Đ�̃ Như Đi�̣n
Năm 2004 được H�̣i Đ�̀ng Giám Mục Vi�̣t Nam (HĐGMVN) chọn là năm �Loan Báo Tin Mừng�, năm truy�̀n giáo, năm đáp lại lời mời gọi �Ra Khơi� của đức đương kim Giáo Hoàng như trong lời mở đ�̀u Thư Mục Vụ của HĐGMVN ngày 11 tháng 10 năm 2003.
Loan báo tin mừng là sứ mạng của H�̣i Thánh, và của m�̃i người tín hữu c�ng giáo. Trong b�́i cảnh Vi�̣t Nam ngày nay đó là b�̉n ph�̣n của khoảng 6 tri�̣u[1] tín đ�̀ c�ng giáo giữa m�̣t c�̣ng đ�̀ng d�n t�̣c 80 tri�̣u người; còn ở hải ngoại là b�̉n ph�̣n của khoảng nửa tri�̣u tín đ�̀ trong khoảng 2.5 tri�̣u người Vi�̣t rải rác trong nhi�̀u qu�́c gia, và tại những qu�́c gia nơi định cư.
Nói đ�́n truy�̀n giáo, hay loan báo tin mừng h�m nay, kh�ng th�̉ kh�ng nhìn lại quãng đường H�̣i Thánh đã đi qua ỡ nước ta k�̉ từ năm 1533 khi những giáo sĩ đ�̀u ti�n đ�́n giảng đạo ở vùng Ninh Cường, Qu�̀n Anh thu�̣c Bùi Chu ngày nay. Những ai đã nghi�n cứu lịch sử truy�̀n giáo ở Á Ch�u nói chung và Vi�̣t Nam nói ri�ng trong thời gian hơn 450 năm qua thì th�́y rằng các nhà truy�̀n giáo đã gặp mu�n vàn khó khăn, tưởng như kh�ng th�̉ vượt qua được n�́u kh�ng có ơn Chúa giúp, và nh�̣n th�́y người bản xứ ch�́p nh�̣n t�n giáo mới kh�ng đơn giản như nhi�̀u người tưởng.
Những khó khăn lớn nh�́t có th�̉ tóm lại trong ba y�́u t�́ chính: M�̣t là tại Á Ch�u đã có những t�n giáo, tín ngưỡng từ xa xưa. Thứ hai những khác bi�̣t s�u xa giữa hai n�̀n văn hoá đ�ng t�y, và thứ ba là những ảnh hưởng của các th�́ lực chính trị. Đ�y là những khó khăn từ bao nhi�u th�́ kỷ, và v�̃n còn đ�́n ngày h�m nay, có lẽ vì v�̣y mà sau m�́y trăm năm truy�̀n giáo, Á Ch�u chỉ có khoảng 3% d�n s�́ là C�ng Giáo.
Trong bài này người vi�́t chỉ mu�́n đ�̀ c�̣p đ�́n m�̣t khía cạnh nhỏ đó là m�̣t s�́ phong tục t�̣p quán ở Vi�̣t Nam dưới mắt các nhà truy�̀n giáo.
Nói đ�́n phong tục t�̣p quán ở VN cũng là m�̣t v�́n đ�̀ phức tạp, vì đ�́i với m�̣t d�n t�̣c đã có lịch sử l�u dài như Vi�̣t Nam, lại chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa sau hơn m�̣t ngàn năm bắc thu�̣c, t�́t nhi�n có r�́t nhi�̀u phong tục, t�̣p quán, truy�̀n th�́ng đã chi ph�́i suy tư và cung cách s�́ng của người d�n; có những phong tục du nh�̣p từ phương bắc, có những t�̣p quán của người địa phương; có những t�̣p quán ph�̉ quát tr�n bình di�̣n qu�́c gia, có những t�̣p tục ở từng mi�̀n, từng vùng, m�̃i nơi có những sắc thái văn hóa đặc thù của nơi �́y. Mu�́n th�́u hi�̉u tường t�̣n thì phải khảo cứu, ti�́p c�̣n và hòa nh�̣p vào chính mạch s�́ng �́y, d�̀u v�̣y cũng chưa chắc đã có những cảm nh�̣n gi�́ng người Vi�̣t.
Khi các nhà truy�̀n giáo t�y phương đ�́n nước ta vào th�́ kỷ 16, 17 thì họ nh�̣n ra những khác bi�̣t chính là những t�n giáo đã có từ l�u và ăn r�̃ s�u vào n�́p s�́ng của người d�n là Lão Giáo, Nho Giáo, và Ph�̣t Giáo. Ti�́p theo là những nghi l�̃ kh�ng hoàn toàn mang tính t�n giáo, mà là những tục l�̣, truy�̀n th�́ng pha tr�̣n g�̀m các l�̃ h�̣i thờ th�̀n, t�n kính danh nh�n, cúng t�́ vong linh người quá c�́, ngày đản nh�̣t, tử vi, bói toán, chọn ngày tháng, phong thủy, phương hướng, đ�̀ng bóng, đa th�....Nói m�̣t cách t�̉ng quát thì t�́t cả những sinh hoạt này hợp lại làm n�n nét văn hóa Vi�̣t Nam.
Vào th�́ kỷ 16, 17 các phương ti�̣n khảo cứu còn r�́t giới hạn, v�́n đ�̀ ng�n ngữ là m�̣t trở ngại lớn, n�n các giáo sỹ có th�̉ chưa đi s�u vào những căn nguy�n n�̀n văn hóa ở Á Ch�u. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1595-1660) đ�́n giảng đạo ở Vi�̣t Nam và giáo sĩ Matteo Ricci (1552- 1610) truy�̀n giáo ở Trung Hoa, có lẽ là hai người đi ti�n phong trong v�́n đ�̀ h�̣i nh�̣p văn hóa trong c�ng cu�̣c truy�̀n giáo. Hai vị này đã tìm hi�̉u, học hỏi và s�́ng hòa đ�̀ng với người địa phương, nh�́t là linh mục Ricci, nhờ v�̣y hai vị này đã gặt hái được những thành quả đáng k�̉.
Qua các tài li�̣u cuả hai giáo sĩ này đ�̉ lại cho th�́y đã đ�̀ c�̣p nhi�̀u đ�́n các bu�̉i đ�́i thọai, trao đ�̉i, tranh lu�̣n với những nhà trí thức thời �́y, nhưng kh�ng được ghi lại đ�̀y đủ n�̣i dung các đ�̀ tài họ đã bàn lu�̣n, nh�́t là những đ�̀ tài thu�̣c các lãnh vực tri�́t lý, th�̀n học, si�u hình học; d�̀u v�̣y nhờ vào những bản tường trình cho th�́y họ nh�̣n ra những khác bi�̣t quan trọng v�̀ vũ trụ quan. Ta có th�̉ tóm tắt m�́y đi�̉m chính như sau: Đ�ng phương dựa vào kinh dịch theo nh�́t nguy�n lu�̣n thì vạn v�̣t nh�́t th�̉, tức là vũ trụ vạn v�̣t là m�̣t kh�́i. Khởi nguy�n vũ trụ càn kh�n từ thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái bi�́n thái kh�n lường mà có vũ trụ vạn v�̣t. R�̀i dựa vào tư tưởng Lão-Trang, m�̣t khái ni�̣m tri�́t học trừu tượng v�̀ nguy�n lý vũ trụ là Đạo. Chương 25 trong Đạo Đức Kinh có ý nghĩa: Đạo là m�̣t đi�̀u kh�ng di�̃n tả được do h�̃n mang mà có, nhưng mu�n v�̣t từ đó mà ra, kh�ng bi�́t ai đã tạo dựng, lúc chưa có trời đ�́t đã có, từ đó sinh ra vạn v�̣t, nhưng kh�ng ở cùng vạn v�̣t, vừa tr�́ng kh�ng, vừa y�n lặng, đi khắp nơi mà kh�ng dừng, là sự hi�̣n hữu theo lẽ tự nhi�n mà mắt kh�ng nhìn th�́y, tai kh�ng nghe th�́y, tay kh�ng bắt được, kh�ng có t�n, n�n gọi là Đạo.
Cũng từ Kinh Dịch thì Đạo là thái cực, thái cực huy�̀n bí bi�́n hóa kh�n lường theo lu�̣t tương đ�́i �m-dương mà sinh ngũ hành là năm y�́u t�́ c�́u thành vũ trụ, tức thủy, hỏa, kim, m�̣c, th�̉. Từ lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái d�̃n đ�́n lý thuy�́t s�́, bi�̉u thị bằng những m� hình đ�̉ di�̃n tả c�́u trúc kh�ng gian của vũ trụ. Từ phương cách c�́u trúc và v�̣n hành của vũ trụ d�̃n đ�́n tam tài, tức là sự li�n h�̣ giữa thi�n-địa-nh�n, đó là trời đ�́t và con người. Những bi�̉u thị của m�́i li�n h�̣ tam tài trong Hà Đ�̀, Lạc Thư, trở thành nguy�n lý đ�̉ các nhà chi�m tinh căn cứ vào đó mà suy đóan v�n s�́ của m�̃i người, v�̣n s�́ của m�̣t qu�́c gia, tương lai thời th�́ của nh�n loại. Dĩ nhi�n các giáo sĩ phương t�y làm sao ch�́p nh�̣n được những lý lẽ v�̀ ngu�̀n g�́c vũ trụ theo ý ni�̣m đ�ng phương tr�n đ�y.
[1] Bản th�́ng k� do m�̣t chuy�n gia khảo cứu vào cu�́i năm 2001 thì VN có 5,324,449 (6.6%) người c�ng giáo trong t�̉ng s�́ 80,522,857 người VN.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đ�n Gi�o D�n số 29 th�ng 4/2004 trang 45)