Bài giảng Của Linh Mục
Nguyễn Viết Chung
Nhân lễ mở tay Tân Linh mục Phaolô Phạm Quang Hoàng
Giáo xứ Kim Thượng, giáo phận Xuân Lộc ngày 24/9/2010
LTS.- Cha Nguyễn Viết Chung vốn là một Bác sĩ xuất thân trong một gia đình Phật giáo. Vì cảm động trước tấm gương hy sinh, tận tụy của đức cố Giám Mục Casseigne, người đã sống và chết bên cạnh đồng bào cùi hủi tqi Tây Nguyên thế kỷ trước, thêm vào là hình ảnh người thày ngoại quốc thông minh, tài trí và khiêm tốn vốn là một linh mục Dòng Tên, khiến người sinh viên này tìm về chân đạo. Sau khi lãnh bí tích rửa tội, BS Chung tiến thêm một bước bằng quyết định dâng mình cho Chúa. Năm 2003 ngài được trao ban Thánh Chức Linh Mục để từ đấy dấn thân vào con đường truyền giáo.
Sau đây là nội dung bài giảng của cha Nguyễn Viết Chung nhân lễ mở tay của tân linh mục Phạm Quang Hoàng hôm 24-9 vừa qua. Nó trở thành một đề tài suy gẫm cho tất cả mọi người, từ giáo dân đến Giám Mục khi nghĩ tới cánh đồng truyền giáo bao la trên đất nước Việt Nam hôm nay. Trường hợp khiến cha Chung tìm về với Chúa cũng như con số những lương dân nhiệt thành đáp lại lời mời gọi của cha Chung là một minh chứng hùng hồn cho thấy con người trong bất cứ thời đại nào cũng rất cần đến những chứng nhân cụ thể hơn là những bài giảng lý thuyết. Như Đức cố GM Casseigne. Như Đức Cha Hoàng Đức Oanh, như cha Nguyễn Viết Chung.
Kính thưa :
Cha Bề trên Miền Tu hội Truyền giáo thánh Vinh Sơn, miền Việt Nam.
Cha Chính xứ Giáo xứ Kim Thượng
Tân Linh mục Phaolô Phạm Quang Hoàng
Tân Linh mục Phêrô Ngô Văn Thuyên
Quý Cha đồng tế
Quý nam nữ Tu sĩ
Ông bà cố của tân Linh mục Phaolô Phạm Quang Hoàng
Quý ông bà anh chị em hiện diện trong thánh lễ tạ ơn này.
Được thụ phong linh mục vào ngày 21/9/2010 vừa qua tại nhà thờ Chính tòa giáo phận Đà Lạt, hôm nay, tân linh mục Phaolô Phạm Quang Hoàng dâng thánh lễ tạ ơn tại nhà thờ của giáo xứ Kim Thượng, giáo xứ quê nhà nơi tân linh mục đã được sinh ra, lớn lên, được nuôi dưỡng tâm tình sống đời thánh hiến để làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô Phục sinh. Tân linh mục là tu sĩ của Tu hội Truyền giáo thánh Vinh Sơn. Là người anh em của tân Linh mục trong Tu hội Truyền giáo, trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân linh mục này, con xin được chia sẻ chút tâm tình về vấn đề truyền giáo như sau.
Quyển sách "Dân Làng Hồ" là bản dịch của thiên hồi ký mà nguyên bản tiếng Pháp có tựa đề là "Les Sauvages Bahnars" của cha Pierre Dourisboure. Đây là thiên hồi ký của một cha truyền giáo người Pháp về công cuộc truyền giáo của các vị thừa sai cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao nguyên Việt Nam. Đọc quyển sách này, con có một ấn tượng thật mạnh về cuộc đời của vị thừa sai đầu tiên cho vùng Cao nguyên Việt Nam. Đó là cuộc đời của cha Pierre Combes. Cha Combes được thụ phong linh mục khi cha mới 24 tuổi, đó là năm 1849. Cha là linh mục của Hội Thừa sai Paris. Một năm sau cha qua truyền giáo tại Việt Nam. Cha là linh mục đầu tiên lên truyền giáo tại Tây nguyên, đó là năm 1850.
Trực diện với cuộc bách hại đạo khốc liệt của vua quan triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ, trực diện với khí hậu của vùng rừng núi trùng trùng điệp điệp của Tây nguyên, trực diện với những căn bệnh gây chết người như sốt rét, kiết lỵ... trực diện với trở ngại của sự bất đồng ngôn ngữ, trực diện với sự nghi kị, hờ hững của anh em dân tộc thiểu số vào thuở ban đầu ; cha Pierre Combes chỉ ước mơ : "Ôi nếu trước khi lìa trần mà tôi được diễm phúc ban phép rửa tội cho 5 người lớn hay dạy giáo lý cho 15 dự tòng thì tôi vui mừng đọc kinh Nunc Dimitis – Lạy Chúa, giờ đây xin Chúa để con ra đi bình an." Với tất cả nỗ lực của một linh mục trẻ tuổi, đầy nhiệt huyết, vượt qua tất cả mọi trở ngại trong 7 năm truyền giáo, cha đã rửa tội cho 34 người lớn, cha dạy một lớp giáo lý tân tòng cho 23 dự tòng. Chúa đã ban cho cha nhiều hơn điều cha dám xin và Chúa đã nhận lời cha. Thiên Chúa đã quan phòng một cách diệu kỳ cho người con yêu của Chúa. Tại vùng rừng núi xa xôi hiểm trở, ngày 12 tháng 9 năm 1857, cha Verdier, một cha truyền giáo khác tại một địa sở kế cận đã đến thăm cha Combes. Sáng ngày 14/9/1857 cha Combes đã xin cha Verdier giải tội cho mình trước khi cha Verdier ra về. Trưa ngày 14/9/1857, một cha truyền giáo người Việt, cha Bảo, trên đường đi nhận địa sở kế cận đã ghé thăm và nghỉ lại qua đêm. Chiều ngày 14/9/1857 cha Combes than mệt nhưng ngài vẫn dạy giáo lý. Ngài cho học trò về sớm hơn thường lệ. Khi học trò vừa ra khỏi lớp, cha Combes đã loạng choạng và ngã quỵ xuống đất. Cha Bảo có mặt kịp thời để xức dầu thánh cho cha Combes. Cha Combes đã an bình ra đi lúc ngài mới 32 tuổi, sau bảy năm truyền giáo và đạt được điều nguyện xin.
Phải chi tất cả linh mục của Chúa, nhất là các linh mục tu sĩ của Tu hội Truyền giáo cũng có được nhiệt huyết, dấn thân một cách trọn vẹn cho công cuộc loan báo tin mừng như cha Pierre Combes. Đó là lời tạ ơn chân thành nhất, đó là của lễ đẹp lòng Thiên Chúa nhất để dâng lên Chúa Giêsu Kitô của chúng ta.
Ở vùng truyền giáo, sự cộng tác chân thành, vô vị lợi, tất cả chỉ vì người nghèo của Chúa đã mang lại những hoa trái nhiệm màu.
Làng Đak Ngó, xã Măng Bút, huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum là một làng nằm ở cực Bắc của tỉnh Kon Tum, gần ranh giới của tỉnh Quảng Ngãi. Đây là làng duy nhất có đạo ở vùng này. Làng chỉ có 37 gia đình. Vì thời cuộc, gần 40 năm, làng không hề có một linh mục hoặc một nam nữ tu sĩ nào viếng thăm. Mãi cho đến đầu năm 2008, các vị mục tử mới có cơ hội đến thăm giáo dân. Đây là những giáo dân người dân tộc Sê Đăng. Họ sống đạo thật tuyệt vời, vẫn thường xuyên đi thăm viếng lương dân ở các làng kề cận. Trước năm 2008, mỗi năm hai lần, vào dịp lễ Giáng sinh và Phục sinh, họ bồng bế nhau, cả gia đình đi bộ gần hai ngày trời để đến được một nhà thờ gần thành phố Kon Tum tham dự thánh lễ. Rồi lại thêm hai ngày đi đường để về nhà.
Giữa tháng Bảy vừa qua, con nhận được một cuộc gọi điện thoại :
- Cha ơi có một em nhỏ bị bệnh làm mù mắt. Cha có giúp nó không ?
- Giúp chớ !
- Nhưng nó không có đạo
- Ồ ! Vẫn giúp mà. Đưa nó xuống đây mau đi !
Từ làng Đak Ngó đến cộng đoàn của con khoảng chừng 100km, 20km gần làng còn là đường đất, khúc khuỷu, vòng vo, gập ghềnh, quanh rừng núi. Chạy xe Honda, mau cũng hết gần 6 tiếng.
Ngày 24/7/2010, bệnh nhân được chở đến cộng đoàn của chúng con. Đó là một bé trai 14 tuổi, học lớp 7. Đang đi học, mắt em mờ dần và chỉ trong vòng một tháng, hai mắt đã mù hẳn. Từ Kon Tum, chúng con đã vội chở em xuống Pleiku để được một bác sĩ giỏi chuyên khoa mắt khám cho. Chúng con hội ý với nhau, cho em chụp CT đầu ngay lập tức. Em bị một cục Bướu ở cầu não chèn vào dây thần kinh thị giác gây ra mù. Chúng con cùng với những giáo dân tốt lành, người thì lo chứng nhận giấy bảo hiểm y tế, người thì dẫn đường, người thì nuôi bệnh, người thì giúp tiền, chúng con đưa được em này nhập khoa Ngoại Thần kinh, bệnh viện Chợ Rẫy. Bác sĩ tại đây chỉ còn làm được việc đưa dịch não tủy xuống bụng của em để cho em đừng nhức đầu. Mỗi khi nhức đầu, em chỉ biết đập đầu vô vách. Ngày 29/7/2010, em nhập viện, ngày 9/8/2010 em được cho xuất viện. Trong những lúc ngồi chơi với em, con đã dạy truyền miệng cho em kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng, kinh Sáng danh. Một giáo dân khác cho em một chuỗi Mân Côi và đeo vào cổ em. Ngày 12/8, tại cộng đoàn của con, cầm tay em và cùng sờ vào Thập giá Chúa của chuỗi Mân Côi em đeo nơi cổ, con hỏi em :
- Con có xin Chúa Giêsu điều gì không ?
- Có
- Con xin Chúa điều gì ?
- Con xin Chúa cho con sáng mắt để con đi học
- Con có muốn làm con của Chúa không ?
- Muốn.
14h30 ngày 12/8/2010, con đã rửa tội cho em. Tên em là A Phân. Người đỡ đầu cho em chính là người giáo dân tốt lành đã nuôi em trong bệnh viện, em lấy tên thánh của người này. Em là Phao lô A Phân, 14 tuổi, người dân tộc Sê Đăng. Liền sau đó, cha mẹ em đã đón em về làng. Thú thật, lần rửa tội này khác hẳn những lần trước. Con bồi hồi đến lặng cả người. Đây là lần đầu tiên trong 7 năm linh mục của con, con rửa tội cho một người đón nhận đức Tin vì họ cảm được Thiên Chúa yêu thương họ.
Ngày 19/8/2010, lúc 11h trưa, em đã chết vì căn bệnh ung thư não, gây mù mắt.
Thật tình mà nói, con không buồn lắm khi nghe tin em chết vì tất cả những gì chúng con và tất cả những giáo dân tốt lành có thể làm được cho em, chúng con đã làm.
Kính thưa quý cha, kính thưa quý ông bà anh chị em, Chúa đã được chúc lành một cách nhưng không.
Từ ngày em Phaolô A Phân chết đến hôm nay, đã có 15 gia đình lương dân ở các làng chung quanh chính thức viết giấy xin theo đạo. Tất cả là 51 người! Một điều mà trước đó, con không bao giờ nghĩ đến! Tạ ơn Chúa! Đây là danh sách của 15 gia đình xin theo đạo. Hiện tại, chúng con đang tìm cách dạy giáo lý cho họ.
Kính thưa cộng đoàn dân Chúa, dẫn chứng của lịch sử và thực tế của công cuộc truyền giáo ở Tây nguyên giúp chúng ta xác tín rằng :
"Rao giảng Tin Mừng là một sự cần thiết bắt buộc phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng. Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công ; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó." (1Cr, 9, 16-17)
Thời đại ngày nay là thời đại truyền giáo của người giáo dân. Chính họ là men trong bột, là muối cho đời giữa môi trường họ sống. Cứ một người Công giáo Việt Nam chúng ta là có hơn chín người ngoại đạo chung quanh. Anh em lương dân đọc tư tưởng của chúng ta, họ nghe chúng ta nói, họ nhìn chúng ta làm. Chính họ đánh giá xem những gì chúng ta tin vào Chúa Giêsu chịu chết trên cây thập giá và những gì chúng ta sống giữa họ có cân xứng hay không ?
Sự nhiệt tình, dấn thân trọn vẹn cho công việc loan báo Tin Mừng của những mục tử, cộng với sự gắn bó của người giáo dân vào Lời Chúa chắc chắn sẽ nở sinh hoa trái dồi dào. Chính trong tâm tình này, ước chi niềm vui và lời tạ ơn của tân linh mục Phaolô Phạm Quang Hoàng, niềm vui của ông bà cố và hai gia tộc họ Phạm – họ Cù, niềm vui của cộng đoàn dân Chúa giáo xứ Kim Thượng sẽ biến thành lời cầu xin lên Chúa Giêsu : "Xin Chúa Giêsu Kitô trao ban thần khí của Ngài cho chúng con nhiều hơn nữa. Xin cho chúng con được ơn khôn ngoan và dũng mãnh để chúng con là những chiến sĩ kiên trì đầy nhiệt huyết loan báo Tin Mừng chúng con đã lãnh nhận". Ước chi vào cuối thiên niên kỷ này, 70% dân số Việt Nam sẽ là những người con yêu của Chúa trong đại gia đình của Hội thánh Công giáo thân yêu.