Lm. Anr� Đ�̃ xu�n Qu�́
Nhạc sĩ Thi�n Quang, người đang hoạt đ�̣ng ráo ri�́t v�̀ thánh nhạc tại
Hoa kỳ lại mới gửi đi�̣n thư cho t�i, y�u c�̀u trả lời c�u hỏi của �ng
Phạm Quang Ánh, thu�̣c c�̣ng đoàn Chúa Chi�n lành b�n Mỹ như sau: �Tại
sao chúng ta phải tu�n theo hu�́n thị của H�̣i thánh v�̀ Thánh nhạc xưa
quá như v�̣y. Tại sao phải theo Hi�́n ch�́ Phụng vụ̣ mà hát theo lời
dạy của H�̣i thánh xua quá đi th�i. Làm như th�́, giới trẻ nó sẽ bỏ
đạo h�́t.�
Nh�̣n được đi�̣n thư này cả hơn m�̣t tháng nay r�̀i, nhưng t�i v�̃n chưa trả lời và tự nhi�n kh�ng mu�́n trả lời. Th�́y t�i ch�̣m trả lời, nhạc sĩ Thi�n Quang lại thúc, vì �ng mu�́n t�i trả lời cho r�̣ng đường dư lu�̣n. Thú thự̣c những c�u hỏi n�u tr�n làm cho t�i li�n tưởng đ�́n những c�u như: �Tại sao con cái phải v�ng lời cha mẹ? Tại sao khi ra khỏi nhà, con cái n�n cho cha me bi�́tt là đi đ�u, �́y là kh�ng mu�́n nói con cái phải xin phép cha me, khi còn là vị thành ni�n? � Sao mà xưa quá v�̣y, thời b�y giờ mà thanh ni�n thi�́u nữ còn phải tùy thu�̣c vào cha mẹ ư?�
Trả lời những c�u hỏi như th�́, ai mà chả trả lời được. D�̃ quá đi chứ! Nhưng đ�̉ r�̣ng đường dư lu�̣n như ý của nhạc sĩ Thi�n Quang, t�i cũng xin tu�̀n tự trả lời những c�u hỏi tr�n. T�i bi�́t chắc những c�u trả lời này kh�ng thuy�́t phục đuợc �ng Ánh cũng như nhi�̀u người khác có cùng m�̣t quan ni�̣m như �ng, nhưng t�i xin cứ khách quan và theo lẽ n�n chăng mà nói, còn ai nghe hay kh�ng nghe thì đó là quy�̀n của nguời ta. Có đi�̀u dù nghe hay kh�ng nghe, ai n�́y đ�̀u phải tu�n theo sự th�̣t và lẽ phải, n�́u đúng là như v�̣y.
1. Tại sao chúng ta phải tu�n theo hu�́n thị của H�̣i thánh v�̀ Thánh nhạc xưa quá như v�̣y?
C�u hỏi này có hai v�́: v�́ thứ nh�́t là tại sao phải tu�n theo và v�́ thứ hai là Thánh nhạc xưa quá. V�̀ v�́ thứ nh�́t, t�i xin nói: chúng ta phải tu�n theo Hu�́n thị của H�̣i thánh v�̀ Thánh nhạc vì đó là b�̉n ph�̣n của chúng ta, bởi lẽ chúng ta là con cái H�̣i thánh do bí tích Thánh t�̉y. H�̣i thánh đã sinh ra chúng ta v�̀ đường thi�ng li�ng. Chúng ta phải tu�n theo Hu�́n thị của H�̣i thánh cũng như con cái phải v�ng lời cha mẹ v�̣y. Có ai phủ nh�̣n b�̉n ph�̣n của con cái là phải v�ng lời cha mẹ đ�u, nh�́t là khi con cái còn nhỏ, chưa hi�̉u bi�́t m�́y và chưa có kinh nghi�̣m trong trường đời. Bởi v�̣y tu�n theo Hu�́n thị của H�̣i thánh v�̀ Thánh nhạc là đi�̀u đương nhi�n, nh�́t là khi H�̣i thánh th�́y con cái của mình kh�ng bi�́t hay hi�̉u sai v�̀ chúc năng của Thánh nhạc là t�n vinh Thi�n Chúa và thánh hóa các tín hữu. Chính vì chức năng cao quí này mà H�̣i thánh phải hướng d�̃n, đ�̀ ra các qui tắc cho con cái mình noi theo. Có phải ng�̃u nhi�n mà có Motu proprio đ�̀ là Tra le sollicitudini của thánh Giáo Hoàng Pio X, ban hành năm 1904 cách đ�y m�̣t trăm năm đ�u? Và có phải v� cớ mà mới đ�y Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-l� II vi�́t m�̣t thư thủ bút đ�̉ kỷ ni�̣m m�̣t trăm năm ngày ban hành sắc l�̣nh Motu proprio mới nói đ�u?
V�́ thứ hai là Thánh nhạc quá xưa. Đúng như v�̣y. Thánh nhạc mà đặc bi�̣t la Bình ca xưa lắm r�̀i, cả m�́y trăm năm chứ kh�ng phải ít. Th�́ mà ngày nay ở b�n �u Mỹ, sau m�̣t thời người ta chạy theo nhạc thời trang, b�y giờ lại có những đĩa hát, băng nhạc bình ca bằng ti�́ng la-tinh r�́t được ưa chu�̣ng. Xưa, c�̉ nhưng mà quí. Các c�̉ v�̣t người ta mới khai qu�̣t được ở Hà-n�̣i và hi�̣n đang trưng bày ở bảo tàng vi�̣n Sai-gon cho đ�́n h�́t tháng sáu năm nay, c�̉ đó mà r�́t quí. Có ai dám ch� đ�u! Cho n�n xưa nhưng mà kh�ng có nghĩa là đáng bỏ đi đ�́i với m�̣t s�́ c�̉ v�̣t. Những v�̣t người ta tìm được và vớt l�n từ con t�̀u Titanic cách đ�y cả 90 năm, xưa đ�́y, hi�̣n đang trưng bày ở Lu�n đ�n, đ�u có phải là đ�̀ bỏ? Nhạc c�̉ đi�̉n của Mozart, Bach, Beethoven xưa lắm chứ, th�́ mà sao cả th�́ giới v�̃n còn thích nghe, v�̃n ti�́p tục được hòa nhạc, bi�̉u di�̃n và sản xu�́t thành các băng nhạc đĩa hát ở nhi�̀u thời từ xưa đ�́n nay. Bởi v�̣y, xưa nhưng tùy. Có cái xưa phải bỏ, như người ta đã bỏ l�́i búi tó hay bó ch�n. Còn những cái hay và được c�ng nh�̣n là có giá trị thì kh�ng bỏ được. Thánh nhạc thu�̣c loại này, m�̣t kho tàng quí giá làm vẻ vang cho H�̣i thánh từ bao đời nay. Chỉ có loại nhạc t�̀i mà người ta cũng gọi là thánh ca mới đáng loại th�i. Mu�́n là thánh ca ch�n chính thì phải h�̣i tụ ba y�́u t�́: đó là thánh thi�̣n, ngh�̣ thu�̣t và ph�̉ quát. Kh�ng có ba y�́u t�́ này thì kh�ng gọi là thánh nhạc được.
2. C�u hỏi thứ hai cũng có hai v�́. V�́ thứ nh�́t g�̀n gi�́ng c�u thứ nh�́t v�̀ ý tại sao phải theo Hi�́n ch�́ Phụng vụ mà hát theo lời dạy của H�̣i thánh xưa quá đi th�i. Lời dạy của H�̣i thánh trong Hi�́n ch�́ Phụng vụ, chương VI kh�ng quá xưa đ�u, vì có nói đ�́n Bình ca (s�́ 116a), Đa �m hợp xướng (s�́ 116b), các �́n bản bình ca (s�́ 117), Bài hát đạo bình d�n (s�́ 118). Ngay đ�̀u chương VI, cu�́i s�́ 112, Hi�́n ch�́ đã có những lời lẽ hợp thời như sau: �Bởi th�́, Thánh nhạc sẽ càng thánh khi càng gắn li�̀n chặt chẽ với hành đ�̣ng phụng vụ, bằng cách di�̃n tả lời c�̀u nguy�̣n ngọt ngào hơn, th�i thúc tín hữu đ�̀ng t�m nh�́t trí, và làm cho nghi l�̃ thánh th�m ph�̀n long trọng. H�̣i thánh còn c�ng nh�̣n và đưa vào phụng vụ các hình thức của ngh�̣ thu�̣t ch�n chính, khi những hình thức �́y h�̣i đủ những đi�̀u ki�̣n c�̀n thi�́t.
V�̣y, khi duy trì các quy tắc cũng như các chỉ thị của truy�̀n th�́ng và của kỷ lu�̣t trong H�̣i thánh, đ�̀ng thời nhắm theo mục đích của Thánh nhạc là t�n vinh Thi�n Chúa và thánh hóa các tín hữu, thánh C�ng đ�̀ng �́n định những đi�̀u sau đ�y.�
Trong thư thủ bút nh�n kỷ ni�̣m m�̣t trăm năm Motu proprio, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-l� II cũng vi�́t: �T�i bi�́t rõ là cả ngày nay cũng kh�ng thi�́u những nhà sáng tác có khả năng c�́ng hi�́n trong tinh th�̀n này, ph�̀n đóng góp c�̀n thi�́t và sự hợp tác sở trường của họ, đ�̉ tăng cường gia sản �m nhạc, nhằm phục vụ m�̣t n�̀n phụng vụ lu�n lu�n được s�́ng mãnh li�̣t hơn. T�i bày tỏ với họ t�́t cả lòng tín nhi�̣m của t�i, và r�́t ch�n thành khuy�́n khích họ n�n h�́t sức n�̃ lực đ�̉ gia tăng ca mục bằng những sang tác xứng với sự cao cả của các m�̀u nhi�̣m được cử hành, và đ�̀ng thời thích hợp với cảm quan của người thời đại.� (M�̣t trăm năm Motu proprio s�́ 12).
(Xin xem tiếp trong Nguyệt San Diễn Đ�n Gi�o D�n số 31 th�ng 6/2004 trang 110)