Đôi Điều Suy Nghĩ Công Lý & Hòa Bình
LM. Anrê Đỗ Xuân Quế
“Nỗi vui mừng và niềm
hy vọng, những buồn khổ và âu lo của con người hôm nay, nhất là của những người
nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, buồn khổ và âu lo của
các môn đệ Đức Ki-tô. Không có gi đích thực nhân loại mà lại không có âm vang
nơi cõi lòng nggười môn đệ Đức Ki-tô.” (Gaudium et spes số 1)
1. Vài dòng lịch sử
Công lý và Hoà bình là một tổ chức
của Giáo hội Công giáo manh nha từ thông điệp Phát triển các dân tộc (Progressio
populorum) thời ĐGH Phao-lô VI, năm 1967, và hình thành từ sau Công đồng
Va-ti-ca-nô II. Tổ chức này phát xuất từ các tư tưởng trong hiến chế Vui mừng và
hy vọng. Hiến chế này là một công trình tư tưởng vĩ đại, được khắp nơi trên thế
giới hoan nghênh và trở thành chính sách có mặt của Giáo hội trong thế giới ngày
nay.
Trong một thế giới mà nhiều nơi còn
nghèo khổ, quyền con người không được tôn trọng, Giáo hội muốn cổ võ và góp phần
thiết lập một trật tự xã hội mới, nơi đó, nhân phẩm được tôn trọng và bảo vệ,
bằng học thuyết xã hội của mình và qua những hoạt động nhân đạo của con cái mình,
với một cơ câu pháp lý chặt chẽ là các Uỷ ban Công lý và Hoà bình tại Trung ương
cũng như các Giáo hội địa phương.
Thời Công đồng mới khai diễn, người
ta thường hay nhắc đến từ cập nhật hoá (aggiornamento). Từ này là của Đức Cố
Giáo hoàng Gio-an XXIII (nay là chân phước). Theo ĐGH, nay đã đến lúc Giáo hội
mở cửa nhìn ra thế giới và để cho thế giới nhìn vào. Hai bên nên quay mặt vào
nhau thay vì quay lưng lại với nhau. Giáo hội đã mang đến cho thế giới nhiều giá
trị tinh thần cao quí và nhiều công trình nghệ thuật văn hoá đạo lý rất có giá
trị, thì thế giới cũng có thể mang lại cho Giáo hội những giá trị khác như tình
liên đới và sự đồng hành.
Câu mở đầu thời danh của hiến chế Vui
mừng và hy vọng thường được nhắc lại và được dùng làm nền tảng cho những hoạt
động của Giáo hội trong các lãnh vực trần thế. Đây là những lời vàng ngọc chứng
tỏ môi bận tâm và lòng tha thiết của Giáo hội đối với xã hội loài người :
“Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những
buồn khổ và âu lo của con người hôm nay, nhất là của những người nghèo và những
ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, buồn khổ và âu lo của các môn đệ Đức
Ki-tô. Không có gi đích thực nhân loại mà lại không có âm vang nơi cõi lòng
nggười môn đệ Đức Ki-tô.” (Gaudium et spes số 1)
Có thể nói nền tảng của các hoạt động
đổi mới và thích nghi của Giáo hội sau Công đồng Va-ti-ca-nô II là dựa trên
những lời xác quyết này mà Công lý và Hoà bình là một trong những yếu tố nổi bật
nhất.
2. Khái quát về Công lý và Hoà
bình
Thánh Tô-ma A-qui-nô định nghĩa công
lý hay công bình là trả cho ai cái thuộc về người ấy (reddere cui sui est). Tiền
tài, danh vọng, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, đồ đạc của người nào, mình phải
tôn trọng, không được xâm phạm hay chiếm đoạt. Nếu đã trót lấy của người ta rồi
thì phải đền, phải trả cho cân xứng.
Thánh Âu-tinh định nghĩa hoà bình là
sư ổn định của trật tự (tranquillitas ordinis). Khi nào có trật tự trên dưới, từ
trong ra ngoài thì lúc đó có hoà bình.
Đức Giáo hoàng Pio XII chọn khẩu hiệu
hoà bình là công trình của công lý (pax opus justitiae). Sở dĩ ngài chọn khẩu
hiệu này có lẽ vì thời đó (1939) là thời cực thịnh của chủ nghĩa phát-xít và
quốc xã. Hai nhà độc tài Mussolini và Hitler bắt người ta phải gọi mình là Duce,
Fuhrer, nhà lãnh đạo, người hướng dẫn. Hoà bình lúc ấy bị đe doạ ; con người bị
lệ thuộc và làm tôi cho ý thức hệ độc tài và phi nhân bản. Ngài muốn là ngọn cờ
đi đầu, hoạt động và cổ võ cho hoà bình dựa trên công lý.Theo ngài, không thể có
hoà bình khi công lý bị chà đạp.
Vì vậy, người ta mới nói hoà bình
không phải là không có chiến tranh và muốn hoà bình thì phải chuẩn bị chiến
tranh. Như thế nghĩa là gì ? Thưa nghĩa là không có chiến tranh mà trật tự giữa
con người với nhau, giữa chính quyến và người dân không ổn định vì những sự cãi
cọ tranh giành, vì những luật lệ bất công gây tức tối bực bội, lúc đó trật tự bị
xáo trộn thì không có hoà bình. Còn chuẩn bị chiến tranh, nghĩa là huấn luyện
binh sĩ, chuẩn bị võ khí để khi bị quân đội nước khác đên tấn công thì có thể
đương đầu để giữ gìn bờ cõi.
Đó là nói chiến tranh theo đúng nghĩa.
Còn nói chiến tranh theo nghĩa hạn hẹp thì đó là chuẩn bị làm sao giữ được mối
hoà khí trong đoàn thể, trong quốc gia, giữa người dân với chính quyền. Khi
chính quyền không làm mất lòng dân vì những hành vi độc tài, phi nhân bản thì
bấy giờ mới có được cảnh quốc thái dân an. Nghệ thuật cầm quyền trị nước của các
bậc phụ mẫu chi dân là ở chỗ đó.
3. Phạm vi hoạt động của Công lý
và Hoà bình
Phạm vi này khá rộng rãi đi từ chỗ
rao giảng, phổ biến tài liệu, lý thuyết về học thuyết của Giáo hội đến chỗ hành
động thiết thực chống lại bất công đàn áp, bênh vực người cô thế, nghèo khổ,
thấp cổ bé miệng, hoạt động giải thoát cho khỏi cảnh nghèo đói, lưu ý đến người
di dân, góp phần vào việc xây dựng và củng cố hoà bình. Công lý không phải là
tình thương và đồng nghĩa với tình thương mà là hành động bằng nhiều hình thức
khác nhau để trả cho ai cái thuộc về người ấy và giúp thiết lập hoà bình giữa
các cá nhân và các dân tộc với nhau. Vì Công lý và Hoà bình, Đức Cố Giáo hoàng
Gio-an Phao-lô II đã làm hết sức để ngăn chặn cuộc chiến tranh I-rắc và một linh
mục Dòng Đa Minh người Úc đã lấy máu từ cánh tay mình bội lên cửa toà đại sứ Mỹ
ở Sydney để phản đối Mỹ cất quân xâm chiếm I-rắc. Cha này là chủ nhiệm và chủ
bút tờ Công lý và Hoà bình (Justice and Peace) của Tỉnh Dòng Úc. Trên tờ báo gửi
đi các nơi, cha luôn luôn in hàng chữ Chúng tôi có anh em ở I-rắc. Những hành
động này cũng như bao hành động khác không ngăn chặn được cuộc chiến, nhưng đã
nói lên được tinh thần của Công lý và Hoà bình.
4. Mục đích của Công lý và Hoà
bình
Công lý và Hoà bình nhằm phổ biến tư
tưởng xã hội của Giáo hội qua việc giúp đỡ những người nghèo khổ, những người bị
tước đoạt quyền sống, những người không có hay bị lấy mất đi tiếng nói, những
người bị tù tội vì tranh đấu bất bạo động cho nhân quyền và dân chủ, những nạn
nhân của kỳ thị và hận thù. Thường người công giáo hay ngại những công viêc này
vì cho đó là làm chính trị. Đúng vậy. Nhưng đó là chính trị cần thiết, vì nếu
không có thế thì Công lý sẽ chỉ mông lung ở đâu xa vời, trong khi Công lý và Hoà
bình được lập ra là để bênh vực những con người ở trên mặt đất này. Đàng khác
cũng phải hiểu chính trị theo hai nghĩa : chính trị để cầm quyền và chính trị để
lo cho ích chung. Nếu chính trị để lo cho ích chung thì rất nên làm chính trị.
Phải chăng vì vậy mà có từ cộng hoà dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp sang :
Republic, République. Mà những tiếng này lại phát xuất từ tiếng la tinh : Res
publica, những sự việc chung.
Kết luận
Trên đây là đôi điều suy nghĩ nhân
việc HĐGM mới thành lập Uỷ ban Công lý và Hoà bình, và bài phỏng vấn ĐC Linh
trên mạng cũng như lá thư mới đây của giáo dân Cồn Dấu gửi HĐGM và Uỷ Ban Công
lý và Hoà Bình.
Ước mong rằng từ nay đã có Uỷ ban này thì những cảnh bất bằng nhan nhản khắp nơi
và những tiếng kêu than của nạn nhân bị tước đoạt công lý sẽ được lắng nghe và
tiếp cứu.
* * *
Trong một bài viết nhan đề: “Nghĩ gì
và làm gì Trước hiện tình Giáo hội tại Việt Nam” từ Sàigòn gửi ra ngày 13-10,
cha Đỗ Xuân Quế viết:
Về hiện tình Giáo Hội tại Việt Nam
Trước tiên, phải nói ngay rằng tình
hình hiện nay tại Giáo hội Việt Nam hết sức đáng bận tâm. Nhiều người theo dõi
các vụ việc từ mấy năm qua, cảm thấy bực bội và chán nản. Khởi đầu là những buổi
thắp nến cầu nguyện đòi công lý và sự thật, xuyên qua việc yêu cầu chính quyền
trả lại toà Khâm sứ, trong một thời gian liên tiếp cả gần hai tháng trời vào
cuối năm 2007, đầu năm 2008 giữa tiết đông mưa rét, rồi lan sang tháng Tám năm
2008 tại nhà thờ Thái hà, Đồng Chiêm, Tam Toà, Loan lý, Cồn Dầu v.v… Cuối cùng
là cuộc thay bậc đổi ngôi ở toà Giám mục Hà Nội và sự ra đi vội vàng, tủi nhục
của Đức Cha Ngô Quang Kiệt ngày 12.5.2010.
Đó là những giọt nước làm cho chiếc ly đầy tràn, và là ngọn gió thổi bùng lên
cơn giận dữ tức tối của giáo dân Hà nội và nhiều giáo dân khác ở khắp nơi trong
nước cũng như ngoài nước. Giáo hội chúng ta đang có một sự phân hoá trầm trọng
vì phản ứng khác nhau, trước mọi sự diễn ra, là điều khó tránh khỏi, trong cộng
đồng tín hữu cũng như trong hàng giáo phẩm, linh mục và tu sĩ. Có thể nói đấy
chính là sự chia rẽ không sao che giấu nổi. Nó đập mạnh vào mắt người trong đạo
cũng như ngoài đạo. Điển hình là lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục của ĐC Nguyễn
Văn Nhơn trước sự lạnh lùng thấm thía của giáo dân Hà nội, bên cạnh những cách
thế biểu dương nồng nhiệt lòng mến phục của họ đối với ĐC Ngô Quang Kiệt.
Rồi trên mạng, qua các bài viết của
người trong nước cũng như ngoài nước, người ta thấy có một sự sút giảm lòng tín
nhiệm của nhiều người đối với Hội Đồng Giám Mục. Qua những bài ấy, có những
người nghĩ rằng đó là do ma quỉ tìm cách chống phá Giáo hội. Gần đây, ông Phan
Văn Phước ở Dusseldorf bên Đức có viết một bài đề là Ai chống Giáo hội Công Giáo
(1.7.2010).
Theo ông, không phải ai nói những
điều không hay về các vị chức sắc hay cơ cấu trong Giáo hội là chống phá. Rồi
ông đưa ra những dẫn chứng như sau : “Điều thật đáng buồn là người lên tiếng vì
yêu Giáo hội thì lại bị chụp mũ là phỉ báng các Đấng thay mặt Chúa cùng các Đấng
làm Thầy, chống cha, chống Chúa, chống Giáo hội. Để minh chứng điều vừa nói là
có tình có lý, tôi xin nêu lên các danh ngôn sau đây :
a) của Đức Cố Giáo hoàng Gio-an XXIII
: “Ai phê bình, thậm chí chỉ trích tôi, người ấy là bạn. Còn ai tâng bốc tôi,
người ấy là thù.”
b) của bậc thánh hiền : “Gạo bỏ vào
cối, có đâm, có giã, có sứt, có mẻ, có nát mới trắng tựa bông.”
c) của Sainte-Beuve : “Đối với tôi,
được phê bình là điều thú vị để biết tư tưởng của người khác, chứ không phải để
khống chế các tư tưởng ấy.”
d) của Heinrich Heine : “Người muốn
được khen là người trọng lời phê bình.”
Cho dù chẳng ai muốn có tình trạng
như trên trong Giáo hội chúng ta hiện nay, nhưng thật chẳng may khi sự chia rẽ
đó lại do chính những hành động của người trong Giáo hội chúng ta gây nên. HĐGM
của chúng ta mất một phần thế giá. Nhiều linh mục trong một vài giáo phận kia
không còn tin phục giám mục của mình nữa. Tại một giáo phận khác, có những linh
mục xin rời khỏi các chức vụ được giao phó. Có nơi linh mục than van vì bị giám
mục làm bẽ mặt trước cán bộ. Một số tín đồ công khai bày tỏ thái độ phản kháng
khi viết : “Đã 35 năm qua đi, với bao nhiêu định hướng mang tính chỉ đạo và bao
nhiêu sáo ngữ cũng như lạm dụng sự vâng phục của khối tín hữu để cắt đầu bỏ đuôi
lời Chúa mà “ban ra” hết thông báo này đến thư chung nọ, để rồi ngậm ngùi ru
nhau cho khoả lấp đi những điều thiếu sót, những điều không biết nói, không dám
nói.” (Phạm minh Tâm: nói chuyện với đầu gối)
Lý do mấu chốt của sự hoài nghi và
mất tin tưởng vào HĐGMVN dẫn đên nhiều ngộ nhận đối với Toà Thánh Vatican là bức
thư của ĐHY Bertone đề ngày 30.1.2008 gửi ĐT Kiệt hồi ngài còn tại chức, khuyên
giáo dân thôi cầu nguyện ở Toà Khâm sứ và việc bổ nhiệm ĐC Nhơn làm Tổng Giám
Mục Phó với quyền kế vị. Phải chăng đúng như nhiều người cho rằng do những thông
tin sai lạc và những ý kiến của đa số các giám mục muốn mà HĐGM VN đã lôi cả
Vatican vào cách hành xử theo hướng của Nhà Nước và vô hình trung lọt vào quĩ
đạo của họ. Trước sự hoài nghi và bất tín nhiệm này, HĐGMVN tỏ ra lúng túng, khó
ăn khó nói với cộng đồng tín hữu và có nói ra, người ta cũng ít tin và cho là
“ngôn ngữ gỗ”, như bản Lời chủ chăn của ĐHY Phạm Minh Mẫn đề là: “Việc cần làm
trong hiện tình của chặng đường theo Chúa hôm nay”, phát cho các người đi dự lễ
phong chức linh mục ngày 11.6.2010 vừa qua. Có linh mục nhận mà không đọc, có
người đọc mà thấy nhạt nhẽo không có sức thuyết phục.
Ngoài ra, những ai đọc “Sự kiện Ngô
quang Kiệt” từ bài số 1 cho đến số 10 (đăng trên Nữ Vương Công Lý -BBT) hẳn đã
thấy rõ một nửa sự thật chưa được nói tới, nay được bạch hoá để trả lời cho Cơ
quan thông tin của HĐGM.
Muốn nói gì thì nói, nguyên một sự
yên lặng trước các việc đã xẩy ra và trước một tình trạng đất nước như hiện nay
thì sự yên lặng của HĐGM sẽ bị coi như một sự ngầm thoả thuận, một trạng thái bị
thuần hoá. Thuần hoá là từ của giám mục Nguyễn Quang Tuyến nói với linh mục
Nguyễn Hữu Lễ trong thời gian chữa bệnh ở Mỹ. Linh mục Lễ đã dùng lại từ này để
nói về các giám mục. Cũng lại linh mục Lễ đã làm xôn xao dư luận tại Mỹ năm
2007, khi viết bài nói về mục vụ xin tiền. Hồi đó, người ta kịch liệt phản đối
ông. Nhưng bây giờ nhiều người lại cho là ông có lý.
Nói chung, phần đông người công giáo
V.N. lúc nào cũng có lòng trọng kính các giám mục, ngay cả bây giờ. Sự trọng
kính đó có điểm hay và không hay. Hay là duy trì được sự gắn bó giữa mục tử với
“đàn chiên” và không hay là làm cho các mục tử yên trí lớn rằng vì lòng trọng
kính, “đàn chiên” sẽ không dám phê bình nhận xét gì cả về lời lẽ, hay cung cách
hành xử của mình, bởi nói phạm đến cha là phạm đến Chúa. Chính vì lòng trọng
kính này phần nào bị sứt mẻ trong tình thế hiện nay, mà có những người tỏ ra lo
ngại cho sự hợp nhất của Giáo hội.
2. Vậy phải nghĩ thế nào?
2,1 Một sự rạn nứt
Phải thành thật công nhận rằng đã có
một sự rạn nứt trong Giáo hội, trước sự ra đi khỏi toà Tổng Giám Mục Hà nội của
ĐC Ngô Quang Kiệt, đành rằng sự ra đi đó có thể là cái giá phải trả cho việc khả
dĩ thiết lập bang giao giữa Nhà Nước và Toà Thánh và việc ĐGH sang thăm Việt
Nam. Thêm vào đó là lời tuyên bố của ĐHY Phạm Minh Mẫn rằng Giáo hội miền Bắc
còn sống theo não trạng tiền Công Đồng.
2,2 Một sự mất uy tín
HĐGMVN mất uy tín vì sự yên lặng
triền miên của mình qua các sự việc nổi cộm liên quan đến các cuộc bức hại của
chính quyền đối với “con chiên bổn đạo”, và tình hình lâm nguy của đất nước
trước hoạ ngoại xâm cũng như sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo lý.
2,3 Một sự giảm thiểu
Sự giảm thiểu lòng trọng kính trông
thấy của nhiều giáo dân đối với hàng Giáo phẩm và linh mục vì tác phong và cách
hành xử của một số vị.
2,4 Mất tự do và độc lập
HĐGM bị coi như mất tự do và độc lập
trước chính quyền, và xem ra như là một thứ đồ trang trí để củng cố cho chế đõ.
2,4 Một sự nhát đảm của HĐGM không
dám nói dám làm những điều thuộc bổn phận và chức vụ của mình.
2,5 Một khuynh hướng yên thân, không
muốn làm hay nói điều gì có thể gây khó dễ cho mình, tuy bổn phận do chức vụ hay
ích chung đòi phải làm, phải nói.
3. Vậy phải làm sao?
3,1 Cầu nguyện và phó thác
Vấn đề tiên quyết vẫn là cầu nguyện
và phó thác, xin Chúa ra tay sắp xếp và định đoạt lại theo chương trình của
Người.
3,2 Không để mình bị ru ngủ
Cần tỉnh táo đề phòng để khỏi bị ru
ngủ và mê hoặc bởi các cơn cám dỗ về danh vọng quyền lực, và những đặc quyền đặc
lợi cùng những ảo ảnh,vẻ hào nháng bên ngoài của các cơ sở, nhà thờ, dòng tu,
trung tâm mục vụ, lễ nghi hoành tráng, mà quên rằng đạo không phải là thế và chỉ
có thế.
3,3 Khiêm tốn
Nhận rằng mình có lỗi và tìm cách sửa
chữa chứ không lo biện hộ và tránh né.
3.4 Hiên ngang
Không đối đầu, nhưng hiên ngang nhận
mình là những người tin theo Chúa mà không sợ hãi hay thoả hiệp với cái xấu,
cũng không tìm cách làm đẹp lòng người đời như thánh Phao-lô nói: “Nếu tôi còn
tìm cách làm đẹp lòng người đời thì tôi không phải là đầy tớ của Đức Ki-tô.” (Gl
1,10)
3.5 Lấy lại uy tín
HĐGM cần lấy lại uy tín bằng các hành
động thiết thực hợp với tư cách và sứ mệnh của mình. Mà một trong những hành
động hàng đầu, ấy là : “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện
cũng như lúc không thuận tiện hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng
nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ.” (2 Tm 4,2)
3.6 Dám nói
Dám nói, khi cần phải nói, về những
sự việc liên quan đến quyền lợi và uy tín của Giáo hội cũng như giáo dân, như
trường hợp anh Năm bị đanh chết ở Cồn dầu và lời tuyên bố của bà Ngô thị Thanh
Thuỷ về linh mục Phan khắc Từ.
Kết luận
Những điều nói ra trên đây thật đau
lòng và buồn chán. Sự thật là thế đó. Nhưng nói ra liệu có mấy ai nghe và chắc
sẽ bị gán ghép cho là theo phe chống đối HĐGM. HĐGM đã bị tấn công rồi, sao lại
còn toa rập mà tấn công nữa. Phần đông các linh mục tu sĩ và nhiều giáo dân nghĩ
như thế. Người ta cứ bảo nói làm gì nữa cho người ngoài biết để người ta khinh
thường Giáo hội. Nhưng lương tâm buộc phải nói trước tình trạng đáng buồn này.
L.m. Anrê Đỗ xuân Quế o.p.