Minh Võ
Ellen J. Hammer (1922-2001) là nữ học giả, sử gia, nhà báo, l�̃i lạc của Mỹ. Theo bà, chính quy�̀n D�n Chủ của t�̉ng th�́ng Kennedy đã phạm sai l�̀m trong chủ trương l�̣t đ�̉ n�̀n đ�̣ nh�́t C�̣ng Hòa Vi�̣t Nam đưa đ�́n cái ch�́t của t�̉ng th�́ng Ng� Đình Di�̣m và sự sa l�̀y của Mỹ tại chi�́n trường Vi�̣t Nam.
Với quan đi�̉m này, Ellen J. Hammer mang t�m trạng chán nản trước các di�̃n bi�́n chính trường, kh�ng còn mu�́n c�̀m bút bày tỏ ý ki�́n v�̀ mọi v�́n đ�̀ thời cu�̣c trong m�̣t thời gian dài.
Tuy nhi�n, năm 1988, Ellen J. Hammer lại trở lại với vi�̣c c�̀m bút và hoàn t�́t tác ph�̉m A Death In November: America in Vietnam, 1963, (1) n�u ra nhi�̀u thủ đoạn của m�̣t s�́ giới chức Mỹ thời �́y li�n quan tới cu�̣c đảo chính 1-11-1963 tại mi�̀n Nam Vi�̣t Nam.
Trong tác ph�̉m này, Ellen J. Hammer bày tỏ l�̣p trường b�nh vực t�̉ng th�́ng Ng� Đình Di�̣m, h�́t lời tán dương các chính sách do Ng� Đình Di�̣m chủ trương khi�́n Douglas Pike, m�̣t chuy�n gia v�̀ các v�́n đ�̀ Vi�̣t Nam còn n�̉i ti�́ng hơn Hammer đã đưa ra m�̣t lời khen đượm vẻ mỉa mai là Hammer �trung thành ri�ng với �ng Di�̣m� � personally loyal to Diem.
Năm 1947, khi mới ra trường, còn đ�̣c th�n ở tu�̉i 25, Hammer đã có tác ph�̉m đ�̀u tay v�̀ Vi�̣t Nam, The Emergence of Vi�̣t Nam (2).
B�́n năm sau, 1951, bà có th�m 2 tác ph�̉m nói v�̀ đ�̀ tài Đ�ng Dương và hai năm sau nữa, 1953, bà đưa ra tác ph�̉m ph�n tích ri�ng v�̀ hoạt đ�̣ng chính trị và đảng phái ở Vi�̣t Nam.
Năm 1954, Ban Báo Chí Đại Học Stanford, California cho ph�̉ bi�́n tác ph�̉m thứ nh�́t của Hammer bàn v�̀ chi�́n tranh Đ�ng Dương, nhan đ�̀ The Struggle For Indochina � Chi�́n đ�́u cho Đ�ng Dương. (3)
Trong tác ph�̉m này, Hammer thu�̣t lại, ph�n tích và đánh giá hoạt đ�̣ng của hai phe Qu�́c C�̣ng Vi�̣t Nam thời khoảng 1945-1954 trong khung cảnh đ�́u tranh loại trừ quy�̀n lực của người Pháp tại Đ�ng Dương qua nhi�̀u di�̃n bi�́n từ các cu�̣c thương thuy�́t, các tr�̣n đánh tới sự can thi�̣p của Hoa Kỳ, sự xu�́t hi�̣n của Trung C�̣ng sau 1949 cũng như cục di�̣n xoay v�̀n từ m�̣t cu�̣c chi�́n địa phương thành cu�̣c xung đ�̣t qu�́c t�́.
Tác ph�̉m ch�́m dứt khi tr�̣n Đi�̣n Bi�n Phủ chưa ngã ngũ và h�̣i nghị Genève còn đang bàn v�̀ v�́n đ�̀ Tri�̀u Ti�n. Tuy nhi�n Hammer đã nói đ�́n vi�̃n tượng chia đ�i lãnh th�̉ Vi�̣t Nam, vì cả Pháp l�̃n Vi�̣t Minh đ�̀u mu�́n như v�̣y trong khi Li�n X�, Trung C�̣ng tỏ ra kh�ng phản đ�́i.
Tác giả cho rằng H�̀ Chí Minh l�̣ thu�̣c kh�́i C�̣ng chẳng khác gì phe qu�́c gia với qu�́c trưởng Bảo Đại lúc �́y l�̣ thu�̣c Pháp. Nhưng tác giả nhìn nh�̣n trước đó, H�̀ Chí Minh đã khéo léo l�̣p được Mặt Tr�̣n Vi�̣t Minh và đặt Bảo Đại vào th�́ tự nguy�̣n thoái vị. Theo tác giả, vì nhà vua v�́n được sự kính trọng và tu�n phục của nh�n d�n Vi�̣t Nam n�n vi�̣c tự nguy�̣n thoái vị đã giúp H�̀ Chí Minh tạo được cho mình th�́ đứng vừa hợp pháp vừa hợp lòng d�n.
Tác giả cũng thu�̣t lại có l�̀n H�̀ Chí Minh đã ngụ ý rằng sẵn sàng hành đ�̣ng trong khu�n kh�̉ m�̣t n�̀n qu�n chủ l�̣p hi�́n, đứng đ�̀u là Bảo Đại, nhắm tranh thủ sự ủng h�̣ của Đ�̀ng Minh. (4) Nhưng khi Bảo Đại ch�́p nh�̣n thoái vị thì H�̀ Chí Minh kh�ng nhắc lại ý định �́y nữa.
Hammer nh�̣n định v�̀ vi�̣c thoái vị của Bảo Đại: �Tin này được Vi�̣t Minh hoan ngh�nh; khi vị hoàng đ�́ đã tự nguy�̣n từ chức, thì sự li�n tục giữa chính quy�̀n cũ và chính quy�̀n mới sẽ được bảo đảm. Nó sẽ khi�́n cho sự chuy�̉n quy�̀n d�̃ dàng hơn nhi�̀u và trước mắt ngoại qu�́c sẽ thu�̣n lợi vì nó tăng cường cho đi�̀u Vi�̣t Minh từng r�u rao rằng họ lãnh đạo m�̣t cu�̣c cách mạng d�n t�̣c thực sự.� (5)
Ngoài sự h�̃ trợ của Bảo Đại, H�̀ Chí Minh còn được sự h�̃ trợ cụ th�̉ của m�̣t c�̣ng đ�̀ng mà C�̣ng Sản lu�n coi như thù địch là c�̣ng đ�̀ng C�ng Giáo.
Vào thời đi�̉m 1945-46, c�̣ng đ�̀ng này kh�ng những kh�ng ch�́ng đ�́i mà còn tích cực ủng h�̣ H�̀ Chí Minh do tin tưởng Vi�̣t Minh là t�̉ chức theo đu�̉i chung mục đích giành đ�̣c l�̣p cho đ�́t nước: �Sự khát khao đ�̣c l�̣p to lớn đ�́n n�̃i đa s�́ 2 tri�̣u người C�ng Giáo tán thành chính nghĩa của Vi�̣t Minh và 4 vị giám mục đã thỉnh c�̀u Giáo Hoàng ủng h�̣ n�̀n đ�̣c l�̣p của Vi�̣t Nam, dù tại nhi�̀u địa phương rải rác v�̃n có những c�̣ng đ�̀ng giáo d�n ch�́ng lại vi�̣c Vi�̣t Minh tìm cách t�̉ chức họ thành �đoàn th�̉ Cứu Qu�́c� dưới quy�̀n ki�̉m soát của Vi�̣t Minh.� (6)
Tác giả cho rằng v�̀ phương di�̣n cá nh�n, người C�ng Giáo cũng y�u nước như b�́t cứ ai khác và trích d�̃n lời m�̣t vị �thừa sai�: �Trong cu�̣c đ�́u tranh giành đ�̣c l�̣p, các cha xứ ở Vi�̣t Nam kh�ng do dự khẳng định người C�ng Giáo, chẳng những kh�ng lạnh lùng hay dửng dưng mà trái lại, còn tỏ ra có lòng y�u nước n�̀ng nàn. Họ nhắc nhở con chi�n chẳng những có quy�̀n, mà còn có b�̉n ph�̣n đứng vào hàng ti�̀n đạo trong cu�̣c đ�́u tranh, và bằng cách đó họ sẽ trung thành với Chúa và với t�̉ qu�́c. C�̣ng đ�̀ng C�ng Giáo Annam với 500 linh mục và 2 tri�̣u tín hữu đã kh�ng ng�̀n ngại noi gương các vị giám mục. Họ đã đưa vai gánh vác trách nhi�̣m. Kh�ng chứng cớ nào hơn là thái đ�̣ hăng say b�̣t phát của giới trẻ C�ng Giáo Hà N�̣i đã cung ứng cho đoàn qu�n của chính phủ nhi�̀u ti�̉u đoàn xung kích.� (7)
Ngoài ra, tình y�u nước n�̀ng nàn của mọi người d�n Vi�̣t Nam cũng được ghi nh�̣n qua thái đ�̣ của hoàng h�̣u Nam Phương đ�́i với cu�̣c đ�́u tranh ban đ�̀u của Vi�̣t Minh.
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đ�n Gi�o D�n số 31 th�ng 6/2004 trang 26)