng vì danh ti�́ng của ngài đ�̀n xa, nhi�̀u m�n đ�̣ bắt đ�̀u s�́ng t�̣p trung chung quanh pháo đài. Cu�́i cùng những đ�̣ tử đó nóng lòng mu�́n được học hỏi n�n đã phá s�̣p cửa pháo đài. Sau nhi�̀u năm s�́ng �̉n d�̣t, An-T�n mạnh khỏe và mặt mày sáng rực, đã xu�́t hi�̣n cho đám m�n đ�̀ ngưỡng m�̣.

Trong m�̣t cu�̣c s�́ng ngắn ngủi với c�ng chúng, An-T�n đã chữa b�̣nh, dàn x�́p những cu�̣c tranh ch�́p, an ủi những người gặp khó khăn, thuy�́t giảng và g�y ni�̀m hứng khởi cho nhi�̀u người khác mu�́n d�́n th�n s�́ng đời c� tịch. D�̀n d�̀n những núi rừng trong những mi�̀n l�n c�̣n đã có nhi�̀u người nóng lòng mu�́n bắt chước An-T�n và s�́ng m�̣t cu�̣c đời c�̀u nguy�̣n cùng chi�m ni�̣m trong kỷ cương. Nhưng chẳng bao l�u ngài lại rút vào s�u hơn trong rừng thẳm. Được m�̣t nhóm b�̣ hành du mục đi theo, ngài tới giữa m�̣t vùng rừng núi và gặp m�̣t su�́i nước r�́t trong với m�̣t ít c�y chà là. Ngài say m� ch�̃ đó và đã ki�́m m�̣t mảnh đ�́t b�n cạnh đ�̉ cày c�́y. Ngài tr�̀ng lúa mì đ�̉ l�́y b�̣t nu�i s�́ng bản th�n và đãi khách. S�́ b�̣t dư thừa ngài trao cho các khách b�̣ hành mang v�̀ b�́ thí cho những người nghèo khó trong thành ph�́. An-T�n đã s�́ng những ngày còn lại của mình trong ch�́n núi rừng đó, đ�i khi ngài đã rời nơi đó đ�̉ giúp đỡ những c�̣ng đ�̀ng tu sĩ đang được thành l�̣p trong vùng, đ�i khi ngài ti�́p khách hành hương, nhưng ngài lu�n trung thành với đời s�́ng c� tịch trong c�̀u nguy�̣n và hãm mình, cho tới năm 356, ngài đã qua đời khi được 105 tu�̉i.

Trong vòng b�́n mươi năm sau khi An-T�n qua đời, cu�̣c s�́ng tu vi�̣n bắt đ�̀u tràn lan khắp mi�̀n Địa Trung Hãi. Vào khoảng năm 394, bảy tu sĩ đã thành l�̣p m�̣t tu vi�̣n ri�ng ở Gi�rusalem và đã tr�̉y đi thăm vi�́ng xứ Ai-C�̣p. M�̣t trong những tu sĩ đ�̀u ti�n mà họ thăm vi�́ng là Gioan Lycopolis. Ngài đã ni�̀m nở ti�́p đón họ và ph�́n khởi th�́y họ cương quy�́t đi xa như th�́ đ�̉ tới m�̣t nơi xa x�i hẻo lánh n�n hỏi: �Các con y�u d�́u, các con tr�ng chờ gặp được đi�̀u gì đặc bi�̣t mà các con đã khó nhọc đi xa x�i như th�́ đ�̉ mong được thăm vi�́ng m�̣t con người t�̀m thường t�̣i nghi�̣p kh�ng có gì đáng đ�̉ xem và chi�m ngưỡng? Những người đáng được chi�m ngưỡng và ca ngợi thì ở khắp nơi: những t�ng đ�̀ và những ng�n sứ của Chúa thường rao giảng trong các thánh đường. Đó là những người mà các con đáng bắt chước. Cha r�t ngạc nhi�n th�́y sự nhi�̣t thành của các con, đã vượt l�n tr�n bi�́t bao nguy hi�̉m đ�̉ đ�́n với chúng t�i h�̀u được khai quang th�̀n trí, trong khi chúng t�i chi bi�́ng lười đ�́n đ�̃i kh�ng mu�́n ra khỏi nơi hang đ�̣ng của chúng t�i.�

 

(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đ�n Gi�o D�n số 29 th�ng 4/2004 trang 104)

Trở lại Trang Nh�: