Viết Từ Úc Châu
Hồ Quỳnh Uyển
Những câu chuyện về một thời… để đời
Vào những ngày đầu tháng Ba vừa qua, đồng bào Việt-Nam đang tỵ-nạn cộng sản tại một số thành-phố của Úc-châu đã có dịp biết đến một cơ-quan ngôn-luận mang tên "Diễn Đàn Giáo Dân" mà theo lời giới-thiệu mở đầu cho mục "Sổ tay Văn-nghệ" của chương-trình phát-thanh Việt-ngữ vào chiều Chủ-nhật 28-2, ông Trưởng-ban Quốc Việt đã trực-tiếp truyền đi trên làn sóng phát-thanh của đài SBS (Special Broadcasting Service) như sau:
"Từ lâu nay, giới tín-hữu Công-giáo nóí riêng và những người có quan-tâm đến tình-hình tự-do tôn-giáo tại Việt-Nam nóí chung, ít nhiều đã nghe đến tờ nguyệt-san xuất-bản tại Hoa-kỳ mang tên "Diễn Đàn Giáo Dân". Đây là một tờ báo chú ý nhiều đến sinh-hoạt của Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam. Ban chủ-trương nguyệt-san Diễn Đàn Giáo Dân đã cho biết chủ-trương của mình là tôn-trọng sự thật như Chúa Giê-su đã dạy, tuyệt-đối trung-thành với giáo-huấn của Hội-thánh, không chỉ-trích cá-nhân khi những hành-vi, ngôn-ngữ của cá-nhân không phương-hại tới quyền-lợi chung của Giáo-hội, xã-hội và dân-tộc; nói thay cho những người không có tiếng nói trên Quê-hương trong nỗ-lực tranh-đấu cho tự-do tôn-giáo, nhân-quyền và nhân-phẩm và góp phần xây-dựng một xã-hội công-bằng, nhân-ái dưới ánh sáng soi dẫn của Tin Mừng Chúa Ki-tô. Với chủ-trương ấy thì người đọc ở khắp nơi thấy rằng từ khi ra đời đến nay, Diễn Đàn Giáo Dân đã thường-xuyên và liên-tục lên tiếng về những vấn-đề có liên-quan đến đất nước Việt-Nam và quyền tự-do tín-ngưỡng của tín-đồ Công-giáo nóí riêng và của người dân Việt-Nam nói chung".
Lời giới-thiệu trên đây mở đầu phần phỏng-vấn dành cho ông chủ-bút Trྦྷn Phong Vũ dịp nguyệt-san Diễn Đàn Giáo Dân thực-hiện một chương-trình giới-thiệu với người Việt tại Úc-châu tập Hồi-ký "Những câu chuyện về một thời" của cố giám-mục Phao-lô Lê Đắc Trọng mà nguyệt-san Diễn Đàn Giáo Dân ấn-hành tại hải-ngoại với nhan-đề "Chứng Từ Của Một Giám-mục".
Lịch-trình giới-thiệu tập Hồi-ký này đã được thực-hiện tại bốn nơi gồm ba thành-phố thủ-phủ của các tiểu-bang Victoria, New South Wales, Queensland là Melbourne, Sydney, Brisbane và thành-phố Canberra thuộc phần lãnh-địa thủ-đô của nước Úc (Australia Capital Territory).
Buổi giới-thiệu đầu tiên tại Melbourne vào 2 giờ chiều ngày Thứ Bảy 06-3-2010, trùng hợp với một sinh-hoạt quan-trọng và khẩn cấp trong Cộng-đồng Người Việt Tự-do tiểu-bang Victoria nên đã có nhiều người không đến dự đuợc. Thêm vào đó là trận mưa đá bất chợt đổ xuống thành-phố gây trở ngại lớn chưa từng thấy về giao-thông công-cộng. Dù vậy cùng với số đồng-bào tham-dự còn có hai cơ-quan truyền thông là đài phát-thanh Viễn Xứ và đài truyền hình VNTV, một số đại-diện Hội-đoàn. Ông chủ-tịch Cộng-đồng Người Việt Tự-do tiểu-bang Victoria cáo lỗi vì bận công việc bên Văn-phòng Cộng-đồng. Riêng ông Nguyễn Thế Phong, chủ-tịch Cộng-đồng Người Việt Tự-do Liên-bang Úc-châu dù đang bận sinh-hoạt trọn ngày tại Trung-tâm Bảo-tồn Di-sản Văn-hoá cũng gắng đến dự và phát-biểu cảm-tưởng.
Tại Sydney, buổi giới-thiệu đuợc tổ-chức tại Trung-tâm Sinh-hoạt Cộng-đồng Người Việt Tự-do cũng vào lúc 2 giờ chiều ngày Chúa-nhật 07-3-2010 với đông đảo đồng-hương tham-dự cùng sự hiện-diện của ông Chủ-tịch Cộng-đồng Người Việt Tự-do New South Wales, linh-mục Chu Văn Chi và một số đại-diện các Hội-đoàn, đài phát-thanh VNRA (Vietnamese Radio in Australia).
Tiếp đến, anh Lê Công chủ-tịch Cộng-đồng Người Việt Tự-do tại Canberra đã rất là mau mắn và sốt sắng sắp xếp để ông Trần Phong Vũ từ Sydney đến gặp-gỡ và trao đổi với một nhóm nhỏ đồng-hương tại Merici College. Vậy là vào chiều Thứ Ba 09-3-2010, phái-đoàn khởi hành từ Sydney lúc 3 giờ 30 chiều bằng xe hơi trên một lộ-trình dài khoảng 300 cây số, đ྿n thủ-đô Canberra lúc 6 giờ 30. Cậu trẻ Vũ-Phạm Thảo-Nguyên đã dí-dỏm lợi dụng ít phút xen kẽ này lái xe vòng qua toà nhà Quốc-hội Liên-bang Úc để giới-thiệu với khách phương xa cái nơi chốn mà Cộng-đồng Người Việt Tự-do thuờng tụ về trong những dịp biểu-tình tưởng-niệm ngày Sài-gòn thất-thủ hay "dàn chào" các giới lãnh-đạo của cộng-sản Việt-Nam đến Úc, trước khi về điạ-điểm gặp gỡ bà con người Việt tại đây vào lúc 7 giờ tối. Tuy Canberra là nơi ít người Việt-Nam định-cư, sống rất rải-rác và lại là tối ngày thường nhưng nhờ vào sự tích-cực của anh Lê Công và nhiệt-tâm của quý đồng-hương tại đây mà buổi gặp gỡ đã diễn ra trong vòng thân-mật, cởi mở và cũng có một bạn trẻ của VBCRadio đến làm tin tức. Buổi trao-dổi về nội-dung cuốn Hồi-ký chấm dứt vào 9giở30 tối và mọi người chỉ kịp đến một tiệm cơm chay của người Việt ăn vội bữa tối rồi quay về lại Sydney và tới nhà lúc 1giờ30 sáng ngày hôm sau, Thứ Tư 10-3-2010 để đến 12 giờ trưa cùng ngày ra phi-trường đi tiếp sang nơi tổ-chức sau cùng là Brisbane, thủ-phủ của tiểu-bang Queensland.
Tại Brisbane, phái-đoàn chúng tôi có đuợc hai ngày để Ban-tổ-chức điạ-phương đem đi thăm vùng biển Gold Coast, Sunshine Coast và để ông Trần Phong Vũ có dịp gặp gỡ một số độc-giả của Diễn Đàn Giáo Dân tại điạ-phương.
Chiều ngày 13-3-2010, một số đông đồng-bào đã quy-tụ tại Hội-trường Trung-tâm Sinh-hoạt của Hội Cao-niên ở Inala để nghe trình-bày về cuốn Hồi-ký. Trước khi ông Trần Phong Vũ noí chuyện về cuốn sách thì phải kể đến lời nhận-định của Bác-sĩ Bùi Trọng Cường là chủ-tịch Cộng-đồng Người Việt Tự-do Queensland và bài điểm sách của linh-mục Vũ Đình Tường, cha sở giáo-xứ St. Mark. Cả hai bài nói chuyện đều có những nhận-xét khách-quan khá sâu sắc và chính-xác về giá-trị nội-dung tập Hồi-ký. Buổi giới-thiệu sách đuợc kết thúc vào lúc 5 giờ chiều để phái đoàn còn kịp thu-xếp hành-trang ra phi-trường trở lại Melbourne và về đến nhà đúng 11 giờ 30 đêm. Trưa hôm sau, 14-3-2010, nhà văn Trần Phong Vũ lên máy bay trở về Mỹ, kết-thúc một tuần "lưu diễn" trên nước Úc.
Bằng vào những gì ghi nhận đuợc từ các buổi nóí chuyện của anh Trần Phong Vũ tại Úc-châu thời gian qua, người viết có thể xác-quyết một điều là không phải chỉ "các đấng các bậc" trong đạo ở quê nhà mới thờ-ơ, mới lừng-khừng, mới sống như khách bàng-quan kiểu chỉ biết ngồi ngây nhìn mọi sự mà ngay ở hải-ngoại, nơi mà người ta không có gì để phải sợ phải né thì cũng vẫn chẳng khác gì nhau.
Phải chăng đó là não-trạng cố-hữu của phần lớn người trong đạo mà như Công-đồng Vatican II đã cảnh giác
trong Hiến-chế Vui mừng và Hy-vọng là "việc tách rời đức tin tuyên xưng với các sinh-hoạt hằng ngày của một số đông tín-hữu là một trong những lầm-lạc gia-trọng nhất của thời-đại chúng ta". Song song với não-trạng chung này là thái-độ thụ-động của giáo dân xưa nay, cứ lầm lạc lệ-thuộc vào giáo-sĩ, quen sống đạo kiểu bị-động nên phải chờ xem có đuợc cha sai, đuợc thầy được "sơ" bảo thì mới dám làm…mà không định rõ tương-quan giữa giáo-sĩ và giáo dân là tương-quan huynh-đệ như những chi-thể trong cùng một Nhiệm-thể là Đức Ki-tô, cho nên Công-đồng Vatican II đã huấn-thị, đã đặt giáo-dân ở tuyến đầu của sự sống Giáo-hội vì giáo dân cũng có phần vụ riêng biệt và cần thiết trong sứ-mạng của Giáo-hội.Phần vụ riêng biệt đó là dấn-thân làm tông-đồ giữa xã-hội trần-thế; nơi mà người giáo dân thường xuyên có mặt ở đó với tất cả khả-năng, đạo-đức và tinh-thần trách-nhiệm. Vậy tính cách trần thế là tính cách riêng biệt và đặc-thù của giáo dân mà nếu giáo dân không tiếp nhận thì Giáo-hội không thể góp phần với sinh-hoạt trần thế được. Người giáo dân sống giữa đời và làm việc với đời nên môi-trường này chỉ có giáo dân mới đi vào được cách trọn hảo cho nên Đức Ki-tô cần nhờ đến họ như những nắm men để làm dậy thúng bột thế-gian. Ở mặt này, giáo dân là trợ-thủ đắc-lực của Đức Ki-tô hơn hàng giáo-sĩ và bậc tu-trì do đó Công-đồng Vaticanô II đã xác nhận rằng người giáo dân phải được đánh giá như cộng-tác-viên đích-thực trong sứ-mạng cứu-độ của Giáo-hội.
Công-đồng xác-nhận tính cách cần thiết của giáo dân chính là vì cách-thế làm trung-gian này.
Rồi cứ từ đây mà suy ra mới thấy được một hệ-quả quan-trọng là nếu như cả một tập-thể tín-hữu ù-lì, thụ-động thì cái "phần riêng biệt và cần thiết"
kia lấy ai thay thế và lấy gì bù đắp. Nói cách khác, Hội-thánh của Đức Ki-tô là một cơ-thể sống động và tăng triển nhờ các chi-thể là mọi thành-phần của Giáo-hội cùng hoạt-động theo đúng chức-năng riêng của mình trong sự gắn bó và liên-kết chặt chẽ với nhau. Thành ra thật là vô-dụng nếu như một chi-thể nào không hoạt-động đúng phần-vụ của mình hoặc hoàn-toàn thụ-động chỉ chờ để được dẫn giắt, đuợc chỉ đạo và lôi kéo theo thì chẳng những đã làm cho sức sống của toàn thân bị trì-trệ mà còn có nguy cơ tự làm bại-hoại chính mình. Lý-lẽ này là của Giáo-hội nhưng giáo dân xem ra vẫn xa-lạ và đa-số hàng giáo-sĩ lại càng lẩn tránh nhiệm-vụ cập-nhật phần giáo-huấn này hoặc hướng-dẫn sai lệch điChẳng thế mà người điều-hợp chương-trình các buổi nóí chuyện về cuốn CHỨNG TỪ CỦA MỘT GIÁM MỤC đã minh-xác "trong khi đi vận-động cho việc tổ-chức giới thiệu tập Hồi-ký này chúng tôi đã đụng chạm đến tâm-lý quen thuộc và sai lạc trước đây đã trở thành thành-kiến nơi tuyệt-đại đa-số giáo dân là khi làm bất cứ điều gì có liên quan, có phảng-phất nét đạo thì phải do giáo-quyền, giáo-sĩ chủ xướng hay ít ra cũng là chủ-toạ cho nên họ đã bị lấn-cấn trong cách nhìn chung chung đối với danh xưng Diễn Đàn Giáo Dân cũng như việc làm của chúng tôi hôm nay…. Chính vì ý-thức đuợc sứ-mệnh này nên chúng tôi đã mạnh dạn dấn thân thực-hiện ơn gọi của mình để sống sự hợp nhất khi vừa là phần-tử của Giáo-hội, vừa là thành-phần trong cộng-đồng nhân-loại giữa xã-hội trần-thế và hơn nữa là những con dân của Đất Nước Việt-Nam từ một huyền-thoại mà hai chữ "đồng bào" đã trở thành thiêng-liêng.
Vậy, trước hoàn-cảnh hiện nay của đất nước chúng ta, cả một dân-tộc đang bị ngụp lặn trong cơn nghịch-lũ chủ-nghĩa, nó đang cuốn xoáy dòng lịch-sử dân-tộc vào quá nhiều thảm-cảnh với già nửa thế-kỷ điêu-linh mà trong đó các tôn-giáo cũng không lọt ra ngoài khổ-nạn này thì chúng tôi lại càng không thể cho mình cái quyền đuợc thản-nhiên một cách vô-trách-nhiệm để chỉ ngồi trên bờ nhìn nước chảy mà phải - cách này hay cách khác - đem tâm-sức ghé vai chung mang những nổi trôi cùng với vận mệnh của Giáo-hội, của Quê Hương …"
Nhìn chung, tập Hồi-ký của cố giám-mục Phao-lô Lê Đắc Trọng, nguyên Phụ-tá Tổng-giám-mục Hà-nội không chỉ góí ghém trong phạm-vi tôn-giáo như nhận-định của tất cả những ai đã đọc qua nhưng phần lớn giáo dân khi đuợc mời gọi tham-dự hay tham-gia việc tổ-chức để giới-thiệu thì khi nhìn tờ bích-chương có danh hiệu, có hình ảnh của một giám-mục họ lại như một phản-xạ cứ phải nhìn vế "cha" trước…Vì vậy đây chính là thực-tế cụ-thể nhất mà cũng là kinh-nghiệm buồn thảm nhất của những người đứng ra tổ-chức các buổi nóí chuyện về cuốn sách này tại Úc-châu bên cạnh những thành-quả và những khích-lệ tinh-thần ấm-áp đã nhận đuợc từ nơi mọi giới đồng-bào.
Để tóm kết những nhận-định về giá-trị của cuốn sách như tên gọi "CHỨNG TỪ CỦA MỘT GIÁM MỤC" mà Nguyệt-san Diễn Đàn Giáo Dân quyết định dùng trong dịp ấn-hành tại hải-ngoại người viết xin ghi lại một đoạn trong cuộc trao đổi giữa ông Quốc Việt và ông Trần Phong Vũ trong bài phỏng-vấn được phát đi trên làn sóng của đài SBS như sau:
"Cố giám-mục Phao-lô Lê Đắc Trọng kể lại trong tập Hồi-ký của ngài tất cả những gì mà ngài đã chứng kiến và đã cảm nhận bằng chính cuộc sống của ngài từ khi Việt minh mới nổi lên cho đến khi cả miền Bắc nằm trong tay chế-độ cộng-sản và cả về sau này thì thưa ông…những điều được kể lại liệu có còn thích-hợp cho chúng ta, những người đang sống ở đầu thế-kỷ 21 này và có đem lại đuợc cái lợi ích nào cho người đọc liên quan đến vấn-đề sinh-hoạt của Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam, của đất nước dân-tộc Việt-Nam nói chung không?..."
…và câu trả lời đã khẳng- định:
"Có rât nhiều cuốn hồi-ký viết xong rồi nó chỉ có giá trị của một thời hay cho một giới nào đó mà thôi…nhưng, tôi xin xác định ngay: Những suy tư và nhận định gói ghém trong cuốn Hồi ký có một không hai này của cố giám mục Lê Đắc Trọng là những bài học muôn đời và là bài học ứng-dụng cho chúng ta ngay ngày hôm nay… không chỉ cho người tín hữu Công giáo mà cho tất cả mọi công dân Việt Nam yêu nước, tôn trọng sự thật ở trong cũng như ngoài nước…"
Nhân đây, cũng xin đuợc trích lại những cảm nghĩ của linh-mục Vũ Đình Tường trong buổi giới-thiệu tại Brisbane để thay cho lời kết của bài tường trình này:
"…Tôi xin phép trình bày tổng quát nét trái ngược chính trong sách. Tác giả trình bày hai luồng tư tưởng trái nghịch, hai thế đối đầu kình chống một mất một còn.
Theo tác-giả, sự xung khắc không thể hoà giải, hoà hợp cho nên mọi ý tưởng cho rằng có thể hợp tác, hoà giải, hoà hợp hay thành phần thứ ba đều tự chứng tỏ sự ngây thơ, nhẹ dạ, khờ dại trước một đối phương gian trá, quỷ quyệt, lừa lọc, không trừ bất cứ một dã tâm nào, miễn là đạt mục đích bằng mọi phương tiện cho dù là đê hèn.
Hai luồng tư tưởng xung khắc nhau về cả ngôn từ lẫn hành-động. Xung khắc từ trong cách dùng chữ, lối hành văn, cách diễn tả và việc thực hành. Đó chính vì một bên là chính đạo, bên kia là tà thần.
Một bên bảo vệ, coi trọng mạng sống còn bên kia lợi dụng sự sống.
Một bên rao giảng tha thứ, yêu thương; đối lại bên kia tuyên truyền chia rẽ, nghi kỵ, đấu tranh giai cấp.
Vì những lý do mới nêu ra nên tôi khẳng định cuốn sách phát hành chiều nay không phải là sách tôn-giáo thuần-tuý mà chính là sách của người hữu thần viết về chủ nghĩa vô thần.
Tác giả nêu rõ ba sách luợc cướp của giết người được những người vô thần chỉ đạo. Đó là:
Tiêu thổ kháng chiến (trang 85-86; 307, 383, 386, 388) đuợc tuyên truyền là phá bỏ mọi thành quách, nhà cửa để cho địch không có chỗ trú ẩn, song thực chất là san bằng đi mọi dấu tích lịch sử và quan trọng nhất là để mọi người vô sản như nhau.
Cải cách ruộng đất ( trang 265, 269...410, 411 412..419) nhằm mục đích khai trừ mọi thành-phần có kiến thức, san bằng tư tưởng, phá bỏ văn hoá khi muốn thay thế ngày Tết Nguyên Đán bằng ngày 02 tháng 9 (trang 287).
Chính sách hộ khẩu. Đây là chính sách hà khắc nhất, thâm độc nhất để nhà nước kiểm soát người dân cả khi ngủ (trang 429, 435).
Nét độc đáo của sách là có thể đọc bất cứ trang nào cũng đuợc không cần phải theo thứ tự trước sau nhưng khi đọc xong ghép lại cũng sẽ có đuợc toàn thể một bức tranh thời thế. Bởi vì, tất cả đều là chuyện thật bi đát đã xẩy ra cho một dân tộc. Tác giả đã vuợt lên trên những sợ hãi đề nói rất rõ ràng, mach lạc những điều cấm kỵ mà người cộng sản vẫn che dấu; đồng thời diễn tả đuợc cho người đọc thấy hết những oan khiên, tủi nhục, bi thương mà không cần dùng đến những lời thoá mạ, chửi rủa, chỉ trích hay kết án mà chỉ bằng lối văn nhẹ nhàng, trong sáng, chân thành rất thích hợp với đại chúng mà không bị mất đi tính dí-dỏm, thâm thuý...."