Trương Minh
M�̣t ngày sau tháng 4-1975, m�̣t ngươì Mi�̀n Nam gặp m�̣t anh b�̣ đ�̣i Mi�̀n Bắc. Kh�ng bi�́t vì sợ hãi hay vì mu�́n chi�́m cảm tình anh b�̣ đ�̣i, anh người Mi�̀n Nam bu�̣t mi�̣ng chào:
- Xin chào đ�̀ng chí.
Anh b�̣ đ�̣i Mi�̀n Bắc nghi�m trang phản ứng:
- Anh kh�ng được xưng h� đ�̀ng chí với chúng t�i, bởi vì các anh kh�ng phải là đ�̀ng chí của chúng t�i.
Tưởng rằng xưng h� như th�́ sẽ được cảm tình của anh b�̣ đ�̣i, nào ngờ anh Mi�̀n Nam bị phản ứng ngược và bị mắng cho m�̣t tr�̣n m�́t mặt trước đám đ�ng.
Trong thời gian g�̀n đ�y, khá nhi�̀u người dùng danh từ Giáo ph�̣n Thành ph�́ H�̀ Chí Minh thay vì gọi là Giáo ph�̣n Sài Gòn, ngay cả m�̣t s�́ văn bản xu�́t phát từ Tòa T�̉ng Giám Mục tại s�́ 180 Nguy�̃n Đình Chi�̉u, Qu�̣n 3, Thành ph�́ H�̀ Chí Minh. Chúng ta thử ph�n tích đ�̉ xem danh từ nào đúng nhằm th�́ng nh�́t trong vi�̣c sử dụng.
Lịch sử của Giáo H�̣i C�ng Giáo Vi�̣t Namv�̀ vi�̣c hình thành các giáo ph�̣n và t�̉ng giáo ph�̣n (giáo tỉnh) như sau:
Ngày 09-09-1659, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII ban hành sắc l�̣nh thi�́t l�̣p hai giáo ph�̣n đ�̀u ti�n tại Vi�̣t Nam: Giáo ph�̣n Đàng Trong do Đức Cha Lambert de la Motte cai quản và Giáo ph�̣n Đàng Ngoài do Đức Cha Francois Pallu cai quản.
Ngày 24-11-1960, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII ký T�ng Hi�́n Venerablium Nostrorum, được c�ng b�́ ngày l�̃ Đức Mẹ V� Nhi�̃m Nguy�n T�̣i, 08-12-1960, thi�́t l�̣p Hàng Gáo ph�̃m Vi�̣t Nam và ph�n chia Giáo H�̣i Vi�̣t Nam thành 3 Giáo tỉnh như sau:
Giáo tỉnh Hà N�̣i, bao g�̀m:
- Giáo ph�̣n Hà N�̣i (tách từ Giáo ph�̣n Đàng Ngoài năm 1679)
- Giáo ph�̣n Hải Phòng (thành l�̣p 1679)
- Giáo ph�̣n Bùi Chu (thành l�̣p 1848)
- Giáo ph�̣n Bắc Ninh (thành l�̣p 1883)
- Giáo ph�̣n Vinh (thành l�̣p 24-11-1960)
- Giáo ph�̣n Hưng Hoá (thành l�̣p 1895)
- Giáo ph�̣n Phát Di�̣m (thành l�̣p 1901)
- Giáo ph�̣n Lạng Sơn (thành l�̣p 1913)
- Giáo ph�̣n Thanh Hóa (thành l�̣p 1932)
- Giáo ph�̣n Thái Bình (thành l�̣p 1936)
Giáo tỉnh Hu�́, bao g�̀m:
- Giáo ph�̣n Hu�́ (thành l�̣p 1850 )
- Giáo ph�̣n Qui Nhơn (thành l�̣p 1844)
- Giáo ph�̣n Kontum (thành l�̣p 1932)
- Giáo ph�̣n Nha Trang (thành l�̣p 1957)
Giáo tỉnh Sài Gòn, bao g�̀m:
- Giáo ph�̣n Sài Gòn (tách từ Giáo ph�̣n Đàng Trong năm 1844)
- Giáo ph�̣n Vĩnh Long (thành l�̣p 1938)
- Giáo ph�̣n C�̀n Thơ (thành l�̣p 1955)
- Giáo ph�̣n Đà Lạt (thành l�̣p 27-11-1960)
- Giáo ph�̣n Mỹ Tho (thành l�̣p 24-11-1960 )
- Giáo ph�̣n Long Xuy�n (thành l�̣p 24-11-1960)
Vì nhu c�̀u phát tri�̉n, Tòa Thánh đã cho thành l�̣p th�m các giáo ph�n mới: Giáo ph�̣n Đà Nẳng (thành l�̣p năm1963), Giáo ph�̣n Xu�n L�̣c (thành l�̣p năm 1965), Giáo ph�̣n Phú Cường (thành l�̣p năm 1965), Giáo ph�̣n Ban M� Thu�̣t (thành l�̣p năm1967) và Giáo ph�̣n Phan Thi�́t (thành l�̣p năm1975).
T�̉ng c�̣ng, từ xưa đ�́n nay, Giáo h�̣i Vi�̣t Nam có 25 Giáo ph�̣n. Trong 25 Giáo ph�̣n, chúng ta kh�ng th�́y có m�̣t Giáo ph�̣n nào được đăt t�n nguy�n thủy là Giáo ph�̣n Thành ph�́ H�̀ Chí Minh, cũng kh�ng th�́y có m�̣t sắc l�̣nh nào từ Tòa Thánh đ�̉i t�n cho Giáo ph�̣n Sài Gòn thành Giáo ph�̣n Thành ph�́ H�̀ Chí Minh.
Chúng ta n�n ph�n bi�̣t địa lý hành chánh của m�̣t qu�́c gia trong vi�̣c đặt t�n cho các tỉnh và thành ph�́ với t�n gọi của các giáo ph�̣n từ khi được Tòa Thánh thi�́t l�̣p.
Vi�̣t Nam là m�̣t nước có r�́t nhi�̀u thay đ�̉i v�̀ địa lý hành chánh, nh�́t là sau ngày 30-04-1975. Nhưng kh�ng phải vì th�́ mà chúng ta cũng phải thay đ�̉i t�n gọi của giáo ph�̣n. Có m�̣t thơì người ta gom 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thi�n đ�̉ đặt t�n là tỉnh Bình Trị Thi�n, nhưng chúng ta đã kh�ng vì th�́ mà đ�̉i t�n Giáo ph�̣n Hu�́ thành Giáo ph�̣n Bình Trị Thi�n. Cũng th�́, chúng ta kh�ng th�̉ gọi Giáo ph�̣n Phan Thi�́t là Giáo ph�̣n Thu�̣n Hải, hay Giáo ph�̣n Bình Thu�̣n, hoặc gọi Giáo ph�̣n Xu�n L�̣c là Giáo ph�̣n Đ�̀ng Nai, Giáo ph�̣n Đà Lạt là Giáo ph�̣n L�m Đ�̀ng, v.v�
N�́u dựa vào địa lý hành chánh đ�̉ thay đ�̉i t�n gọi của m�̣t giáo ph�̣n thì ngay cả tr�n v�́n đ�̀ ranh giới cũng có nhi�̀u trường hợp kh�ng hợp lý. Ví dụ: Thành ph�́ H�̀ Chí Minh bao g�̀m Huy�̣n Củ Chi, nhưng m�̣t ph�̀n lớn Huy�̣n Củ Chi lại thu�̣c Giáo ph�̣n Phú Cường.
M�̃i ch�́ đ�̣ xã h�̣i đ�̀u có sự ph�n chia địa lý hành chánh khác nhau, nhưng Giáo h�̣i thì kh�ng phụ thu�̣c vào ch�́ đ�̣ nào khi ph�n vùng và đặ̣t t�n cho các giáo ph�̣n.
Th�́ n�n, đúng hay sai khi chúng ta gọi Giáo ph�̣n Sài Gòn là Giáo ph�̣n Thành ph�́ H�̀ Chí Minh? N�n hay chăng? Li�̣u chúng ta có thay đ�̉i t�n gọi của Giáo ph�̣n Sài Gòn m�̣t l�̀n nữa, n�́u m�̣t mai thành ph�́ này lại đ�̉i t�n, như thành ph�́ Leningrad đã đ�̉i t�n trở v�̀ với t�n cũ là Peterburg?
Dù sao đi nữa, chúng ta cũng n�n gọi cho đúng, vì ít ra, chúng ta kh�ng bị ngươì đời ch� trách, thì cũng bị mắng như anh b�̣ đ�̣i Mi�̀n Bắc đã mắng m�̣t người d�n Mi�̀n Nam ở c�u chuy�̣n k�̉ tr�n. �