Hiện Tình Công Giáo Việt Nam
GS Đỗ Mạnh Tri

(Tham luận tại Tĩnh hội Họp Mặt Dân Chủ 2010 Hannover Đức Quốc)

        Tình hình Công giáo Việt Nam xoay quanh việc thay ngôi đổi vị tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội. Nguyên TGM Hà Nội bị bứng đi để khỏi nói là bị trục xuất cách lén lút đêm 12.5 vừa qua1 đã thỏa mãn đòi hỏi của chính quyền đặt ra từ hồi tháng 9.2008.

        Muốn biết tại sao chính quyền nhất quyết đẩy TGM Kiệt đi, lại phải trở lại vụ Thái Hà/Tòa Khâm sứ. Muốn hiểu chuyện này lại phải bắt đầu bằng Đức cha Kiệt.

1/ Ngòi nổ Ngô Quang Kiệt.

        Ngày 15.12.2007, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, TGM Hà Nội gửi Thư luân lưu cho Giáo phận về việc đòi lại Tòa Khâm sứ. Phản ứng của giáo dân vượt sự tiên đoán của mọi người, kể cả Đức cha Kiệt, cho thấy lá thư của Đức cha không khác que diêm rơi vào thùng thuốc nổ.

        Diễn tiến vụ việc đã tức thì vượt lên khung khổ vài thửa đất và trở thành cuộc đấu tranh đòi Công Lý, Sự Thật và An Bình. Không có an bình, hòa bình, an ninh trong xã hội nếu công lý và sự thật bị chà đạp.

        Đấu tranh cho Công Lý, Sự Thật và Hòa Bình lại vượt khung khổ thuần túy tôn giáo mặc dầu giáo dân đấu tranh từ quan điểm đức tin Công giáo. Ai chẳng thấy đấu tranh cho Công Lý, Sự Thật, Hòa Bình là đánh thẳng vào bản chất của một chế độ cai trị bằng tham nhũng, hối lộ, bất công, dối trá và bạo lực.

        Cuộc đấu tranh này lại có quân và có tướng (dùng hình ảnh nha binh, mong các bạn có tôn giáo lượng thứ). Có quân, vì có quần chúng đông đảo (Những buổi thắp nến cầu nguyện quy tụ hàng mấy ngàn người đến từ cả miền Bắc Việt Nam. Có những buổi cầu nguyện lên tới 10 ngàn người). Có tướng, vì TGM Ngô Quang Kiệt vừa theo quân vừa dẫn đầu. Lời giới thiệu vị Tổng Giám mục phó của Đức cha ngày 7.5.2010 tại Nhà Thờ lớn Hà Nội, chính là lộ trình mục vụ của Đức cha: «Khi nhận một giáo phận, vị giám mục phải suốt đời gắn bó yêu thương giáo phận đó. Vì thế, từ hôm nay, TGP Hà nội trở thành quê hương của ngài. Anh chị em trở thành gia đình của ngài. Vui buồn của anh chị em là vui buồn của ngài. Nguyện vọng của anh chị em là nguyện vọng của ngài. Từ nay ngài không chỉ đồng cảm hay đồng hành với anh chị em nhưng sẽ đồng sinh đồng tử với anh chị em, với giáo phận». Thật ra, ngài chỉ nhắc lại đòi hỏi truyền thống của Giáo hội đối với một vị giám mục thôi. Nhưng có những hoàn cảnh làm cho đòi hỏi này trở thành bi đát. Vì hết lòng với sứ vụ của mình, Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã liều mình với đoàn chiên thực hiện mệnh lệnh của Thư Chung HĐGM VN năm 1980: Sống Phúc Âm Giữa Lòng Dân Tộc. Vậy không phải ngẫu nhiên mà Đức cha đã thành kẻ thù số một của chính quyền.

        Cuộc đấu tranh của cộng đoàn Công giáo Hà Nội được tất cả giáo dân miền Bắc tích cực tham gia với sự hưởng ứng của toàn thể các giám mục miền Bắc (trừ Đức cha Tiệm, Gm Bùi Chu). Các Giám mục miền Nam dè dặt, giữ khoảng cách.

2. Hai cách sống đạo.

        Lịch sử cận đại và hiện đại của đất nước để lại nhiều dấu ấn trong nếp sống của người dân. Nếp sống đạo của giáo dân miền Bắc có gì quyết liệt. Đạo của họ nhẹ về kiến thức, mạnh về lòng tin. Nếu hỏi họ: đạo của bạn là đạo gì, câu trả lời rất đơn giản như cố giám mục Lê Đắc Trọng đã ghi: Đạo của tôi là đạo thà chết chẳng thà bỏ đạo. Sống đạo, vui với đạo tới mức sẵn sàng hy sinh mạng sống, thế thôi. Ta còn nhớ đoàn người cầm cành vạn tuế hớn hở ra tòa. Các vị chủ chăn miền Bắc cũng thế. Họ cũng hành hương Thái Hà như đông đảo linh mục. Đức cha Cao Đình Thuyên, giám mục giáo phận Vinh, ngay từ những ngày đầu của cuôc đụng độ, tuyên bố dõng dạc: việc của Thái Hà cũng là việc của Vinh, việc của Vinh là việc Thái Hà. Trong vụ Tam Tòa hồi tháng 7.2009 ngài cũng tức khắc đứng về phía dân, phát động phong trào cầu nguyện trong toàn giáo phận Vinh gồm 500 ngàn giáo dân. Người ta hay nhắc tới lời Đức cha: Tại Vinh không chỉ có một Cao Đình Thuyên mà 500 ngàn Cao Đình Thuyên. Đức cha Thuyên, 83 tuổi cũng đã từ nhiệm cùng lúc với Đức cha Kiệt và Tòa Thánh đã bổ nhiệm để thay thế ngài, một vị gốc Vinh nhưng ‘hài hòa’ hơn: linh mục Nguyễn Thái Hợp.

        So sánh với miền Bắc, lối sống đạo tại miền Nam nói chung có vẻ ôn hòa. Các vị chủ chăn nơi đây nhẹ nhàng, theo lối nói của cố giám mục Lê Đắc Trọng. Không phải không có những vị cứng rắn, lên tiếng mạnh mẽ2. Nhưng không khi nào được cộng đoàn tín hữu vọng lại một cách tập thể như ở ngoài Bắc. Trong Nam, linh mục nhiều, giáo lý viên đông. Số có bằng cấp đạo, đời cũng đông. Tại Tp Hồ Chí Minh, từ thời cố Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình đã có một thứ tốt đời đẹp đạo nào đó vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Tại Huế Đức cha Nguyễn Văn Thể nổi tiếng là người nín nhịn với chính quyền.

        Hai cách sống đạo Bắc Nam biểu hiện hai thái độ khác nhau đối với chính quyền. Và có hai thái độ khác nhau, vì hai bên bị đàn áp khác nhau.

3/ Đàn áp Công giáo tại miền Bắc

        Suốt thời kỳ chống thực dân Pháp và sau Hiệp định Genève cho tới năm 1975, đảng cộng sản chỉ thực sự nắm chính quyền tại miền Bắc. Đây là thời kỳ Đảng cần đoàn kết để dồn toàn lực vào chiến tranh, nhưng đối với Công giáo đã có căng thẳng. Sự căng thẳng có khi thành xung khắc, đụng độ. Hậu quả là cuộc di cư năm 1954 với gần 80% là người công giáo. Sau 1954, Công giáo miền Bắc bị sát phạt tàn khốc. Bằng chứng ngược đời: từ 1954 đến 1975 chỉ có 1 sắc lệnh về tôn giáo, khá cởi mở đến nỗi sau này người ta còn dùng nó như một gương mẫu về tư tưởng HCM để dùng khi thảo luận những dự thảo cho Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo3.

        Sắc lệnh số 234-SL về tôn giáo, ra ngày 14/06/1955, ký Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, có những điều đọc rất được. Thí dụ :

        Điều 5. Các tôn giáo được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo của mình.

        Điều 13. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo.

        Riêng về công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa Giáo Hội Việt nam với Toà Thánh La-mã là vấn đề nội bộ của công giáo.

        Điều 15. Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện.

        Nhưng đấy là dối trá bằng văn bản, bằng sắc lệnh. Thử so sánh:

        Điều 5: các chủng viện bị đóng cửa hết, cũng như bị đóng cửa, chiếm đoạt mọi cơ sở văn hóa, từ thiện v..v…

        Điều 13: các Giám mục miền Bắc không được đi dự Công đồng Vatican 2 dĩ nhiên, nhưng ngay tin tức về Công đồng cũng không nhận được. (Ông Nguyễn Mạnh Hà kể: ông ấy phải xé sách lễ thành từng trang và gửi cho         Linh mục Phạm Hân Quynh bạn ông, để ông linh mục này biết tí chút về những đổi thay trong Giáo hội Công giáo)

        Điều 15: Tin Lành phải vào Mật trận. Phật giáo bị xóa sổ. Công giáo : Đc Trịnh Như Khuê, Tgm Hà nội bị tịch thu giấy tờ từ hồi tháng 7 năm 1957 trong khi ngài đi thăm các xứ đạo. Từ đó, ngài bị giam lỏng trong toà giám mục. Dòng Chúa Cứu Thế, cũng như Toà Khâm sứ và hàng trăm cơ sở văn hóa, giáo dục, từ thiện của Tổng giáo phận Hà Nội bị chiếm đoạt. Tại các giáo phân khác của miền Bắc cũng thế. Nhiều linh mục bị giết hại và đương nhiên việc truyên chức, bổ nhiệm linh mục, giám mục bị cấm hẳn4… Ấy là chưa nói tới những sách báo tuyên truyền chống phá Công giáo (coi những tiểu thuyết của Chu Văn, của Nguyễn Khải được in đi in lại cho tới sau 1975).

4.Sau ngày 30 tháng 4.1975

        Năm 1975, chiếm được miền Nam, đảng cộng sản áp dụng chính sách đã thực hiện ngoài Bắc về mọi mặt, nhưng không thành công (trại cải tạo, tị nạn..). Riêng trong lãnh vực tôn giáo, con số những Nghị Quyết, nghị Định, Thông tư đủ chứng tỏ điều đó. Ra nhiều vì bị chống đối và nuốt không trôi. Một số văn bản về chính sách tôn giáo sau 1975 :

- Nghị đinh 297/HĐBT ra ngày 11/11/1977.

- Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị ra năm 1990.

- Nghị định 69/HĐBT ra ngày 21/03/1991.

- Chỉ thị của BCT về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Ra ngày 02/7/1998.

- Nghị định 26/1999/CP về các hoạt đông tôn giáo. Ra ngày 19/04/1999.

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCHTƯ về công tác tôn giáo. Ra tháng 01/03.

-Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo số hiệu 21/2004/PL.UBTVQH11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Ra ngày 26/11/2003. Quy định về hoạt động tín ngưỡng tôn giáo.

        Hai mươi năm trên nửa nước, ngoài Bắc, từ 1955 đến 1975, chỉ có 1 sắc lệnh 234. Hai mươi sáu năm trên cả nước, từ 1977 đến 2003, theo chỗ tôi biết, có tới 7 văn bản về công tác tôn giáo. Ấy là chưa tính tới các bản dự thảo được chính quyền đưa ra để gọi là trưng cầu ý kiến. Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo có tới 22 dự thảo! Với sắc lệnh 234, đảng nói một đàng, làm một nẻo. Đừng nghe những gì đảng nói, phải xem những gì đảng làm, như lời cảnh báo của ông Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng từ Nghị Định 297/HĐBT trở đi, thì đảng phải nói những điều đảng làm. Vì không thể trói chặt như ngoài Bắc, đảng phải nới tay để tiếp tục kiềm tỏa. Nới nhiều hay ít, tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng và sức ép trong ngoài. Nới để thích ứng. Thích ứng để ‘trước sau như một’. Trước sau vẫn Đảng. Trong lãnh vực kinh tế, thích ứng là chuyện sống còn của chế độ bo bo nên Đảng cởi trói chóng hơn. Trong lãnh vực tôn giáo chậm ri.

        Nghị định 297 HĐBT, tức mô hình đàn áp tôn giáo ngoài Bắc được áp dụng cho tới khi Khối Nga xô sụp đổ.

5.Thương thảo với Vatican.

        Từ khi khối Nga xô sụp đổ, không còn thành trì xã hội chủ nghĩa để giữ chút thăng bằng, Đảng biến thành chư hầu của đàn anh Trung Quốc với những hậu quả tai hại cho tới ngày nay. Nhưng cũng từ đó, Đảng tìm cách mở ra với bên ngoài. Vatican nhỏ xíu nhưng ảnh hưởng lớn. Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị năm 1990 công nhận tôn giáo là một nhu cầu còn tồn tại lâu dài với một bộ phận dân tộc. Nghị quyết này xóa bỏ Nghị đinh 297/HĐBT ra ngày 11/11/1977 và báo hiệu Nghị định 69/HĐBT ra ngày 21/03/1991.

        Cũng vào thời kỳ này, Hồng y Etchagaray dẫn một phái đoàn Tòa Thánh sang gặp chính quyền Hà Nội. Từ đây có đi lại giữa đôi bên, mỗi năm có phái Đoàn Tòa Thánh sang Việt Nam và người của Hà Nội cũng sang Vatican. Những cuộc thương thuyết diễn ra trong thế đôi bên cùng có lợi. Vatican được bổ nhiệm giám mục, giám mục được truyền chức linh muc v..v… với sự chấp thuận của chính quyền cộng sản. Lợi của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam là được làm một số việc: mở chủng viện, được tuyển chủng sinh, phong chức linh mục, thuyên chuyển linh mục, các giám mục được đi dự hội nghị quốc tế, hội nghị vùng, miền; được gửi chủng sinh, linh mục đi du học nước ngoài, được xây nhà thờ. Lúc đầu chính quyền khắt khe, nhỏ giọt, sau đó từ từ nới rộng. Lợi của chính quyền là qua sự chấp thuận hay không chấp thuận, được quyền can thiệp vào nội vụ của Giáo hội. Sự ưng thuận ấy thành cái dây thòng lọng buộc vào cổ Giáo hội. Ưng thuận hay không ưng thuận cũng như cho phép hay không cho phép. Mà muốn được phép, lẽ dĩ nhiên là phải xin phép.

        Có cần thêm rằng, mở chủng viện, đào tạo linh mục, bổ nhiệm giám mục, Đảng không cần, Đảng chờ càng lâu càng tốt. Còn Giáo hội thì dĩ nhiên là ngược lại. Vì vậy mà Rôma, kinh thành muôn thuở (ville éternelle), chưa hẳn nhẫn nại bằng Hà Nội.

        Nhờ có thứ modus vivendi giữa Vatican và Hà Nội này, các chủng viện dần dần được mở, tuyển sinh dễ dãi hơn, linh mục được truyền chức ngày càng nhiều. Nhà thờ cũng như chùa chiền, mọc lên như nấm, kể cả những nơi không cần thiết. (Đảng đủ thông minh để không quên bài học tôn giáo là thuốc phiện của dân. Thiếu gì cách dùng đạo để ru ngủ dân từ tín đồ đến các chức sắc…).

        So sánh với trước kia, ngay một cái máy photocopie gửi về cho HĐGM VN vào những năm 80, cũng còn bị tịch thu, tình hình đạo Công giáo tại Việt Nam thông thoáng hơn nhiều lắm. Coi lễ khai mạc Năm Thánh của Giáo hội Công giáo cuoí năm 2009.

        Đức HY Phạm Minh Mẫn từng phàn nàn rằng tự do chúng tôi muốn, to như cái bàn, tự do chúng tôi có nó nhỏ như cái chén. Nhưng cái bàn cũng có giới hạn của cái bàn. Đòi mở rộng tự do vẫn là tranh đấu cho những cái phép chứ không phải tranh đấu cho Tự Do như một quyền bất khả xâm phạm của con người. Tự do cái chén hay cái rổ, cái bàn vẫn là tự do sau hàng rào. Năm 2002 HĐGM VN đã công bố một văn bản gửi chính quyền, phê phán chế độ ‘xin – cho’. Đó là một cách phủ định hàng rào trên bình diện nguyên tắc. Phủ định nó bằng hành động khó hơn nhiều5. Thực tế, ai muốn xé rào, Đảng thẳng tay. Đức cha Điền là tấm gương bất hủ.

        Nếp sống đạo miền Nam nhẹ nhàng hơn là vì miền Nam thông thoáng và dù sao cũng là kẻ thua trận nên cam nhận sự chấp thuận của Đảng để cứu vãn tình thế. Mặt khác,thái độ này cũng tương đương với đường lối ngoại giao của Vatican. Gọi là nín thở qua sông, rồi từng bước phấn đấu nhằm đẩy xa hàng rào cho tới lúc nhìn như không có hàng rào. Dây thòng lọng nới lỏng đến nỗi coi như không còn dây thòng lọng. Kể ra cũng là một quan điểm, một cách hành xử song song với sự biến dạng nhưng không biến chất của đảng cộng sản và gián tiếp giúp đảng tồn tại trong tình trạng càng ngày càng rệu rã.

6. Thế thượng phong của đảng cộng sản?

        Tại Việt Nam, ngoài đảng cộng sản, Giáo hội Công giáo là định chế độc nhất có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có hậu thuẫn quốc tế. Do thủ tục thương thảo giữa Vatican và Hà Nội, chính quyền có quyền can thiệp vào nội vụ của Giáo hội. Sự kiện này cho phép đảng gài bẫy về nhân sự. Bẫy tình, tiền, quyền. Giáo dân tới nhà cha xứ nhiều khi không có chỗ ngồi. Cao sang quá, tiện nghi quá không phù hợp với dân nghèo. Giám mục cũng có khi so đo với nhau về bằng sắc, giáo phận lớn, nhỏ. Can thiệp công khai, gài bẫy thả giàn. Và chuyện không nhỏ: đảng không thể không âm thầm xâm nhập, tìm cách leo cao vào sâu trong lòng Giáo hội. Có bao nhiêu Vũ Ngọc Nhạ, bao nhiêu ông cố vấn, bao nhiêu Wielgus trong hàng Giáo sĩ, Giáo phẩm? Tỷ lệ thấp hơn hay cao hơn bên Ba Lan, một nước Công giáo toàn tòng?

7. Phân Định.

        Việc thay ngôi đổi vị tại Tòa TGM Hà Nội đanh dấu sự khởi đầu của một cơn khủng hoang của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Bản chất cơn khủng hoảng này không liên hệ gì tới đức tin Công giáo. Chính đức tin Công giáo có bị khủng hoảng hay không là một vấn đề khác (cũng được đề cập nhiều, nhất là bên Tây phương). Tại Việt Nam, vấn đề hệ trọng ở thái độ đối với đảng cầm quyền và vì vậy, một cách gián tiếp, đối với mọi vấn đề của đất nước: Tự do Dân chủ, Dân oan, Dân nghèo, Chủ quyền đất nước trước họa bành trướng Bắc kinh…).

        Sự ra đi của Đức Tổng Kiệt gây đau xót và hoang mang đến thế vì đã tới lúc phải bạch hóa, gọi tên và xử lý những lạm dụng, lợi dụng nhiều khi đã rõ như ban ngày nhưng vì ‘tế nhị’ người ta không dám đụng tới, nói gì dùng biện pháp quyết liệt. Một vài tiếng nói trung thực bị quy cho tội chia rẽ, quá khích, vạch áo cho người xem lưng. Có những im lặng đồng lõa, những thái độ thỏa hiệp, những lương tâm co giãn; biết đâu chẳng có những linh mục, giám mục nằm vùng! Đã đến lúc phải tìm chút trong sáng trong Giáo hội. Đức Thánh Cha đang lôi ra ánh sáng vấn đề ấu dâm ngay trong lòng Giáo hội. Bác ái nhưng phải tôn trọng Công Lý. Yêu thương nhưng trong Sự Thật (Caritas in Veritate). Đã có những hồng y, giám mục phải từ nhiệm, đưa ra tòa. Chính Đức Thánh Cha cũng bị liên lụy một cách bất công. Nhưng đó là cái giá phải trả để làm trong sạch Giáo hội. Ánh sáng không sợ bóng tối

Đỗ Mạnh Tri. Paris 27.05.2010

 

 

(Endnotes)

1. Ngày 10/5/2010, Tổng GMHN Giuse Ngô Quang Kiệt về Đan viện Xito, Châu Sơn, Ninh Bình để nghỉ ngơi sau khi vào Tòa GM Xã Đoài chúc mừng Kim khánh Giám mục Phaolo Cao Đình Thuyên.

Trước đó, ngài đã mời hẹn một số thân nhân ở Miền Nam ra Châu Sơn với ngài vào ngày 17/5/2010, một số thân nhân khoảng 10 người đã mua vé máy bay để ngày đó bay ra Châu Sơn.

Ngày 11/5/2010, Đức TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn thân chinh đến tận Đan viện Xito, Châu Sơn, Ninh Bình tha thiết mời ngài về Hà Nội. 9 giờ sáng 12/5/2010, Đức TGMHN về đến Tòa TGMHN bình thường, buổi trưa ngài dùng cơm với các linh mục Hà Nội, không có bất cứ điều gì khác lạ.

Buổi tối 12/5/2010 sau khi ăn cơm, linh mục Phạm Hùng, chánh văn phòng mang vé lên phòng Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt để ngài đi sang Mỹ ngay tối hôm đó. Sau đó ngài đã gọi điện thoại cho các thân nhân là không phải ra nữa.

Tối hôm đó, đoàn xe âm thầm đưa TGM Giuse Ngô Quang Kiệt lên sân bay đi nước ngoài ngay trong đêm. Tất cả mọi người đi trong đoàn hôm đó đều phải tắt điện thoại đến khi Đức TGMHN lên máy bay xong mới được mở lại.

Nửa đêm 12/5/2010, chánh văn phòng Phạm Hùng đưa thông báo của Tòa TGMHN về việc Đức TGMHN đi nước ngoài chữa bệnh. (nuvuongconly, 16/5/2010)

2. Có những vị lên tiếng mạnh mẽ như trường hợp Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân. Trong một lá thư gửi các linh mục, tu sĩ và giáo dân giáo phận Vĩnh Long, đề ngày 18.12.2008 liên quan đến cơ sở dòng Nữ tu Thánh Phaolô, Đức cha viết: «Có thể tiếng nói của tôi hôm nay cũng sẽ là "tiếng kêu trong sa mạc" (Mát-thêu 3,3). Xem ra tiếng nói quyền lực đã lấn át tiếng nói của công lý, của lương tâm, nhất là trong thời đại mà người ta coi trọng vật chất hơn đạo đức, hơn nhân nghĩa. Nhưng tôi cần phải nói lên, để các thế hệ mai sau được biết và không cười nhạo chúng tôi là hạng người có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe, có miệng mà không nói».

3. Pháp lệnh được Ban Thường vụ Quốc hội VN ban hành, số 21/2004/PL.UBTVQH11, ký Nguyễn Văn Ân, được ban hành ngày 18/06/2004, hiệu lực ngày 15/11/2004.

4. Một ví dụ về việc giám mục và linh mục ‘chui’: Vào tháng 10 năm 1954, xuất hiện ở nhà xứ Nam Định, giữa đám đông người đến nhà xứ, một người có vẻ nông dân, trạc độ 50 tuổi trở lên, đầu chiết chiếc khăn nhiễu, tay cầm cái trõng lợn, quần áo nâu, đúng kiểu người đi mua lợn hoặc hoạn lợn ở nông thôn, nhưng nước da không phải là của lao động thôn quê. Người đó gặp linh mục xứ, kín đáo tự xưng là linh mục Trụ, cai quản địa phận Thái Bình. Trong câu truyện kéo dài mấy phút, dễ nhận thấy ngay là một linh mục. Phải, sau ít bữa, thì biết đúng là cha Đôminicô Đinh Đức Trụ, trá hình làm người thợ hoạn lợn.

Mấy tháng sau, ngài bí mật lên Hà Nội để được tấn phong giám mục. Con đường Thái Bình- Hà Nội dài ngót trăm cây số, ngài đi xe xích lô. Thực ra trên con đường dài như thế, chủ xe và khách thay nhau đạp. Lúc khởi hành là nhá nhem tối, đến Hà Nội là đêm. Đức Cha Trịnh Như Khuê tấn phong cho ngài trong nhà nguyện riêng bên phòng ngủ. Chỉ có chủ phong và người được tấn phong. Hoàn toàn bí mật. Lễ tấn phong xong, hai bố con lại thay nhau đạp xe trong đêm khuya để về tới Thái Bình lúc còn tối. Lễ tấn phong thành công mỹ mãn. Đúng là hành xử theo cung cách Giáo Hội hầm trú thuở xưa.

Được tấn phong rồi, ngài lập lại cung cách tấn phong bí mật cho cha chính Bùi Chu Đôminicô Phạm Năng Tĩnh. Nhưng lần này không phải ở Toà giám mục hay một phòng ốc nào, mà là trên con thuyền bập bềnh trên giòng sông. Con thuyền chính là biểu hiệu Giáo Hội trên mặt biển trần gian. Hai vị gặp nhau trên một khúc sông, trên con thuyền nan bập bềnh, lễ tấn phong cũng diễn ra bí mật, trên là bầu trời xanh, dưới là mặt nước sông đang nâng đỡ con thuyền có hai người Chúa Giêsu chọn làm hai vị "lưới người" đang chuẩn bị ra khơi để thả lưới trên mặt biển đầy khó khăn và nguy hiểm, mà kết quả sẽ chỉ được trông đợi ở sự hướng dẫn từ bên trên (…)

Trong nhà thờ, ngài treo không thiếu một khẩu hiệu nào, và ngài nói đều được rút ra ở Thánh Kinh. Chẳng hạn câu ngạn ngữ Việt Nam: "Miệng thơn thớt, dạ ớt ngâm". Ngài bảo cũng là lời Thánh Kinh. Tìm mãi thì cũng thấy câu đó có thật trong Thánh Kinh. Như thế ngài rất thông Thánh Kinh.

Trên toà giảng, Ngài nói thẳng thắn, không kiêng nể sự gì, không kiêng nể một ai. Với chính quyền ngài không kiêng nể, cũng không nhẹ nhàng.

Các linh mục trong địa phận chỉ được truyền chức "chui". Không có những vụ truyền chức như thế, thì trong địa phận đâu còn linh mục làm việc. Đối với những vụ truyền chức chui đó, cán bộ có ý kiến. Ngài đáp lại: "có gì đâu! Đó chỉ là truyền chức cho một số người để đóng cửa mở cửa nhà thờ". (Trích Những Câu chuyện về một thời cùa cố giám mục Lê Đức Trọng, lúc đó là linh mục chính xứ Nam Định).

Đúng như Đức cha Ngô Quang Kiệt nói: "Giáo hội miền Bắc đã chịu quá nhiều đau khổ, Giáo phận Hà Nội đã bị quá nhiều thiệt thòi". Điều này, theo thiển ý, người miền Nam không hiểu nổi, kể cả người di cư năm 1954.

5. Vì thế mới có những lời trách móc kiểu: muốn nói về nhà mà nói, chúng tôi còn phải sống chứ v..v… Đúng thôi. Can đảm bằng mồm mà. Nhưng cũng gián tiếp thú nhận rằng ở nhà vì sợ mà không dám nói, vì hèn mà sống như thế.