Áo
Xiêm Ràng Buộc Lấy Nhau
Phạm Minh Tâm
* Đã có khi nào mà trong cộng-đồng Dân Chúa đã có những tín-hữu mạnh dạn lên
tiếng và thẳng thắn góp ý với Giáo-quyền như hiện có không…và nhất là đã có khi
nào mà trong thành-phần giáo-sĩ đã có những vị trung-thực nói lên cảm nghĩ mình
một cách không thiên-vị để bảo vệ những nguyên-tắc đạo-lý của đức tin như hiện
nay hay chưa?
*… nếu càng có thêm những tiếng nói giáo dân cất lên từ tim óc đuợc Tin Mừng soi
chiếu thì chẳng là tín hiệu của sự trưởng thành sao. Đồng thời, nếu còn có thêm
càng ngày càng đông số các giáo-sĩ, linh-mục, tu-sĩ chịu đứng thẳng lên trước
mặt Chúa mà đấm ngực nhận thức những thiếu sót của mình, của người, của đồng sự;
mà nhận ra con đuờng đã được sai đi phải đến đâu thì đó mới chính là hồng-ân của
Chúa ban nhưng không cho cả và Giáo-hội Việt-Nam vậy.
Cách đây 50 năm, vào ngày 24-11-1960,
khi Đức Giáo-hoàng Gio-an XXIII ban-hành Tông-hiến Venerabilium Nostrorum
thiết-lập Hàng Giáo-phẩm Việt-Nam thì cũng kể từ ngày ấy, sức sống thiêng-liêng
của cộng-đồng Dân Chúa Việt-Nam chẳng những có cơ-hội đuợc vươn thêm qua sự cảm
nhận đuợc nỗi hân-hoan tín-cẩn của Hội-thánh đã đặt nhiều hy-vọng vào sự
trưởng-thành của Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam sau bốn trăm năm có mặt trên đất
nước mà còn thêm ý-thức rằng biến-cố quan-trọng này như nhắc lại, như củng-cố
một sứ-mệnh đuợc sai đi là phải lên đuờng, phải ra khơi. Đấy chính là sứ-điệp
của Đấng Sống Lại trên bờ biển Ga-li-lê thuở nào. Tiếp đến là sau nghi-thức
long-trọng tại Đền Thánh Phê-rô ngày 08-12-1965 của Giáo-hội bế mạc Công-đồng
Vatican II thì Giáo-hội Việt-Nam đáng lẽ phải như đuợc có thêm sức sống mà tiến
bước trên con đưòng lữ-hành đức tin vì đã tiếp nhận được sự soi dẫn từ một
“nguồn sáng mới” cho mục-vụ, cho tinh-thần tự-do và đối-thoại của Giáo-hội…Nhưng
rồi sao?....Rồi đã chẳng được như cuộc hành-trình bốn mươi năm của dân Do-thái
trong sa-mạc đi tìm Đất Hứa có gian khổ và thử-thách nhưng đầy niềm vui và
hy-vọng còn đoạn đuờng năm mươi năm của Hàng Giáo-phẩm Việt-Nam thì lại cắm lều
an nghỉ nơi cơ-chế và các định-kiến như kiểu khẳng-định của đức cha Nguyễn Chí
Linh …”đa số người giáo dân Việt-Nam sống đạo bình thường chứ không đòi Hội-đồng
Giám-mục Việt-Nam phải làm thế nọ, thế kia…”. Trước đó, cuốn Niên-giám năm 2004
cũng đã ghi nhận: “Giáo hội Việt Nam, trong thời gian trước đây, từ năm 1965 đến
1975, do hoàn cảnh chiến tranh của đất nước, chưa có dịp học hỏi kỹ lưỡng các
văn kiện của Công đồng, trừ một vài giáo phận ở miền Nam Việt Nam. Chỉ trong các
thành phố và đô thị lớn, giáo dân mới có dịp học hỏi về Công đồng này ít nhiều,
còn lại hầu như chẳng mấy khi nghe nói đến, nhất là ở miền Bắc Việt Nam. Sau khi
thống nhất đất nước năm 1975, dân tộc ta lại gặp nhiều khó khăn, vì thế các bài
học đổi mới, hợp nhất của Công đồng hầu như ít được nhắc đến như những định
hướng cơ bản cho Giáo hội Việt Nam….
Chẳng cần suy-lý hay luận-chứng thì
ai cũng hiểu những lời biện-bạch trên chỉ là một cách nói theo bài bản, nói để
cho có chuyện mà nói hay chính xác nhất là nói cho xong việc. Bởi vì, đất nước
chiến tranh thì can gì đến việc “hoằng dương đạo pháp” của các tôn-giáo khi mà
thậm chí cả việc trước nhu-cầu bức bách về bổn-phận công dân mà Chính-phủ Việt-Nam
Cộng-hoà còn chừa các tu-sĩ ra khỏi luật tổng động-viên thì lý do để… chưa có
dịp học hỏi kỹ lưỡng các văn kiện của Công đồng tại đâu. Rồi sau khi thống nhất
đất nước năm 1975, dân tộc ta lại gặp nhiều khó khăn lại càng khó nghe hơn nữa…
Chính vì lúc nào cũng chỉ có một cái
thế dưạ vào tại - bị - bởi – do - vì ….nhiều khó khăn… như thế đó mà càng ngày
người ta càng có nhiều vấn-đề phải đặt ra với Hàng Giáo-phẩm vì nếu cứ lấy các
huấn-giáo của Chúa và của Hội-thánh ra mà đối chứng thì thực hiếm thấy được
những điều ứng nghiệm với chân-lý của Đấng Yêu Thương….mà chung quy cũng chỉ là
một mối vừa theo tính thế-gian muốn an-nhàn-quang thế-tục lại vừa coi rẻ giáo
dân là những kẻ thuộc quyền sống đạo bình thường chứ không đòi Hội-đồng Giám-mục
Việt-Nam phải làm thế nọ, thế kia…”. Mà sống đạo bình thường là gì và thế nọ thế
kia là sao? Nếu thế thì chính Đức Ki-tô với những yêu sách của Tin Mừng cùng
Hội-thánh Người với những huấn-giáo, mà cụ-thể nhất là Công-đồng Vatican II, mới
là cha đẻ của những đòi buộc “Hội-đồng Giám-mục Việt-Nam phải làm thế nọ, thế
kia…”.
Thưa đức cha Nguyễn Chí Linh, trong
Hiến-chế về Tín Lý Giáo-hội (Lumen Gentium) của Công-đồng Vatican II, chương III
là chương lập lại và bổ-túc cho Hiến-chế “Pastor Aeternus” đặc-biệt về chức
giám-mục, có quy-định “…Thực vậy, tất cả các giám mục có nhiệm vụ phát huy và
bảo vệ sự hiệp nhất đức tin và kỷ luật chung của cả Giáo Hội, dạy cho tín hữu
biết yêu mến toàn Nhiệm Thể Chúa Kitô, nhất là các chi thể nghèo khó, đau khổ và
đang chịu bách hại vì sự công chính…” Vậy thì, ai có thể phủ-nhận những tập-thể
giáo dân Thái-hà, Loan-lý, Đồng Chiêm, Cồn Dầu….không phải là các thành-phần mà
Công-đồng Vatican II đã đặt trong vòng tay của các giám-mục Việt-Nam ?
Thời gian này, tại nước Úc cũng như
trên các trang thông-tin điện-tử có hai sự kiện đuợc nhiều người biết đến nhất
mà trong mỗi sự-kiện đều đó có vài ba nét đáng suy nghĩ theo ý nghĩa của bài
viết này.
Trước hết là câu chuyện về Mẹ Mary
MacKillop, dòng St. Joseph, đuợc vinh-phong hiển thánh ngày 17-10-2010. Bà thuộc
một gia-đính gốc Tô-cách-lan đến nhập-cư tại Úc. Bà là người sáng lập Dòng Thánh
Giu-se, với mục đích chuyên lo cho người nghèo. Vào ngày lễ kính thánh Giu-se
19-3-1866, trong
chiếc áo chùng đen đơn-giản, bà trở thành nữ-tu đầu tiên của Dòng khi vừa tròn
24 tuổi. Năm năm sau, ngày 21-9-1871, bà và các chị em trong Dòng bị đức
giám-mục Adelaide gieo vạ tuyệt-thông và giải-tán Dòng vì cho là bà đã lỗi phạm
đức vâng lời. Cho đến ngày 22-2-1872 tuy án tuyệt-thông đuợc giải nhưng các nữ
tu vẫn chưa đuợc sinh-hoạt lại vì Toà-thánh chưa phê chuẩn bản Hiến-pháp của
Dòng. Bà sang Rô-ma, trình bày nguyện-vọng và chờ đợi cho đến khi đuợc Đức
Giáo-hoàng Pi-ô IX chính thức phê chuẩn cho phép Dòng đuợc hoạt-động. …Nhờ vậy
mà ngày nay, Hội-thánh có thêm đuợc một vị nữ thánh, Giáo-hội có thêm đuợc một
dòng chuyên lo cho người nghèo và người bất-hạnh với danh xưng The Order of the
Sisters of St. Joseph of the Sacred Heart. Nhìn người lại nghĩ đến mình, đến
việc Tu-hội Na-gia ở Thủ-đức đã bị giải-thể cách đây ít lâu mà nhiều người biết
chuyện vẫn thắc-mắc không hiểu lý-do. Tu-hội này đuợc thành-lập năm 1959 và
Hiến-pháp của Tu-hội đuợc đức cha Nguyễn Kim Điền phê-chuẩn vào năm 1964. Trước
đây ba năm thì Tu-hội đã bị bắt nhập vào với dòng OMI do lệnh của Đấng bản quyền
và năm 2008 là hạn chót cho Na-gia phải quét dọn xong mọi sự, nhưng rồi chẳng
hiểu sao lại không nhập nữa và bây giờ thì giải-thể…Đây là cái tàn cuộc xem ra
như không mấy đẹp trong tình bác-ái mà đấng bản-quyền áp-dặt cho anh em khi chỉ
dùng con mắt kẻ cả mà nhìn một tu-hội đã đuợc phép thành-lập hơn nửa thế-kỷ như
một cục đất sét để có thể vo tròn hay bóp bẹp lúc nào tuỳ thích. Rõ-ràng là
người ta đã dùng quyền mà áp-đặt nhau chứ không phải dùng lực để nâng đỡ nhau.
Việc thứ hai là một phụ-nữ Úc gốc Việt mới bị nhà cầm quyền cộng-sản bắt ngay
tại phi-trường Tân-sơn-nhất vào chiều Chúa-nhật 10-10-2010 khi chị đang ngồi chờ
lên máy bay về Úc. Đó là chị Võ Hồng, một cán-sự xã-hội tại Melbourne về Hà-nội
để cùng một số đồng-bào mà theo tiêu-đề các tin tức loan đi là vì “Kêu gọi chống
hiểm họa Bắc triều, một đảng viên Đảng Việt Tân bị công an bắt giữ ’’.
Ở đây, người viết không chủ ý muốn đi
sâu vào nội-vụ việc bắt bớ này, mà chỉ muốn nêu ra một khía cạnh nhân-bản của
vấn-đề là tinh-thần và nhân-cách của những con người đã đuợc ràng buộc với nhau
bằng ý-thức liên-đới trách-nhiệm. Ngay sau khi chị Võ Hồng bị bắt thì bên cạnh
những phản-ứng của cộng-đồng người Việt, toà Đại-sứ Úc tại Hà-nội đã thông-báo
về cho Bộ Ngoại-giao Úc và phản-ảnh với nhà cầm quyền Việt-Nam. Các cơ-quan
truyền-thanh và truyền hình của Úc cũng hàng loạt loan tin và bình-luận. Nhiều
dân-biểu tiểu-bang và liên-bang đứng ra tiếp tay với các chương-trình vận-động
Thủ-tướng Úc can thiệp với nhà cầm quyền Việt-Nam…vân..vân và vân …vân. Nghĩa là,
chỉ có một con người, một công-dân Úc gốc Việt bị nạn mà cả một cộng-đồng
dân-tộc quan tâm…Tại sao? Tại đây mới thực sự là những người có lương-năng của
tình nhân-loại, có ý-thức về tình huynh-đệ, có tư-cách và liêm-sỉ của người
lãnh-đạo... Phải chi anh Nguyễn Thành Năm của giáo-xứ Cồn Dầu có đuợc người
lãnh-đạo tinh-thần biết trách-nhiệm một chút….và cùng với anh Năm, cộng-đồng
tín-hữu Việt-Nam còn rất nhiều những ước muốn phải chi…
Kể từ ngày đuợc thành-lập, chưa bao
giờ Hàng Giáo-phẩm Việt-Nam bị chú mục quá kỹ từ nhiều hướng như hiện nay qua
những nhận-định, phân tích đặt trên nền tảng Tin Mừng và các định-hướng của
Hội-thánh mà tất cả quy vào thái-độ thoả-hiệp và xu-thời của phần lớn các
giám-mục. Hóa ra các vị đã không vì ‘‘một Chúa, một Đức Tin, một Phép Rửa’’ phải
bảo vệ mà chỉ vì một nơi đứng cao, một chỗ ngồi vững hay một chút ảo-ảnh về
quyền lợi mà thôi. Còn nữa, với quy chế ‘‘xin – cho’’ mà hiện nay các đấng bậc
đã mặc nhiên công nhận cũng góp phần trong việc đề bạt và tuyển chọn những người
được nhận lãnh áo mão, cân đai cho nên nó đã trở thành mối dây ràng buộc
khắc-nghiệt kéo siết các vị về phía quyền-lực và xa rời dần với tập-thể người
tin Có người âu-lo cho rằng hiện trạng này là dấu chỉ của sự chia rẽ, rạn nứt và
phân-hoá trong Giáo-hội Công-giáo; lại cũng có những suy-luận rằng vì lòng đạo
của tín-hữu đã giảm sút nên không còn biết kính trọng các ‘‘đấng làm thầy’’ nữa
và nhiều cách biện-luận bi-quan khác.
Tuy nhiên , nếu bình-tâm mà xét thì
tại sao chúng ta không nhìn mọi sự theo hướng lạc-quan hơn, hy-vọng hơn. Đó là
Giáo-hội Việt-Nam đang bước vào giai-đoạn khủng-hoảng quyền-lực như một cơ-thể
đang bị cơn sốt vỡ da hành-hạ để chuyển mình. Bởi vì, chẳng phải là cung cách
sống đạo thời tiền Công-đồng với bổn phận vâng lời tối mặt đã bị thay bằng vâng
lời đối-thoại hay sao? Đã có khi nào mà trong cộng-đồng Dân Chúa đã có những
tín-hữu mạnh dạn lên tiếng và thẳng thắn góp ý với Giáo-quyền như hiện có không…và
nhất là đã có khi nào mà trong thành-phần giáo-sĩ đã có những vị trung-thực nói
lên cảm nghĩ mình một cách không thiên-vị để bảo vệ những nguyên-tắc đạo-lý của
đức tin như hiện nay hay chưa? Cho nên, nếu càng có thêm những tiếng nói giáo
dân cất lên từ tim óc đuợc Tin Mừng soi chiếu thì chẳng là tín hiệu của sự
trưởng thành sao. Đồng thời, nếu còn có thêm càng ngày càng đông số các giáo-sĩ,
linh-mục, tu-sĩ chịu đứng thẳng lên trước mặt Chúa mà đấm ngực nhận thức những
thiếu sót của mình, của người, của đồng sự; mà nhận ra con đuờng đã được sai đi
phải đến đâu thì đó mới chính là hồng-ân của Chúa ban nhưng không cho cả và
Giáo-hội Việt-Nam vậy.