Đường Việt-Nam
Phạm
Minh-T�m
Kể từ sau biến-cố
30-4-1975, lịch-sử đất nước ch�ng ta đ�
bị mở ngoặc v�o những trang đen tối chưa
từng c� trong suốt chiều d�i gần năm ng�n năm.
Với một diện-t�ch nhỏ b�, nằm ven theo bờ
biển Th�i-b�nh, song dải đất h�nh chữ S n�y đ�
sống c�n v� tinh-thần bất-khuất. Đ� c� rất
nhiều v� rất nhiều�v� c�n m�i� những người
con mang d�ng họ L�, Lý, Nguyễn, Trần�từng thời
vươn những đ�i vai Ph�-đổng để g�nh
v�c giang-sơn, kh�ng thua k�m với c�c anh-h�ng của năm ch�u
bốn biển.
V�o ng�y 14-7-1789, d�n ch�ng Paris v� kh�ng
thể tiếp-tục chấp nhận guồng m�y
ch�nh-quyền đương-nhiệm đầy thối
n�t v� suy bại nữa n�n họ đ� v�ng dậy l�m cuộc
c�ch-mạng
d�n-sự. Họ ph� ngục Bastille l� nơi
tượng-trưng cho
đường lối trung-ương tập-quyền
của nền ch�nh-trị độc-t�i. Cuộc
c�ch-mạng n�y đ� mở ra cho nước Ph�p trang sử
mới. Đưa nước Ph�p l�n h�ng cường-quốc.
Ng�y lịch-sử n�y đ� kh�ng chỉ trở th�nh ng�y
quốc-kh�nh của Ph�p từ ng�y 31-01-1897
m� c�n lừng danh thế-giới, được cộng-đồng
nh�n-loại nhắc nhớ trong suốt 229 năm qua.
C�ng
năm 1789 n�y, đất nước Việt-Nam ta cũng
đ� tưng-bừng khai mở ng�y hội
quật-cường của D�n-tộc bằng chiến-thắng
Đống Đa v�o M�a Xu�n năm Kỷ-dậu.
Chiến-thắng lịch-sử n�y xem ra c�n rực-rỡ
h�o-quang hơn nhiều trong kh�-thế về t�nh-tự
d�n-tộc trước ngoại-bang, như sử-gia
Trần Trọng Kim ghi nhận��Vậy
nước đ� mất th� phải lấy nước
lại, �ng Nguyễn Huệ mới l�n ng�i ho�ng-đế,
truyền hịch đi c�c nơi; đường-đường
ch�nh-ch�nh đem qu�n ra đ�nh một trận ph� 20 vạn
qu�n Tầu. Tướng nh� Thanh l� T�n Sĩ Nghị phải
bỏ cả ấn t�n m� chạy, l�m cho vua t�i nước Tầu
khiếp sợ, tướng sĩ nh� Thanh thất
đảm. Tưởng từ xưa đến nay
nước ta chưa c� v� c�ng n�o lẫm liệt như
vậy (Việt-Nam Sử-lược, trang 129). D�n-tộc
Việt-Nam nhờ chiến-t�ch n�y m� tho�t hoạ vong-quốc;
cha �ng ch�ng ta chưa bị cạo đầu thắt b�m; ch�ng
ta kh�ng c� những đứa con lai M�n Thanh mang họ
Sầm, họ Hứa�
Song rồi
uy-phong ấy, vinh-quang ấy sau 229 năm c�n lại g�
nơi đất nước hiện nay đang trong tay
những người cộng-sản Việt-Nam. Bọn họ
đ� trở th�nh đ�m th�i-th� gian �c c�n hơn cả T� Định.
Họ đ�
cai-trị đất nước bằng bạo-lực, gieo
rắc bao nỗi đau thương tr�n c�ng khắp c�c ngả
đường Việt-Nam. Những con đường m�
như cố nhạc-sĩ Nguyễn Đức Quang đ�
viết...Đường Việt-Nam
�i v� c�ng v� tận, đường ngang-t�ng ngo�i biển Nam
giữa Trường-sơn�
Sau
ng�y 30-4-1975, đường Việt-Nam đ� nối d�i theo
bước ch�n lưu-vong của những người Việt-Nam
tỵ-nạn tiến xa đến khắp c�ng thế-giới.
V� h�ng năm, cứ đến ng�y n�y lại từ c�c nơi
c�ng nhau tụ lại một nơi n�o đ� với h�nh-thức
tưởng-niệm vừa gi�n-tiếp chuyển đến
giới l�nh-đạo cộng-sản một sứ-điệp
biểu-tỏ rằng họ chưa qu�n ng�y tang thương
n�y của đất nước. Bởi v�, ng�y 30-4 h�ng năm đối với
Người Việt-Nam tỵ-nạn l� ng�y kh�ng những chỉ
Miền Nam bị mất tự-do m� c�n l� ng�y cả
nước bị xiềng chung một c�i c�m
chủ-nghĩa v� gần trăm triệu đồng-b�o
mang danh con Hồng ch�u Lạc từng ng�y bị đầy
v�o ch�n chung trong c�i hố diệt-vong.
D�n-tộc
Chi�m-th�nh sau khi mất nước, họ chỉ biết gặm
nhấm nỗi hờn vong-quốc bằng việc hằng
năm k�o về x�m nhau �m to� th�p cổ m� kh�c-l�c. D�n-tộc
Do-th�i c�n th�-thảm hơn, họ bị mất nước
theo hiệp-nghị của c�c thế-lực mạnh tr�n thế-giới,
đất tổ qu� cha của họ bị ngoại-nh�n cắt
n�t từng khu. Cả d�n-tộc họ ch�m trong b�ng tối
nhưng trong l�ng mỗi người d�n của họ vẫn
c�n �nh s�ng của l�ng y�u nước, của t�nh-tự qu�-hương
soi rọi. Người ở lại qu� nh� th� h�ng năm cũng
t�m về than-kh�c b�n bức tường đổ n�t; những
người lang-thang hải-ngoại
- như người Việt-Nam tỵ-nạn ch�ng ta hiện
nay - lại nung-nấu trong tim nỗi thao-thức kh� ngu�i về
th�n-phận của người d�n mất nước n�n đ�
nhắc nhở cho nhau mối t�nh ho�i-hương bằng
lời ch�o mang t�m-ý của một ước-hẹn
phục-hồi�Năm tới
ta về J�rusalem - L�an prochain � J�rusalem.. Thế
rồi họ đ� về, về trong vinh-quang đẫm
đầy mồ h�i, m�u v� nước mắt n�ng.
Th�nh-lễ Tưởng-niệm ng�y
30-4 do linh-mục Nguyễn
Viết Huy thuộc D�ng T�n, tổ-chức
v�o l�c 7 giờ 30 tối
ng�y 30-4-2018 tại th�nh-đường St Ignatius� Church - Melbourne
Ng�y
30-4-2018 năm nay, vẫn trong tinh-thần vừa tưởng-niệm
vừa củng-cố nơi nhau một niềm tin hướng
về Qu� Mẹ, một lời h�t đ� vang l�n�Ta l� người Việt-Nam cương-quyết.
Chống ngoại-x�m c�ng g�n giữ non s�ng�Ta l� người
Việt-Nam ki�u-h�nh, dẫu ly-hương ta lu�n mong ng�y về�
Hy-vọng
lời h�t n�y kh�ng bỏ lại tr�n con đường
trước to� đại-sứ Việt-Nam cộng-sản,
m� sẽ được mang theo trong h�nh-trang của cả người h�t lẫn
nguời nghe bằng đem ý-ch� thao-thức băn-khoăn�chống ngoại-x�m, g�n giữ
non s�ng mong ng�y về�th�nh việc l�m thự-tế, m�
trước nhất l� khởi đi từ th�i-độ t�m
về với cội nguồn d�n-tộc. Cho đến nay,
43 năm sau cuộc đổi đời, nhiều những
người Miền Nam một thời mang danh �tỵ-nạn
cộng-sản� đ� chỉ c�n ba việc để l�m l� l�m ăn, l�m ngơ v� l�m thinh.
V� tệ hơn nữa l� như nh� văn Phạm Quốc Bảo
đ� chua-x�t viết về nỗi đắng cay n�y của
Mẹ Việt-Nam: Chim
thường bay về tổ-ấm như những d�ng s�ng
bao giờ cũng quay về với biển cả. Nhưng
cũng c� những con chim bay đi rồi lạc
đường về. Ch�ng bằn-bặt tiếng h�t.
Ch�ng kh�ng c�n một vết-t�ch g� của tổ-ấm
lưu lại trong ch�ng. Ch�ng cũng kh�ng lưu lại
một chứng-t�ch g�. Ch�ng chẳng để lại sau
lưng một lưu-luyến n�o. Ch�ng cắt l�a mọi
li�n-hệ với tổ-ấm đ� ấp-ủ, nu�i-dưỡng
cho ch�ng đủ l�ng đủ c�nh� (D�u bể, trang 131).
Cứ nh�n v�o con số đồng-b�o tỵ-nạn của
m�nh hiện nay đến với c�c sinh-hoạt hướng
về Qu�-hương, về Đất Nước mới
thấy rất nhiều những con chim bay đi rồi
lạc đường về� Ch�ng cắt l�a mọi
li�n-hệ với tổ-ấm đ� ấp-ủ,
nu�i-dưỡng cho ch�ng đủ l�ng đủ c�nh�th�
n�i g� đến� chống ngoại-x�m c�ng g�n giữ non s�ng�
Canberra - �i
tưởng-niệm c�c qu�n-nh�n �c đ� hy-sinh trong chiến
tranh Việt-Nam
Winston
Churchill, George Santayana v�
nhiều người nữa đ� từng chia sẻ chung
một kinh-nghiệm rằng những
ai kh�ng học những kinh-nghiệm từ lịch-sử
th� sẽ t�i-diễn n�...Ch�ng ta mỗi người Việt-Nam, đến nay
tưởng cũng đ� nếm đủ những
tủi-hờn nơi mỗi cuộc đời; đ� nếm
đủ những mất-m�t, những đổ vỡ
từ hậu-quả về một cuộc phế-hưng
của Đất Nước v� nhất l� cũng thật
thấm-th�a cho một b�i học lịch-sử với
những gi�-trị bị lật ngược; những
trật-tự bị đảo lộn; những
sinh-hoạt
nền tảng từ trong nh� đến ngo�i x�-hội;
những mất - c�n rối tung� cứ như thời gian
bị quay ngược v�ng kim đồng hồ.
�ng Nguyễn Văn Bon,
Chủ-tịch Cộng-đồng Người Việt
Tự-do Li�n-bang �c-ch�u
đang nhắc lại thảm-cảnh
T�ết Mậu-th�n 1968 v� biến-cố 30-4-1975
Một
b�i học lịch-sử đ�ng ra phải học thộc
l�ng.
Tuy nhi�n,
hơn l�c n�o hết, từ trong nước ra đến
khắp nơi ở hải-ngoại, căn bệnh
thờ-ơ, v�-cảm vẫn đang c�ng ng�y c�ng ph�t-t�c
như một bệnh dịch; lại kh�ng đơn giản l�
một thứ dịch m� c�n nguy-hiểm hơn tội �c v� như
vậy l� đ� đồng-lo� với tập-đo�n b�n
nước, bu�n d�n. L� như lời Đức Hưng
Đạo Vương kết tội l�� kh�c n�o như
quay ngọn gi�o m� đi theo kẻ th��� vậy. V� một trong những
điều thiếu-s�t của thế-hệ cha anh l� bỏ
qu�n nhiệm-vụ chỉ dẫn cho con em m�nh những nẻo
đường Việt-Nam. Những con đường m�
từ sau ng�y Đất Nước chia cắt đ� chằng-chịt
ch�ng gai. C�n sang đến hải-ngoại th� l�m cho người
ta ch�ng mặt�Ai từng đi tr�n đường
Việt-Nam. Bước �m-thầm v� tim n�t tan. Bao l�ng tham chất-chứa
đầy những mưu-đồ bạo-t�n đang
ngăn lối�
V�
đấy l� nỗi c�-đơn
của tuổi trẻ Việt-Nam h�m nay, trong nước cũng
như ngo�i nuớc. Họ y�u nước song kh�ng được
n�ng đỡ.
Những
người trẻ Việt-Nam h�m nay cần c�
động-lực để hy-vọng, để hi�n-ngang
v� can đảm bước đi từ trong đ�m đen
ra b�nh-minh. Cần những bậc đ�n anh hỗ-trợ
để ki�n-định ý-chỉ với một t�m-niệm
rằng l�m người, nhất l� người trẻ Việt-Nam,
kh�ng sợ
b�ng tối đang bao-phủ giang-sơn Việt-Nam m� chỉ
sợ trong l�ng kh�ng c� ch�t �nh s�ng n�o soi chiếu, tiếp sức
để ki�n-tr� như lời h�t của cố nhạc-sĩ
du-ca Nguyễn Đức Quang�Nhưng
c�ng mưa gi�ng c�ng vươn tới. Bước ch�n h�ng
c�n đi rất hăng. Đi dựng lấy huy-ho�ng, giống
da v�ng n�y l� vua đấu tranh
Thế-hệ
những người trẻ Việt-Nam h�m nay tuy may-mắn
hơn thế-hệ trước đ� phải oằn vai
dưới g�nh nặng của cuộc nội-chiến
tối-tăm nhất của Đất Nước, nhưng
nhiệt-t�nh v� l�ng quả-cảm của họ thay v�
được hỗ-trợ, được li�n-đới
tr�ch-nhiệm th� lại bị th�i-độ v�-cảm thờ-ơ,
v� t�nh cục-bộ của thế-hệ cha anh, l�m họ
hoang-mang trong cuộc nội-chiến kh�c. Đ� l� sự
chia rẽ trầm-trọng l�m mất đi sức mạnh
tổng-hợp của tinh-thần y�u nuớc. Thậm-ch� một
người ngoại-quốc, gi�o-sư Stephen Young, trong dịp
đến �c gặp-gỡ cộng-đồng Việt-Nam
cũng đ� n�i l�n nhận-x�t về sự thật t�n-nhẫn
v� đau l�ng n�y. Những b�i học quật-khởi từ trong
qu�-khứ về bốn lần bị Tầu đ�-hộ
chứng-minh điều n�y. Khi �n lại bốn giai-đoạn
Bắc-thuộc kh�ng phải l� để ngậm-ng�i hay
mang mặc-cảm yếu k�m song l� vững tin v�o
tinh-thần bất-khuất của cha �ng c�n b�ng-bạc
nơi t�nh-tự d�n-tộc sẽ thắng được
ngoại-bang.
- Bắc-thuộc lần thứ nhất: bị lệ-thuộc nh� H�n từ
năm 218 đến năm 179
trước C�ng-nguy�n. Cho
đến năm 40 sau C�ng-nguy�n, nghĩa l� hơn hai
trăm năm sau đ� c� được hai chị em B�
Trưng nổi l�n chống lại nh� H�n, đuổi T�
Định về Tầu v� lấy lại chủ-quyền của
Việt-Nam.
- Bắc-thuộc
lần thứ hai: nh� Đ�ng H�n v� nh� Lương cai-trị nước ta
từ
năm
43
đến 543 sau C�ng-nguy�n. Sau năm thế-kỷ bị
mất nước n�y, lại c� �ng Lý B� đ�
dũng-cảm khởi binh chống lại th�i-th� Ti�u
Tư, lấy lại chủ-quyền cho d�n-tộc v�
xưng đế, đặt quốc-hiệu l� Vạn Xu�n
v�o năm 544.
- Bắc-thuộc
lần thứ ba:
từ năm 602 đến 905 sau C�ng-nguy�n, nước
Vạn Xu�n của ta bị nh� Tuỳ
x�m-chiếm rồi tiếp theo l� nh� Đường. Trong
ba trăm năm bị đ�-hộ n�y đ� c� c�c cuộc
nổi dậy của Mai Th�c Loan, tự xưng l� Mai
Hắc Đế năm 713; của Ph�ng Hưng năm 791,
chiếm lại được th�nh Giao-ch�u, xưng l�
Bố C�i đại-vương. Cuối c�ng v�o năm 905,
Kh�c Thừa Dụ đem qu�n tiến chiếm th�nh Đại-la,
chấm dứt hơn 300 năm lệ-thuộc.
- Bắc-thuộc lần thứ tư: bị nh� Minh
cai-trị 20 năm, từ 1407 cho đến 1427. V�o năm 1418, L� Lợi khởi binh ở
Lam-sơn, Thanh-ho� v� sau 10 năm r�ng-r� kh�ng-chiến, L�
Lợi chấm dứt 20 năm đ�-hộ của nh� Minh,
l�n ng�i vua lập ra nh� Hậu L�.
D�n-tộc
Việt-Nam v�o những giai-đoạn lịch-sử n�y, chắc-chắn
cũng c�n nhiều giới-hạn v� kh�-khăn của
đời sống buổi sơ-khai m� c�n c� được
tinh-thần quật-khởi như thế, sao ng�y nay lại
bu�ng-bỏ hết di-sản của tổ-ti�n, mất cả
niềm tự-h�o, tự-t�n để mang lấy th�n-phận
một d�n-tộc bị lưu-đầy ngay giữa l�ng Đất
Mẹ m� kh�ng hề biết o�n hận ai. Như đ�n g�
chỉ thấy c� th�c dưới ch�n th� vui-vẻ mổ cho
đầy bầu diều rồi cũng hớn-hở
cất cổ g�y vang, kh�ng c�n ý-thức g� về tủi
hay nhục.
Cụ-thể
như trong những ng�y n�y, dư-luận trong, ngo�i nước
đang x�n-xao
với một vấn-đề �thời-sự n�ng�. Đ�
l� theo mưu-sự của nh� cầm-quyền cộng-sản
Việt-Nam th� v�o ng�y 15-6-2018 sắp tới, Quốc-hội
của họ sẽ họp b�n v� th�ng-qua dự-luật về
việc thiết-lập c�c �đặc-khu Kinh-tế� n�i
chung v� ba nơi đ� cho v�o dự-�n đầu ti�n tại
ba miền l� V�n-đồn,
Bắc V�n-phong v� Ph�- quốc. Chỉ cần theo nghĩa chung th� d� bất kỳ
ai c� ngu đến mấy cũng biết đặc-khu l� c�i
g�, l� d�nh ri�ng cho ai v� lợi hại ra sao. Song đ� c� những
�khoa bảng� mang c�c danh-hiệu �nổi cộm� của chế-độ
đ� tr�ng-tr�o hết lời khen ngợi, ca-tụng cứ
như những th�i-gi�m chốn cung-đ�nh ng�y trước
chỉ biết c�i đầu cất giọng �o-uột �Ho�ng-thượng
th�nh-minh�. Chẳng kh�c g� lịch-sử đảng viết
bao nhi�u s�ch ca-tụng l�nh-tụ Hồ Ch� Minh v� tập-đo�n
l�nh-đạo l� chống thực-d�n Ph�p trong khi ch�nh �ng Hồ Ch� Minh đ�
ruớc người Ph�p trở lại Việt-Nam bằng
Hiệp-định Sơ-bộ ng�y 06-3-1946. Rồi đến
chi�u-b�i �chống Mỹ cứu nước� được đưa ra để lừa bịp thế-giới;
để dối gạt d�n ch�ng nhưng Mỹ chưa c�t
bao l�u đ� lại h�n-hoan rước Hoa-kỳ trở
lại.
Cho
n�n, th�m một b�i học để kh�ng chỉ giới trẻ m� hết thảy khối
d�n-tộc con Hồng ch�u Lạc phải học l� �ng Hồ Ch� Minh v� to�n đảng
của �ng kh�ng thực t�m đuổi Ph�p hay muốn Mỹ
c�t. Những khẩu-hiệu n�y chỉ l�
truyền-thuyết m�-hoặc l�ng d�n để ho�n-th�nh
d�-t�m ti�u-diệt những người Việt-Nam
quốc-gia m� họ gọi chung l� �Nguỵ� v� đ� l� những
người y�u nước thực sự.
Lịch-sử l� đ�y. V�
Nguy�n Gi�p (số 2) v� Hồ ch� Minh (số 5) chụp chung với
c�c sĩ-quan OSS
( Office of Strategic Service) l� tiền-th�n của
C.I.A sau n�y
V�
người Việt-Nam n�o muốn chống ngoại-x�m� g�n giữ non s�ng� mong ng�y về
�th� điều-kiện ti�n-quyết cần l�m l� t�m-th�nh v�
ch�n thật đ�p lời� Đường Việt-Nam mời
những bước ch�n rời, s�t nhau lại v� đường
vẫn c�n d�i.
Nh�n ng�y 30-4-2018
Phạm Minh-T�m