C�u Chuyện Từ Nước Đức:

V�i điều về Alexandre de Rhodes

Phạm Hồng -Lam

 

Ng�y 18.1.1615 ba tu sĩ d�ng T�n Franceso Buzomi, Diego Carvalho v� Antonio Diaz đặt ch�n l�n đất Việt Nam, mở đầu một cuộc truyền gi�o của d�ng, m� theo Alexandre de Rhodes nhận định, đ�y sẽ l� một trong những c�nh đồng nhiều hoa tr�i nhất tr�n to�n c�i Đ�ng phương.

Từ đ� tới nay đ�ng 400 năm.

Nh�n kỉ niệm biến cố trọng đại n�y, một sử gia người Đức thuộc d�ng T�n, linh mục gi�o sư Klaus Schatz đ� ho�n th�nh một bi�n khảo (250 trang) về Alexandre de Rhodes, để giới thiệu cho c�c d�n tộc n�i tiếng Đức về h�nh trạng v� � nghĩa lịch sử con người thừa sai lạ l�ng đ�. Cuốn s�ch "�Dass diese Mission eine der bl�hendsten des Ostens werde. Alexander de Rhodes und die fr�he Jesuitenmission in Vietnam" (� Rằng đ�y sẽ l� một trong những cuộc truyền gi�o nhiều hoa tr�i nhất ở phương Đ�ng. A. de Rhodes v� cuộc truyền gi�o ban đầu của d�ng T�n tại Việt Nam) đ� được tr�nh l�ng trong dịp Đại Hội C�ng Gi�o Việt Nam tại Đức trong th�ng 5 vừa qua. Gs. Schatz đ� mất bốn năm để ho�n th�nh t�c phẩm, kể cả ba th�ng sang Việt Nam tới tận những địa danh lịch sử m� c�c đồng nghiệp của m�nh ng�y trước đặt ch�n để t�m hiểu.

T�i l� một trong hai người chuyển t�c phẩm n�y ra tiếng Việt. L�c đầu, cứ tưởng sẽ chẳng c� g� mới lạ đối với m�nh trong cuốn s�ch tương đối mỏng đ�. Nhưng c�ng đi s�u v�o nội dung, c�ng mở mắt ra, v� nhất l� c�ng phục c�i tinh thần l�m việc kĩ c�ng v� tỉnh t�o của một sử gia.

Ở đ�y, t�i kh�ng l�m chuyện điểm s�ch hay giới thiệu t�c phẩm. M� chỉ muốn d�ng một số kiến thức trong s�ch cũng như của một số nh� nghi�n cứu đứng đắn kh�c đ� viết về de Rhodes, để giải đ�p cho m�nh một số thắc mắc về nh�n vật lắm người khen m� cũng kh�ng thiếu người ch� n�y.

Trong số những người ch�, trước hết dĩ nhi�n l� đảng v� ch�nh quyền việt cộng. Nhiều chục năm d�i, đảng n�y tuy�n �n de Rhodes l� một tay mở đường cho thực d�n, chỉ v� một c�u n�i trong cuốn s�ch "Diverses voyages et mission" của �ng. Số l� sau ba năm (1649-52) ở Roma vận động Gi�o T�ng (l�c đ� l� In-n�-xen-x� 10) v� Bộ Truyền Gi�o (mới được lập năm 1622) gởi gi�m mục sang Viễn Đ�ng để truyền chức cho người Việt kh�ng th�nh, de Rhodes được lệnh của Tổng Quyền d�ng T�n sang Ph�p (Paris, 1652-54) t�m ứng vi�n gi�m mục v� thừa sai cho Việt Nam, v� c� lẽ cả t�m t�i ch�nh cho cuộc truyền gi�o nữa. Trong s�ch, �ng cho hay, �ng sẽ sang Ph�p, nơi vốn: "l� một Vương Quốc đạo đức nhất trần gian" v� nước n�y sẽ cung cấp cho �ng "nhiều chiến sĩ để đoạt chiếm to�n c�i đ�ng phương v� đưa n� thần phục Gi�-su Ki-t�, v� nhất l� ở đ� t�i c� cơ hội t�m được c�c gi�m mục, họ sẽ l� cha v� thầy của ch�ng ta trong c�c Gi�o Hội n�y". R� r�ng hai từ "chiến sĩ" v� "chiếm đoạt" trong c�u tr�n đ�y chỉ c� nghĩa l� (c� được nhiều) thừa sai để đem to�n c�i Viễn Đ�ng về với đạo Ch�a. Đảng v� ch�nh quyền cộng sản � hẳn l� qua sự cố vấn của c�c học giả của chế độ - đ� cho ghi đậm c�u n�y b�n dưới h�nh de Rhodes trong một bảo t�ng ở H� Nội để l�n �n �ng. M�i tới giữa thập ni�n 1990 người ta mới chịu gỡ đi, v� sự phản đối cũng như nhờ những khai minh của nhiều học giả đứng đắn. Chuyện n�y h�nh như thời đ� Hồng Nhuệ đ� l�m ồn l�n, v� �ng đ� ghi lại sự kiện trong một cuốn s�ch nhỏ viết về A. de Rhodes. Tấm bia kỉ niệm de Rhodes do Hội Tr� Tri v� Hội Truyền B� Quốc Ngữ dựng l�n năm 1941 b�n bờ Hồ Gươm cũng bị cộng sản gỡ vứt năm 1957; tới 1995 người ta t�m lại được.

Năm 2007 t�i đọc được đ�u đ� b�i "Đi t�m nguồn gốc chữ Quốc Ngữ" của một t�c giả ghi l� Gs-Ts [Vật L�] Phạm Văn Hường (ĐH Bordeaux). Đọc thấy l� lạ v� ấn tượng, v� nghĩ �ng Gi�o Sư Bordeaux n�y hẳn l� tay thứ thiệt: �ng th�ng thạo ng�n ngữ, bỏ c�ng đi thực địa tới nơi tới chốn, đến Ma-cao v� tới tận Avignon t�m t�i liệu � Nghĩ thế, t�i lưu lại b�i viết. Nay, nh�n l�m việc với cuốn s�ch của gi�o sư Schatz, t�nh cờ sực nhớ, l�i ra lại, th� thấy những điều �ng Hường viết � ra sao ấy!

B�i viết của �ng Hường mở đầu với c�u "B�i viết n�y c� t�nh chất nghi�n cứu khoa học, mọi � kiến phản biện tranh luận t�c giả sẵn s�ng lắng nghe�" Một "b�i nghi�n cứu khoa học" chưa đầy hai trang giấy với những kết luận chắc như đinh đ�ng cột, nhưng chẳng c� lấy một chỉ dẫn quy chiếu (Referenz) n�o cả, để người đọc c� thể tham khảo t�m hiểu. V� hạn chế của một b�i b�o, t�i chỉ tr�ch lại sau đ�y v�i đoạn của �ng Gi�o Sư, để độc giả tường, v� sau đ� sẽ b�n sơ v�o nội dung từng điểm. Tất cả những ph�t biểu của �ng Hường li�n quan tới de Rhodes đều c� vấn đề. Nhưng t�i chỉ b�n sơ v�i điểm th�i, dựa v�o những g� đọc được trong s�ch Gs. Schatz v� trong hai b�i sau đ�y: Huỳnh �i T�ng, Nguồn gốc chữ Quốc Ngưx. http://chimviet.free.fr/ngonngu/phuctrun/ phu1050.htm v� Hồng Nhuệ, Alexandre de Rhodes v� sự h�nh th�nh chữ Quốc Ngữ. www.diendan.org/ tai-lieu/bao-cu/so-008/ a.de.rhodes-va-quocngu. C�c số liệu v� tr�ch dẫn đều từ ba nguồi n�y.

Đi t�m nguồn gốc
chữ quốc ngữ

GS-TS Phạm Văn Hường (ĐH Bordeaux)

(hiện c� đăng tr�n trang sachhiem.net/vanhoc)

[�] Hai gi�o sĩ do Amaral v� Barbosa trước khi mất c� để lại trong nh� thờ San Pauli ở Macau những quyển từ điển Việt � Bồ � La tinh m� họ đ� s�ng tạo. Alexandro Rhodes l� người mang từ điển đ� về �u ch�u. Năm 1651 người ta thấy c� quyển từ điển Việt � Bồ Đ�o Nha � La tinh xuất bản ở Roma, với t�n t�c giả l� Alexandro de Rhodes [�]

T�i c� đi Macau, t�m nguồn nhưng v� hiệu. T�i cũng t�m đến nơi gia đ�nh họ Rhodes ở gần Avignon� Linh mục C�ng gi�o địa phận n�y cho t�i t�i liệu in bức thư của Alexandro Rhodes khi �ng n�y xin gi�o hội d�ng Jesus cho �ng đi truyền đạo ở Đ�ng Nam �. Cuối bức thư ấy quả thật c� t�n Alexandro Rhodes. Nhưng khi rời � Đ�ng trở về �u ch�u, �ng n�y đ� k�m th�m t�n de qu� ph�i khi ra quyển từ điển lịch sử ấy!

Đ� l� lừa đảo, hay n�i thẳng ra đ� l� h�nh vi "đạo" c�ng tr�nh của Gaspar do Amaral v� Antonio Barbosa, lại tự � gh�p t�n m�nh th�m chữ de kệch cỡm! [...]

Vị đạo sĩ "đạo" c�ng tr�nh n�y c�n hoang mang dẫn đến sai s�t chết người trong cuốn Ph�p giảng t�m ng�y.

Thường lệ, lễ đạo theo chu tr�nh 7 ng�y hay một tuần lễ [�]

Trong c�c nước �u ch�u [�] ng�y chủ nhật l� ng�y cuối tuần. Chỉ c� ở Lusitana, t�n Bồ Đ�o Nha xưa, chủ nhật l� ng�y lễ đầu tuần. Kế tiếp l� ng�y lễ thứ hai, feria secundo, v.v... Dựa theo truyền thống Bồ Đ�o Nha, họ đ� tạo n�n những Việt ngữ: chủ nhật, thứ hai, thứ ba v.v... cho đến thứ bảy. Thứ tự những ng�y lễ trong tuần n�y kh�c hẳn th�ng lệ ở Ph�p, nơi ch�n nhau cắt rốn của Alexandro. C� lẽ trước sự hoang mang, b�n t�n b�n nghi, kh�ng biết lễ chủ nhật nằm đầu tuần hay cuối tuần n�n Rhodes sinh � Ph�p giảng t�m ng�y [�]

Cũng v� thế, sau n�y khi Alexandro Rhodes xin ph�p gi�o hội để trở lại Đ�ng Nam �, th� bị khước từ. Tiếp theo đ� Alexandro tr�i dạt v�o Iran cho đến một ng�y đầu th�ng 11-1660 th� chết ở Isfahan, thọ 69 tuổi, kết th�c một đời tu h�nh gian tr� [...] � hết tr�ch.

H�y đi v�o từng điểm

Ăn cắp c�ng tr�nh của do Amaral v� Barbosa để in th�nh "Từ Điển Việt-Bồ-La" của m�nh.

Do Amaral, người Bồ, truyền gi�o ở Đ�ng Ngo�i (miền Bắc) từ 1626-30 v� từ 1631-38. Tiếng Việt của �ng l� tiếng miền Bắc. �ng mất v� đắm thuyền khi đang tr�n đường trở lại Đ�ng Ngo�i v�o năm 1645. Xem lối phi�n �m tiếng Việt c� phương ph�p của �ng, th� biết �ng giỏi tiếng Việt. �ng d�ng tiếng Bồ để phi�n �m (lấy Nh tiếng Bồ để phi�n �m vần Nhờ việt nam; X phi�n �m vần Xờ), v� thế lối phi�n �m gần với thứ tiếng Việt ng�y nay. Nhưng khả năng n�i v� viết đến đ�u th� kh�ng biết, một phần v� cuốn tự điển Việt-Bồ (Annamiticum-Lusitanium) của �ng kh�ng c�n. Trong l�c đ� de Rhodes phi�n �m theo lối tiếng � v� Ph�p (d�ng Gn để phi�n �m vần Nhờ; Sc để phi�n �m vần X). Về sau, �ng ng� theo lối phi�n �m của Amaral v� Barbosa.

Antonia Barbosa, cũng người Bồ, truyền gi�o ở Đ�ng Ngo�i từ 1636 tới 1642, giỏi tiếng Việt, cũng l�m từ điển (giọng Bắc) Bồ-Việt (Lusitanium-Annamiticum), nhưng cũng đ� thất lạc. �ng mất năm 1647 khi đang tr�n đường đi Goa.

Ta biết sự c� mặt hai cuốn tự điển đ�, nhờ de Rhodes ghi lại trong s�ch �ng như sau: "T�i lợi dụng c�ng việc của c�c gi�o sĩ kh�c cũng thuộc d�ng T�n, nhất l� của Gasparo do Amiral v� Antonio Barbosa. Cả hai �ng n�y, mỗi �ng đều l�m một cuốn tự điển. �ng Gasparo do Amaral l�m cuốn Annamiticum-Lusitanum; �ng Antonia Barbosa l�m cuốn Lusitanum-Annamiticum. Nhưng tiếc rằng, hai �ng đều chết sớm. T�i lợi dụng c�ng việc của cả hai �ng viết ra cuốn tự điển mới, c� chua th�m tiếng La tinh, mục đ�ch để gi�p người bản xứ học tiếng La tinh theo lệnh của c�c đức hồng y".

A. de Rhodes truyền gi�o ban đầu ở Đ�ng Trong (1624-26, sau ra Đ�ng Ngo�i (1627-30) rồi lại v�o Đ�ng Trong (1640-45). Tiếng Việt của �ng l� tiếng miền Trung. Tự điển Việt-Bồ-La của �ng (xuất bản tại Roma 1651) đ�ng ra phải gọi l� tự điển Đ�ng Trong-Bồ-La, v� những từ �ng d�ng chủ yếu l� tiếng miền Trung, tuy c� chua th�m từ miền Bắc. S�ch Gi�o l� của �ng cũng l� tiếng miền Trung.

�ng Hường "nghi�n cứu" de Rhodes m� chẳng đọc s�ch của de Rhodes, n�n chửi bậy. V� kh�ng biết đến nơi đến chốn, n�n �ng cũng chẳng hiểu hai cuốn tự điển của Amaral v� Barbosa mang t�n g�. �ng bảo, �ng đi Macao t�m hai tự điển n�y, nhưng kh�ng thấy. L�m sao thấy được, khi hai s�ch n�y c� thể đ� được hai �ng uỷ cho de Rhodes mang về Roma, v� từ th�ng 7 tới th�ng 12.1645, nghĩa l� trước ng�y de Rhodes l�n đường về lại Roma, cả ba tu sĩ n�y c�ng c� mặt trong Trường nh� d�ng ở Ma-cao. Theo lệ của d�ng T�n thời đ�, khi chuyển thư hay t�i liệu, người ta sao ra nhiều bản, gởi cho nhiều thuyền mang đi, để lỡ thuyền n�y đắm th� c�n thuyền kh�c. Hai tự điển kia c� thể cũng đ� được sao ra để giữ lại. Nhưng to�n bộ thư khố d�ng T�n đ� được di chuyển từ Ma-cao sang Phi-luật-t�n khoảng năm 1759-60 v� sau đ� nh� cầm quyền t�y-ban-nha đ� tịch thu to�n bộ t�i liệu thư khố n�y khoảng năm 1770 đem về Madrid. Mọi nh� nghi�n cứu biết điều n�y. Người ta đi lục t�i liệu ở Lissabon, Madrid hay Roma, chứ chẳng ai dở hơi tới Ma-cao. Nh�n đ�y n�i th�m: Cố Gs Thanh L�ng cho biết ở thư viện Vatican c� hai cuốn tự điển do linh mục Philip� Bỉnh sao lục, nhưng kh�ng ghi t�c giả, khi �ng n�y l�m việc ở Lissabon từ 1796 tới 1832. Đ� l� quyển Dictionarium Annamiticum-Lusitanum k� hiệu Borg Touch 23 d�y 288 trang v� Dictionarium Lusitanum-Annamiticum k� hiệu Touch 23 d�y 324 trang. C� thể đ�y l� hai tự điển thất lạc kia. Nhưng v� l� s�ch sao lục v� kh�ng c� t�c giả, n�n kh�ng thể x�c định.

"lại tự � gh�p t�n m�nh th�m chữ "de" kệch cỡm!"

Nghĩa l� �ng Hường muốn n�i, Alexandre th�m chữ đệm "de" người đời tưởng �ng thuộc giai cấp qu� tộc. Nếu quả thực �ng Hường l� gi�o sư dạy Bordeaux, c� sống v� hiểu ch�t �t văn ho� ph�p hoặc �u ch�u, th� �ng tất phải hiểu rằng, chữ đệm "de" ở đ�y kh�ng c� d�nh d�ng g� tới t�n qu� tộc cả. C� l�c "de" l� t�n của qu� tộc, m� nhiều l�c "de" chỉ l� lối đặt để ph�n biệt nhiều người c�ng t�n m� th�i. Catarina de Sienna, Teresa de Calcutta� C� h�ng trăm Catarina, h�ng ng�n Teresa, nhưng đ�y chỉ muốn n�i tới b� th�nh Catarina (sinh) ở th�nh Sienna, ch�n phước Teresa (sống) ở th�nh phố Calcutta. Trước đ�y, gi�o sư Roland Jacques người Ph�p, cũng l� một nh� nghi�n cứu lịch sử chữ Quốc Ngữ, đ� trả lời r� r�ng điểm n�y rồi. Mới đ�y, t�i hỏi Gs. Schatz, th� �ng cũng bảo "de" n�y chẳng phải t�n qu� tộc. Nghĩa l� đối với người �u ch�u, chẳng c� vấn đề, n� chỉ "kệch cỡm" cho �ng Hường m� th�i. Cũng n�n nhớ, gốc de Rhodes l� người Do-th�i vốn ở v�ng Calatayud, T�y-ban-nha; d�ng họ nội mang t�n de Rueda. C� lẽ v� những vụ xử dị gi�o ở T�y-ba-nha, n�n d�ng họ n�y di cư sang Avignon khoảng năm 1492. Bố của Alexandre l� �ng Bernadin đ� được n�ng l�n h�ng qu� tộc.

"sai s�t chết người trong cuốn Ph�p giảng t�m ng�y"

Đọc �ng Hường, thấy c�c từ �ng d�ng, biết �ng kh�ng phải l� Ki-t� hữu hoặc l� Ki-t� hữu nhưng kh�ng c� kiến thức g� về đạo m�nh. Dĩ nhi�n, một người ngo�i Ki-t� Gi�o cũng c� thể n�i về Ki-t� Gi�o, đ�i l�c n�i c�n hay hơn một người ki-t� gi�o, với điều kiện người đ� hiểu tới nơi tới chốn điều m�nh n�i. T�i kh�ng hiểu �ng Hường muốn n�i g� với c�u "Thường lệ, lễ đạo theo chu tr�nh 7 ng�y hay một tuần lễ" v� "C� lẽ v� sự hoang mang, b�n t�n b�n nghi, kh�ng biết lễ chủ nhật nằm đầu tuần hay cuối tuần n�n Rhodes sinh � Ph�p giảng t�m ng�y"? Phải chăng, theo �ng Hường, de Rhodes lẽ ra phải viết cuốn Ph�p Giảng 7 ng�y th� mới đ�ng lẽ đạo? Nhưng v� �ng hoang mang giữa hai lối gọi t�n c�c ng�y trong tuần của Bồ v� của Ph�p, n�n đ� nhắm mắt liều m�nh viết một cuốn gi�o l� d�nh cho 8 ng�y! Nếu hiểu như vậy th� thật ngớ ngẩn. De Rhodes c� thể đ� viết một cuốn Ph�p giảng kh�ng chỉ 8, m� c� thể 6 hay 10 ng�y, tuỳ theo số lượng đề t�i gi�o l� �ng dự tr�.

V� gian tr� m� Gi�o Hội đ� kh�ng cho ph�p de Rhodes trở lại Đ�ng Nam � (sic) v� cuối c�ng phải tr�i dạt sang Iran v� chết ở đ�.

Thời đ� chưa c� địa danh "Đ�ng Nam �" �ng Hường ạ; người ta gọi miền đ� l� Viễn Đ�ng (Extr�me Orient). Tại sao de Rhodes kh�ng trở lại Việt Nam?

De Rhodes bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Đ�ng Trong năm 1645. Đ�ng Ngo�i cũng kh�ng muốn nhận �ng. Tại sao? C�c ch�a Trịnh v� Nguyễn kh�ng muốn �ng c� mặt, đ� đ�nh. C�c đồng nghiệp d�ng T�n cũng sợ lối truyền gi�o liều lĩnh v� trấn �t "lợi bất cập hại" của �ng. Họ bảo �ng l�m �o �o, chỉ l�m sao cho được việc trước mắt m� kh�ng nghĩ tới hiểm nguy c� thể xẩy ra cho to�n d�ng. Cũng v� thế m� từ 1630, sau khi rời Đ�ng Ngo�i, �ng phải ở lại Ma-cao đến năm 1640 mới quay trở lại Đ�ng Trong. Đ�ng Trong ra lệnh trục xuất c�c thừa sai d�ng T�n nhiều lần, nhưng c�c �ng cứ trốn ở lại. Nhưng năm 1645, �ng kh�ng thể trốn ở lại được nữa, phải về lại Ma-cao.

Động lực ch�nh th�i th�c c�c thừa sai thời đ� đi giảng đạo, l� v� cho rằng, ngo�i Gi�o Hội kh�ng c� ơn cứu rỗi, th�nh ra phải hết m�nh l�m sao đưa thật nhanh thật nhiều linh hồn v�o Đạo để cứu họ. Đặc biệt nơi de Rhodes, mong ước cứu linh hồn v� ước ao được ph�c tử đạo l� hai lực chi phối mọi suy nghĩ v� h�nh động của �ng. Th�nh ra tới bất cứ chỗ n�o, gặp bất cứ ai, d� l� �ng ho�ng, quan quyền, người cu-li n� lệ hay gi�o sĩ c�c t�n gi�o kh�c, �ng cũng t�m c�ch bắt chuyện, n�i về Thi�n Ch�a v� khuy�n nhủ, chi�u dụ họ v�o Đạo. V� thế c� lần s�m bị một nh�m tin l�nh ở Ph�p n�m xuống s�ng, v� c�i nhau về Đạo. �ng lo lắng nhẩm t�nh, nước Trung-hoa c� 250 triệu d�n, như vậy mỗi năm phải c� tới 5 triệu linh hồn người Hoa chết sa hoả ngục. M� đ� chết rồi l� hết c�ch cứu, mọi cầu nguyện cho hồn kẻ ngoại đều v� �ch. L�ng �ng như thi�u như đốt trước viễn tượng đ�, m� đ�nh phải b� tay, chẳng l�m g� được!

V� kh�ng thể trở lại Việt Nam, bề tr�n Tỉnh D�ng Nhật cử de Rhodes về lại Roma, để vận động gi�m mục sang thụ phong linh mục cho người bản xứ, hầu x�y dựng một h�ng gi�o phẩm địa phương. Chuyến đi k�o d�i ba năm rưỡi, từ cuối 1645 tới giữa 1649. Ở lại Roma 3 năm để vận động m� chẳng được g� cả, v� Gi�o T�ng l�c đ� (In-n�-xen-x� X) sợ ch�nh quyền Bồ, kh�ng d�m quyết định; c�n Bộ Truyền Gi�o cũng mới thiết lập, chỉ c� danh chứ chẳng c� thừa sai n�o để m� gởi đi. C�c thừa sai l�c đ� l� người của c�c d�ng. C�n việc truyền gi�o th� đ� được c�c gi�o t�ng trước đ� uỷ cho T�y-ba-nha v� Bồ-đ�o-nha, mỗi nước phụ tr�ch một nửa thế giới. Thời gian n�y, de Rhodes ho�n chỉnh v� cho in cuốn từ điển v� cuốn gi�o l�, nhằm tạo th�m �p lực th�c Roma gởi gi�m mục.

Thấy bế tắc, Tổng Quyền khuy�n �ng sang vận động ở Ph�p, đồng thời cho biết, sau thời gian ở Ph�p, �ng sẽ đi truyền gi�o ở Ba-tư. Ở Ph�p thuận lợi hơn. Ở đ�y, người ta chọn được hai ứng vi�n gi�m mục (de la Motte v� Fran�ois Pallu) để Roma quyết định. Nhưng In-n�-xen-x� X vẫn kh�ng d�m l�m g�, v� Bồ chống. Bồ kh�ng chấp nhận người ngoại quốc v� kh�ng do Bồ chỉ định. Trong l�c đ� vua Bồ y�u cầu d�ng T�n t�m cho tối thiểu 70 thừa sai, lần n�y kh�ng nhất thiết phải l� người Bồ, để đưa đi Ấn-độ. D�ng chỉ c� được 25 người, trong số đ� kh�ng c� t�n de Rhodes, v� mọi nỗ lực của de Rhodes ở Roma đ� kh�ng tr�nh được con mắt theo d�i của Bồ. Việc de Rhodes bị loại khỏi danh s�ch đi Viễn Đ�ng l�c đ� quả l� một thảm kịch. Tổng Quyền d�ng T�n bị sức �p rất mạnh, nhưng �ng vẫn kh�ng thay đổi � kiến, v� những l� do sau:

Dĩ nhi�n khi Bồ đ� chống, th� kh�ng c� c�ch n�o kh�c sang Viễn Đ�ng được, v� mọi thừa sai đi Viễn Đ�ng l�c đ� đều phải khởi h�nh từ Lissabon, do thuyền Bồ chở, đường bộ chưa c�. Ngo�i ra, l�c đ� chỉ c� de Rhodes l� người duy nhất mang hi vọng c� thể truyền đạo được cho người Ba-tư. Số l� tr�n đường từ Ma-cao trở về Roma (�ng đi thuyền tới Ấn-độ, sau đ� đi đường bộ) �ng c� ngang qua Ba-tư, thấy c�c �ng ho�ng của Vương Quốc n�y, vốn theo đạo Islam, nhưng tỏ ra dễ d�i hơn c�c tiểu vương kh�c. C�c �ng ho�ng Ba-tư cho ph�p d�ng T�n ở đ� tổ chức những buổi đối thoại li�n t�n. Do đ� Roma c� � định mở mặt trận truyền gi�o ở đ� v� nu�i hi (ảo) vọng sẽ k�o được c�c �ng ho�ng hồi gi�o v�o Ki-t� Gi�o một ng�y kh�ng xa. De Rhodes cũng b�o cho Tổng Quyền sự lạc quan đ� của m�nh, th�nh ra, khi khuy�n �ng sang vận động tại Ph�p, Tổng Quyền đồng thời cũng cho �ng hay, nhiệm sở của �ng sau đ� sẽ l� Isfahan. Th�m nữa, l�c đ� nữ ho�ng Ba-lan đ� tặng một khoản tiền rất lớn, để d�ng T�n mở gi�o điểm truyền gi�o tại Ba-tư, v� Tổng Quyền đ� hứa với nữ ho�ng sẽ tiến h�nh việc n�y.

V� thế, Ba-tư kh�ng phải l� nơi lưu đ�y, m� chỉ l� giải ph�p ưu ti�n hai của de Rhodes. D� t�nh thế kh�ng cho ph�p sang lại Viễn Đ�ng, tr�i tim �ng vẫn hướng về đ�. V� từ Ba-tư, �ng nu�i � định sẽ t�m một con đường bộ qua Viễn Đ�ng, để tr�nh sự lệ thuộc v�o bảo hộ Bồ, đ�y cũng l� một mong muốn của Bộ Truyền Gi�o l�c đ�.

Sau một năm h�nh tr�nh, �ng tới thủ đ� Isfahan th�ng 11.1655, l�c đ� đ� 64 tuổi. �ng lao v�o học tiếng Ba-tư, sau hai năm rưỡi đ� giảng được. De Rhodes l� người c� khiếu ng�n ngữ hơn b�nh thường: ngo�i tiếng Ph�p mẹ đẻ v� La-tinh, �ng n�i lưu lo�t tiếng � v� Bồ, c� thể hiểu tiếng T�y-ban-nha, sử dụng được tiếng Konkani (một v�ng ở Ấn-độ), tiếng Nhật, tiếng Hoa, v� dĩ nhi�n cả lưu lo�t tiếng Việt.

Th�ng 9.1660 �ng c� triệu chứng đau dạ d�y. Một th�ng sau, th�m chứng xuất huyết, c� lẽ do ung thư dạ d�y v� ruột. Chiều tối m�ng 5.11.1660, ở tuổi 67 (kh�ng phải tuổi thọ 69! như �ng Hường ban cho �ng) sau khi chịu c�c ph�p, �ng kết th�c cuộc đời "như một ngọn nến leo l�t dần". Kh�ng trở lại được miền ao ước, nhưng �ng cũng đ� m�n nguyện, v� nỗ lực của m�nh đ� kết quả: năm 1658 t�n Gi�o T�ng A-l�-xăng-đr� VII đ� phong gi�m mục cho de la Motte v� Pallu để hai vị sang Viễn Đ�ng.

Người c�ng gi�o việt nam mang ơn de Rhodes � dĩ nhi�n cả c�c thừa sai kh�c nữa - về đạo Ch�a. D�n tộc việt nam mang ơn de Rhodes v� c�c thừa sai d�ng T�n về Quốc Ngữ. Nhưng kh�ng v� thế m� ta c� bổn phận phải bảo vệ hay n�i tốt cho de Rhodes. Sự thật c� sao th� cần được n�i l�n như thế.

Trong b�i trước, khi b�n về khả năng kh�ch quan v� �c khoa học của người Việt, t�i c� nhận x�t: Với người Việt, l�m khoa học hay l�m văn ho�, trước hết đ� l� một c�ch thế để tuy�n xưng hoặc giải toả t�nh cảm c� nh�n. B�i của "Gs-Ts Phạm Văn Hường (ĐH Bordeaux)" tr�n đ�y l� một th� dụ. ◙

Augsburg, 13.06.2015