Nói Chuyện Với Đầu Gối
Phạm Minh Tâm
Ngày 30-4 năm nay, 2010, là dấu cộng thêm vào chuỗi ngày tha-hương của những người miền Nam Việt-Nam đã một lần phải bỏ nước ra đi sau khi Sài-gòn mất vì hệ-quả của khá nhiều oan-khuất còn trong bóng tối lịch-sử của một nước nhược-tiểu nhưng lại là cơ-hội cho những người cộng-sản ôm hết để thành hai chữ thắng-lợi. Sau ngày 30-4-1975, cùng một lúc với sự đảo lộn toàn bộ nếp sống như một cuộc đổi đời ra, người Miền Nam còn phải tập nghe cho quen hoặc nín thở mà nghe những ngôn-từ, những văn-phong, những luận-cứ bài-bản cứ ra-rả ca-cẩm cách nhịp-nhàng rỉ-rả mà nếu bình-tĩnh nhận xét sẽ thấy nó chỉ là những câu chú để họ tự ru nhau và bắt mọi nguời phải nghe cùng để "thống-nhất" mà không tìm đâu ra đuợc lấy một điểm cụ-thể và nhân-bản theo kiểu người xưa nói là "cận nhân tình".. Vậy mà nghe riết rồi cũng có nhiều người nhập tâm, nhập đến độ tâm-đắc để hình-thành nhân-cách mới cho mình và đi ru lại anh em... Ông bà mình nói ở bầu thì tròn, ở ống thì dài là thế. Nói tệ hơn, nó giống con giun đất, cứ miệt mài nuốt đất đầu này rồi cho ra đầu kia để đến khi hoặc là gặp người bắt dùng làm mồi đi câu cá, hoặc phải bị xéo lên mới chịu oằn mình rồi chết...
Ngày 30-4 năm nay, 2010, đã là 35 năm rồi cả đất nước bị cuốn chung vào cái vòng xiềng chủ-nghĩa như bị một cơn lốc xoáy đi hết những gì là giá-trị làm người với những thứ quyền căn-bản và tối thiểu gọi là quyền công-dân
Ngày 30-4 năm nay, 2010, xã-hội Miền Bắc đã chịu tiếp chung với Miền Nam thêm 35 năm cái danh xưng xã-hội chủ-nghĩa, mà thực ra nó không còn giống bất kỳ một thứ chủ-nghĩa nào ngoài một chủ-trương chuyên-quyền, lật-lọng và trí-trá với dân, bất trung với nước. Người dân thì chịu đủ thứ sức ép của một chính-sách độc-tài đảng trị và tuyệt-đại đa số vẫn nghèo nàn, lam-lũ, vất-vưởng kiếm sống như một khối lao-công trong một trại tập-trung khổng lồ, song giới lãnh-đạo thì lại thong-dong tiền rừng bạc biển như những đại-gia xã-hội đen, chỉ lo bá-quyền và tích-lũy tư-bản; còn lãnh-thổ và lãnh-hải thì vừa cắt dâng cho ngoại-bang vừa trải thảm đỏ rước vào làm chủ.
Ngày 30-4 năm nay, 2010, đường thập-giá của Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam được nối thêm một đoạn khi cây Thánh-giá trên Núi Thờ của giáo-xứ Đồng Chiêm bị nhà cầm quyền công-khai triệt-hạ. Phải chăng đây chính là một cách bắt mạch niềm tin của tín-hữu và thách-thức những người có trách-nhiệm. Một chuỗi sự-kiện trước đó diễn ra ở toà Khâm-sứ, ở Thái-hà, ở Tam-toà chẳng hạn có thể sẽ đuợc diễn-dịch chệch ra thành tranh-chấp đất đai hay như linh-mục Nguyễn Ngọc Nam-Phong, Dòng Chuá Cứu Thế Hà-nội, phát-biểu trong lần gặp gỡ với Ủy-ban nhân-dân Thành-phố Hà-nội ngày 17-9-2008 là "Chúng tôi hôm nay mong rằng nhà nước có một cái bước đột phá trong cái chuyện giải quyết vấn đề của chúng tôi chứ không nên soạn lại bổn cũ, lập lại những cái điều chúng ta đã nóí với nhau bấy lâu nay. Chính vì những cái điều này mà bấy lâu nay làm cho dân bức xúc ….vì nhà nước đã đặt xuống cho nhà thờ những cái điều mà không đuợc quy trong pháp luật rồi nhà nước tìm đủ mọi cách vu khống... 12 năm nay chúng tôi hoàn toàn yêu cầu nhà nước một cách chính đáng, giải quyết đất đai cho chúng tôi theo đúng quy định và thủ-tục pháp lý đã không giải quyết và đến bây giờ thì lại chính trị hoá, hình sự hoá…"
Nhưng về đến Đồng Chiêm thì như linh-mục Giu-se Phạm Minh Triệu đã giảng trong Thánh-lễ cùng dâng tại nhà thờ giáo-xứ Đồng Chiêm với linh-mục đoàn từ Hà-nội về ngay buổi chiều ngày xẩy ra vụ việc là "...xét cho cùng, trong suốt cuộc đời đức tin của người tín-hữu thì Thánh-giá Chúa Giê-su Ki-tô là đời sống, là dấu hiệu và hành-vi suy tôn từng giây từng phút, từng hơi thở của chúng ta….Lạy Chúa, mầu-nhiệm cuộc Tử-nạn của Con Chúa không chỉ xẩy ra cách đây hai ngàn năm, nhưng ngày hôm nay tại giáo-xứ Đồng Chiêm, những người con của Chúa, những người tin Chúa và chính Chúa cũng đang bị người ta chà đạp, bị người ta đập phá, bị người ta chống đối...". Vậy là xét cho cùng, phương-pháp bách hại của thời vua chúa xưa kia xem ra minh-bạch hơn, dứt khoát hơn vì chỉ có hai chọn lựa kiểu vàng đá, một là buớc qua thập-giá hai là lãnh hình phạt. Ngày nay, không ai bắt ai phải bước qua thánh-gíá nhưng cho tự-do đứng nhìn biểu-tượng này bị cưa máy cắt ra từng đoạn, bị đập nát bằng búa rồi ...tuỳ tâm tuỳ ý. Mà tâm ý của con người, cho dù có là mũ gậy xênh-xang thì cũng không ra ngoài được những cái tôi ù-lì, nhát đảm, ích-kỷ và thích quyền-lực hay thích gần kề với quyền-lực, muốn đuợc quyền-lực ban cho hai chữ bình-an...
Trước cảnh cây Thánh-giá đã đuợc dựng nên bằng đức tin, bằng lòng mộ-mến và do hiệu năng của những lời giảng dạy rằng đó chính là vinh quang của họ, sức sống của họ, ơn cứu-độ của họ bị phá bỏ thô-bạo, giáo dân khóc lóc quấn khăn trắng để tang nỗi dau chung thì các linh-mục thuộc Tổng-giáo-phận Hà-nội đang tĩnh-tâm cũng vội cùng nhau về Đồng Chiêm dâng Thánh-lễ suy-tôn Thánh-giá. Đây là ý-nghĩa chính-đáng nhất của hai chữ chia sẻ cùng một lúc là cái đảm-lược của lương-năng cần bày tỏ thái-độ với nhà cầm quyền và phủ-dụ giáo dân qua lời giảng hiên-ngang của linh-mục Phạm Minh-Triệu:
"Chúng ta phải tin rằng khi mà quyền-lực bóng tối đã lợi-dụng lúc tồi tăm để làm những việc thất đức, bất nhân và bất nghĩa như thế thì chính Thiên-Chúa sẽ củng-cố đức tin của chúng ta. Một cây Thánh-giá bằng sắt trên Núi Thờ bị hạ xuống nhưng sẽ nẩy sinh hàng trăm nghìn cây Thập-giá trong tâm-hồn chúng ta". Đây mới đúng với danh-dự và trách-nhiệm của bất kỳ ai ở vào vị-thế của một người gọi là "lãnh-đạo tinh-thần", là linh-mục trong trách-nhiệm săn-sóc phần đời sống tâm-linh của tín-hữu, là trợ-tá của giám-mục trong sứ-mạng Chúa giao "Hãy chăn giữ chiên của Ta... Hãy chăn nuôi đàn cừu của ta" khi họ bị đánh tan-tác và rất cần sự hiệp-thông như vậy.
Hình ảnh Đức Tổng-giám-mục Ngô Quang Kiệt, cho dù biết mình đang là cái xà trong mắt nhà nước, vẫn đến với Đồng Chiêm, ghé mình trên những vết thương thể-xác và tâm-hồn của từng tín-hữu nạn-nhân ở Đồng Chiêm đã làm thêm vẻ "đẹp thay bước chân người đi loan báo Tin Mừng" trong sứ-vụ "Thần Khí Chuá ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi để tôi loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ đuợc tha, cho người mù biết họ đuợc sáng mắt, trả lại tự-do cho người bị áp-bức..."(I-sai-a)...chứ không phải như một vị cũng được xức dầu tấn phong đã công bố kiểu ước-lệ theo "quốc-văn giáo-khoa-thư" rằng "Khi xảy ra vụ việc Đồng Chiêm cũng như các vụ việc Toà Khâm Sứ (Hà Nội), Tam Toà (Vinh) hay Loan Lý (Huế), trang tin điện tử của Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam nhận được nhiều thư góp ý và một thắc mắc thường được nêu lên là: tại sao Hội-đồng Giám-mục không lên tiếng? Trong bối cảnh trên và trong tinh thần hiệp thông (sic) của Năm Thánh 2010, thiết tưởng một vài suy nghĩ cần được chia sẻ để soi sáng cho nhau trong đời sống của Hội Thánh"...Hội-đồng Giám-mục không lên tiếng về từng vụ việc nhưng Hội-đồng Giám-mục lên tiếng ở một tầm mức khác, bằng cách đưa ra những định hướng mang tính chủ đạo để mỗi địa phương áp dụng định hướng ấy vào hoàn cảnh cụ thể của mình... Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam đã lên tiếng và sẽ còn lên tiếng, không nhằm giải quyết từng vụ việc ở mỗi địa phương, nhưng đưa ra những định hướng căn bản nhằm góp phần xây dựng xã hội, một xã hội vì con người và một xã hội phát triển toàn diện". Nghe lời chủ chăn kiểu này, giáo dân Đồng Chiêm, giaó dân Thái-hà, Loan-lý, Tam-toà chắc cũng phải ngẩn-ngơ thốt lên câu nói theo kiểu một thời người ta vẫn trào-phúng là "hiểu đuợc chết liền".
Đã 35 năm qua ở Miền Nam và 55 năm ở Miền Bắc, người ta đã nghe khắp đó đây cái văn phong quen tai này với những "cliché", cũng có "những định hướng mang tính chủ đạo và những định hướng căn bản nhằm góp phần xây dựng xã hội, một xã hội vì con người và một xã hội phát triển toàn diện" hoặc theo cách nóí của linh-mục Nguyễn Ngọc Nam Phong là "soạn lại bổn cũ" thì xin hỏi lời giáo-huấn ở trên có "giải-phóng" đựợc nỗi "bức xúc" của người thắc-mắc nói riêng và của chung cộng đoàn dân Chúa hay không? Thiên Chúa đến trần-gian là để loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn, cho kẻ đói đuợc ăn, người bị áp bức đuợc bênh vực trong khi các đấng bậc tôi tá Chúa thì sao lại "chảnh" quá vì chỉ lên tiếng ở tấm mức cao, mức chủ động...mà cao đuợc bao nhiêu và chủ-động đưọc những gì đây? Hãy nghe chính Đức Tổng-giám-mục Ngô Quang Kiệt đã phải nói lên giữa Ủy-ban Nhân-dân Thành-phố Hà-nội trong buổi tiếp xúc ngày 20-9-2008 rằng: "Tôi cũng xin có một vài lời cuối cùng trước những lời kết thúc của ông chủ-tịch. Trước hết, ông chủ-tịch có nóí rằng Ủy-ban Nhân-dân Thành-phố đã tạo rất nhiều điểu kiện cho Giáo-hội Công-giáo trong những năm qua, đặc biệt qua những dịp lễ Noel v..v. Chúng ta phải công nhận những năm gần đây cũng có nhiều điều kiện. Tuy nhiên khi nói như thế, khi nói là tạo điểu kiện, thì chúng ta vẫn còn mang nặng tâm-lý "xin cho" tức là cái này là một ân-huệ tôi ban cho anh đó.... nhưng mà Tôn-giaó là một cái quyền tự nhiên con người đuợc hưởng và nhà nước vì dân, do dân phải có trách nhiệm tạo điểu kiện đó cho người dân chứ không phải là cái ân huệ chúng tôi xin. ...Tự do tôn giáo là quyền, không phải là ân huệ phải xin mới cho"...Cho nên, thật là buồn và bất-hạnh cho những con chiên và cho cả đàn chiên khi đuợc chăn dắt và giáo-huấn kiểu dùng toàn bản kẽm cũ như lời "hiệp thông" và "chia sẻ" của một vị trong Ban Biên Tập trang "web" của Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam vừa trích ở trên. Tuy nhiên, vì đã là bản kẽm thì nó chỉ có vậy thôi, nó cũng loanh-quanh, luẩn-quẩn đến độ ngây ngô như ông bình vôi không biết đang nói cái gì với những "thành-ngữ"một xã hội vì con người (?) và một xã hội phát triển toàn diện (sic). Vì vậy cho dù có phải nói quanh cách mấy cũng mặc vì trách-nhiệm thuộc người xếp chữ chứ không thuộc người vỗ bản. Chắc người viết chỉ nghĩ như vậy mà bỏ qua sứ-vụ của mình. Đức Tổng-giám-mục Ngô Quang Kiệt không có cliché, ngài nói theo lương-tri và sự thật vì chỉ có sự thật mới giải-thoát đuợc con người "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều và chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ-chiếu Việt-Nam. Đi đâu cũng bị soi xét. Chúng tôi buồn lắm chứ. Chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật cầm cái hộ-chiếu là đi qua tất cả, không ai xem xét gì cả, anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế…"
Đã 35 năm qua đi với bao nhiêu định hướng mang tính chủ đạo và mang lời sáo nghĩa đã được ban ra để ngậm-ngùi ru nhau cho khoả lấp đi những điều thiếu sót, những điều không biết nói, không dám nói thì bên cạnh đó lại có những người dám nhìn vào sự thật, thẳng thắn nói sự thật. Chẳng hạn, linh-mục Giu-se Phạm Minh Triệu chẳng những đã không nỡ mị giáo dân mà còn phơi bày sự thật về "Cái lưỡi của nhà nước này… mới lễ Giáng-sinh vừa qua vào Toà Tổng-giám-mục, vào các nhà thờ bắt chân bắt tay, đem lẵng hoa chúc mừng Chúa Giáng-sinh mà chưa đuợc hơn mười ngày sau, người ta vác búa đến, cho lực-lượng cảnh-sát, chó nghiệp-vụ hạ tượng Thánh-giá xuống, coi như một sự sỉ-nhục vào chính bản-thân mình....làm cho toàn thế giới biết rằng chính quyền cộng-sản Việt-Nam đã đập biểu-tượng Thánh-giá của Công-giáo trên toàn cõi Việt-Nam, không phải là lần thứ nhất mà nhiều lần khác thì những cái bắt tay, những cuộc du-ngoạn, những cuộc thăm viếng vào lễ Giáng-sinh có phải là bàn tay sắt bọc nhung, có phải là củ cà-rốt và cây gậy để xoa-dịu các mưu-đồ chính-trị không?...
Để thay cho phần kết, xin mượn mấy câu thơ của Lê Đạt vịnh cái bình vôi rằng
Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại
Và cụ Phan Khôi trong câu chuyện "Ông Bình Vôi"đăng ở Giai-phẩm Muà Thu của nhóm Nhân Văn, tập I, đã giải-thích rằng "Ở vùng quê chúng tôi, mà có lẽ cả nước Việt Nam cũng vậy, vật gì nó có thể hại mình được thì gọi bằng "ông", vật gì nó to hay sống lâu năm thì cũng gọi bằng "ông"....Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng, miệng nó bít lại, ngồi cú rũ trên trang hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng "Ông".
Tư-duy theo kiểu của những ông bình vôi, đối thoại với những bổn cũ soạn lại...cứ thế mà từng ngày qua đi, từng tháng rồi từng năm qua đi... nhưng lạy Chúa, chúng con tin Lời của Chúa lúc trao ban nhiệm-vụ thì sẽ chẳng qua đi.