Hội Đồng Giáo Mục Việt Nam
Lm Chân Tín DCCT

Trước Những Vi Phạm Nhân Quyền

        "Tôi muốn ngỏ lời với tất cả anh chị em trong giờ phút quyết liệt này của lịch sử chúng ta. Không ai trong anh chị em được đứng ngoài lề. Hãy lên tiếng hợp với tất cả công dân Tiệp Khắc, cùng với những người thuộc sắc tộc khác, dẫu họ là tín hữu hay không có tín ngưỡng. Quyền tự do tín ngưỡng không thể tách rời khỏi những quyền dân chủ khác, tự do là điều không thể phân chia được." (Đức Hồng Y Tomasek – Tiệp Khắc).

Những lời tuyên bố trên đây của Đức Hồng Y Tomasek làm cho tôi suy nghĩ. Và tôi cũng xin anh chị em suy nghĩ, vì tất cả chúng ta đều đã thấy rất rõ tình trạng thiếu phấn đấu của Giáo Hội VN cho tự do tôn giáo và cho nhân quyền và dân quyền của người dân VN hôm nay. Mong rằng Giáo Hội VN sẽ sám hối về những thiếu sót đó.

Cách đây 20 năm, vào tháng 4 năm 1990, trong Tuần Thánh chuẩn bị Lễ Phục Sinh, tôi đã giảng 3 bài về sự sám hối: sám hối cá nhân, sám hối tập thể của GHVN, sám hối của đảng CS. Riêng trong bài giảng thứ hai, tôi đã chân thành và mạnh dạn kêu gọi Giáo hội VN, đặc biệt là Hội Đồng Giám Mục, phải sám hối vì chưa hoàn thành chức năng ngôn sứ của mình. Chính vì bài giảng đó và bài giảng của ngày hôm sau về việc đảng CS phải sám hối, tôi đã bị Nhà Nước trục xuất ra khỏi thành phố Sài Gòn và quản chế 3 năm ở Cần Giờ.

Tiếc là 20 năm sau, những gì tôi đã nói hôm đó với Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt với Hội Đồng Giám Mục, có vẻ vẫn còn y nguyên tính thời sự. Do đó, hôm nay, tôi xin phép nhắc lại những gì tôi đã nói hồi tháng 4 năm 1990 ấy về Hội Đồng Giám Mục Việt Nam với vấn đề vi phạm nhân quyền tại Việt Nam chúng ta.

Hiến chế của Công Đồng Vatican II về Giáo Hội trong thế giới ngày nay đã tuyên bố:

"Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người hôm nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thực vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo bằng những con người được họp lại trong Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trên con đường về Nước Cha và đã đón nhận tin mừng cứu rỗi phải được gửi đến cho tất cả  mọi người. Vì thế, cộng đoàn tín hữu cảm thông thực sự và sâu xa liên đới với con người và lịch sử nhân loại" (MV 1).

Trong tinh thần phục vụ con người, Giáo Hội VN cần xét mình lại, xem mình có thực sự và sâu xa liên đới với con người VN hôm nay hay không. Người VN hôm nay hy vọng và lo âu cái gì? Họ lo âu trước tình trạng của một xã hội tan rã trên mọi phương diện, trong đó họ bị tước đoạt những quyền căn bản của con người và người dân. Con người sinh ra bình đẳng và tự do, có tất cả những quyền căn bản của con người mà Thiên Chúa ban cho họ. Thêm vào đó, ngày 10-12-1948, Liên Hiệp Quốc đã ra "Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền", trong đó có đoạn nói:

"Xét rằng thừa nhận phẩm giá cố hữu của những quyền bình đẳng và bất khả nhượng của con người trong đại gia đình thế giới là đặt nền tảng cho tự do, công lý và hoà bình thế giới;

"Xét rằng vì không biết rõ và khinh miệt nhân quyền nên loài người đã có những hành động dã man đối với lương tâm, và xét rằng sự tiến tới một thế giới trong đó nhân loại sẽ được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và tự do sinh sống không phải  sợ hãi và thiếu thốn, đã được tuyên bố là nguyện vọng cao cả nhất của con người;

"Xét rằng điều tối cần là nhân quyền phải được pháp luật che chở, nếu muốn cho loài người không bao giờ phải dùng đến những phương tiện nổi loạn, để chống lại sự tàn bạo và áp bức"

Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc công bố bản Tuyên Ngôn quốc tế này, như là một lý tưởng chung cho các dân tộc và các quốc gia phải tiến tới."

Giáo Hội Việt Nam (tức là HĐGM, các giám mục giáo phận, các linh mục, tu sĩ và giáo dân) đã làm gì trước những vi phạm nhân quyền ngày càng trầm trọng ngay tại Việt Nam? Giáo Hội đã có lên tiếng, khi thuận khi ngịch, khi âm thầm khi công khai, để người ta trả lại nhân quyền căn bản của con người VN hôm nay hay không? Trên đất nước này, người ta coi mọi nhân quyền và dân quyền là ân huệ người ta có thể ban cho, có thể giới hạn, có thể rút lại. Họ coi họ hơn cả Thiên Chúa. Thiên Chúa ban cho con người tự do và không bao giờ rút lại, kể cả khi con người phản bội Ngài, đóng đinh Con của Ngài. Với chức năng tư tế, ngôn sứ và phục vụ con người, Giáo Hội phải đòi người ta trả những quyền căn bản cho con người, chứ Giáo Hội không phải xin xỏ, năn nỉ ỉ ôi. Giáo Hội VN phải phấn đấu để phục vụ người nghèo, người đau khổ, người bị bóc lột, người bị áp bức.

Trong số các đồ đệ của Chúa Kitô ngày nay vẫn có những gương mẫu anh dũng: mục sư  Martin Luther King đã bị ám sát ở Hoa Kỳ, vì bảo vệ quyền người da đen, chống phân biệt chủng tộc; giám mục Romano và sáu linh mục Dòng Tên đã bị ám sát ở Salvador vì bênh vực những người bị áp bức; hồng y Wyszynski ở Ba Lan vì bênh vực Giáo Hội đã gặp nhiều khó khăn…

Đặc biệt Đức Hồng Y Tomasek ở Tiệp Khắc đã phấn đấu cho Giáo Hội như lời ngài tuyên bố trước 200 ngàn người biểu tình tại Praha ngày 21-11-1989 và được đọc tại các nhà thờ ngày chủ nhật 26-11-1989: " Về phần tôi, tôi không thể nào tỏ ra xa lạ với định mệnh quốc gia chúng ta và toàn thể đồng bào đất nước tôi. Tôi không thể im lặng trong lúc tất cả anh chị em đang hợp lực với nhau để phản đối những bất công mà anh chị em phải chịu từ 40 năm nay, người ta không thể duy trì lòng tín nhiệm đối với giới lãnh đạo quốc gia không muốn nói sự thật và chối bỏ các quyền lợi và các quyền tự do của nhân dân với truyền thống có từ hàng ngàn năm nay, những quyền này vẫn được coi là những quyền bình thường trong những quốc gia trẻ trung hơn đất nước chúng ta." Rồi ngài kể lại bao nhiêu lần Giáo Hội gửi đến nhà nước những lời khiếu nại nhưng nhà nước đã làm ngơ. Giáo Hội tiếp tục lệ thuộc nhà nước theo những điều hạn chế được áp đặt trên Giáo Hội từ thời Staline… Và ngài kết luận: "Tôi muốn ngỏ lời với tất cả anh chị em trong giờ phút quyết liệt này của lịch sử chúng ta. Không ai trong anh chị em được đứng ngoài lề. Hãy lên tiếng hợp với tất cả công dân Tiệp Khắc, cùng với những người thuộc sắc tộc khác, dẫu họ là tín hữu hay không có tín ngưỡng. Quyền tự do tín ngưỡng không thể tách rời khỏi những quyền dân chủ khác, tự do là điều không thể phân chia được."

Những lời tuyên bố trên đây của Đức Hồng Y Tomasek làm cho tôi suy nghĩ. Và tôi cũng xin anh chị em suy nghĩ, vì tất cả chúng ta đều đã thấy rất rõ tình trạng thiếu phấn đấu của Giáo Hội VN cho tự do tôn giáo và cho nhân quyền và dân quyền của người dân VN hôm nay. Mong rằng Giáo Hội VN sẽ sám hối về những thiếu sót đó.

Trên đây là những điều tôi đã nói cách đây 20 năm, trước hàng ngàn giáo dân khắp thành phố Sài Gòn đến dự. Họ chờ đợi tôi đề cập đến những vấn đề hóc búa mà họ rất muốn nghe, và họ mong tôi nói thẳng nói thật. Hơn 20 năm đã qua, hoàn cảnh của Giáo Hội và Đất Nước Việt Nam đã có nhiều thay đổi, nhưng tình trạng vi phạm nhân quyền vẫn không giảm bớt, trái lại có vẻ càng tinh vi hơn. Tôi nghĩ Hội Đồng Giám Mục không thể tiếp tục thiếu dấn thân bảo vệ quyền con người.

Và hình như các Đức Giám Mục cũng đã bắt đầu "biến chuyển" khi thành lập Ủy ban Công lý – Hòa bình trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Tất nhiên trách nhiệm của Ủy ban này không phải là để "vào hùa" với đảng cộng sản trong những sự vi phạm nhân quyền trầm trọng hiện nay. Và cũng tất nhiên trách nhiệm của Ủy ban này nói riêng và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nói chung không chỉ giới hạn trong việc bảo vệ nhân quyền cho mấy triệu người Công Giáo mà thôi. Bởi vì như Công Đồng Vatican II đã nói: "Cộng đoàn tín hữu cảm thông thực sự và sâu xa liên đới với con người và lịch sử nhân loại".

Tôi đã hơn 90 tuổi rồi, nhưng vẫn hy vọng sẽ được thấy Giáo Hội và HĐGM VN dấn thân mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn và chân thành hon cho quyền làm người và dân quyền của mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, văn hóa… Tôi chân thành cầu chúc Ủy ban Công lý – Hòa bình thực hiện thật tốt nhiệm vụ thực của mình trước mặt Chúa, trước mặt Giáo Hội và trước mặt đồng bào.

Trước Những Dối Trá Của Chế Độ Cộng Sản

Nhìn vào 65 năm cộng sản cai trị miền Bắc và 35 năm cộng sản cướp chính quyền ở miền Nam, ta không khỏi lo âu trước sức phá hoại của cộng sản trên con người và đất nước, vì những dối trá của chế độ chính trị này.

(1) Dối trá thứ nhất: Thuyết vô thần duy vật

Trước hết, chế độ cộng sản đã áp đặt một cách có hệ thống thuyết vô thần duy vật trên toàn dân, đặc biệt trên giới trẻ trong các trường đại học và trung học. Đảng cộng sản đã áp đặt chủ thuyết này một cách triệt để, như chứng từ của một nhà khoa học, tiến sĩ Phạm Như Ngọc, nguyên Trưởng Phòng vật lý hạt nhân tại Viện vật lý, Viện khoa học Việt Nam:

"Tôi sinh ra và lớn lên trong lòng miền Bắc nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa. Suốt 10 năm trung học phổ thông tôi luôn luôn được dạy rằng vũ trụ này tự nhiên mà có, không có ông trời nào hết. Rồi tôi vào học ngành vật lý của trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Tôi phải học triết học duy vật một cách có hệ thống trong sợi chỉ đỏ xuyên suốt là quan điểm vật chất có trước, vật chất quyết định ý thức. Chỉ những gì con người cảm nhận được trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các giác quan mới tồn tại. Như thế, chủ nghĩa duy vật đương nhiên chối bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa, vì không ai có thể sờ đụng được hoặc cảm nhận được Ngài nhờ các giác quan của mình. Lúc bấy giờ tôi cảm thấy chủ nghĩa duy vật là đúng. Ai tin vào Thiên Chúa, tôi cho là duy tâm, là mê tín dị đoan cả. Sau khi tốt nghiệp, tôi làm nghề dạy học, vừa phải dạy vật lý, vừa phải thông qua môn học này để giáo dục tư tưởng duy vật cho sinh viên. Vì thực tâm tin ở sự đúng đắn của chủ nghĩa duy vật, nên tôi dạy rất say sưa, không thấy gò bó gì cả.

Suốt 13 năm trên con đường xa cách Chúa và chống lại đường lối Người, bây giờ nghĩ lại, tôi thấy xót xa hối hận vô cùng. Nếu linh hồn của lớp đàn em tôi bị hư mất, thì chính tôi phải chịu trách nhiệm đã vô tình gây nên tội".

Trong khi dạy giáo lý dự tòng, tôi hỏi mấy sinh viên công giáo đi cùng với bạn mình: "Các anh chị tin có Thiên Chúa không?". Họ trả lời: "Có". Tôi hỏi tiếp: "Các anh chị có xác tín có Thiên Chúa không?". Họ lắc đầu. Với trí khôn không xác tín có Thiên Chúa, thì niềm tin của họ không có căn bản. Tin Chúa, tin Giáo Hội có vững nếu họ xác tín qua lý trí rằng có Thiên Chúa tạo thành vũ trụ và con người. Với sự yếu kém của trí khôn đang bị thuyết duy vật vô thần chi phối, họ sẽ mất hết đức tin và chỉ giữ đạo theo thói quen.

Trước tình trạng này, có lẽ Hội Đồng Giám Mục, cách riêng là Ủy ban Giáo lý và Đức tin nên tính đến việc in ra hàng triệu tài liệu chống lại thuyết vô thần duy vật đang tàn phá khốc liệt con người Việt Nam, cách riêng con em chúng ta đang bị đe dọa mất đức tin. Sau bao nhiêu năm, chẳng lẽ Hội Đồng Giám Mục vẫn ngồi yên trước sự dối trá căn bản này của cộng sản sao?

(2)Dối trá thứ hai: Bầu cử Quốc hội và Hiến pháp 1992

Ai cũng thấy bầu cử giả hiệu của đảng cộng sản. Bầu cử là phải có tự do ứng cử, tự do chọn người để bầu. Trong chế độ cộng sản, đảng chọn người rồi bắt nhân dân đi bầu, vừa gian dối vừa tốn kém. Tôi đã không đi bầu và đã kêu gọi mọi người không đi bầu. Đáng lẽ ra, Hội Đồng Giám Mục phải tố cáo sự giả dối này và không đi bầu để nhân dân thấy trò bịp bợm này; thay vì thê, các Đức Giám Mục cũng đi bầu như ai vì sợ, vì muốn an thân, mặc cho người dân, con cái của mình cùng tham gia vào trò hề bầu cử giả hiệu. Giáo Hội phải bảo vệ sự thật, chứ không thể chấp nhận trò giả dối này. Nếu Hội Đồng Giám Mục không đi bầu và tuyên bố lý do, thì chắc rằng chế độ này không thể làm trò hề ấy năm này qua năm khác được. Bầu cử là một trò hề, thì Quốc hội cũng là một trò hề. Họ là đại biểu của ai? Đâu phải của toàn dân. Họ được đảng bầu chọn. Nhân dân đi bỏ phiếu cho những người đảng chọn, để cho thế giới lầm tưởng là có dân chủ, có bầu cử tự do.

Chưa hết. Hiến pháp 1992 lại chấp nhận cho đảng cộng sản cướp chính quyền sẽ lãnh đạo mãi mãi. Do đó, tôi và nhiều lãnh đạo tôn giáo như Phật Giáo thống nhất, Hòa Hảo, Cao Đài đã lên tiếng đòi hủy bỏ điều 4 Hiến pháp (tức là điều chấp nhận cho đảng cộng sản giữ quyền lãnh đạo muôn năm) và đòi bỏ cả Hiến pháp 1992. Trong khi đó, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam vẫn im lặng, chịu đựng, không có một tuyên bố nào phê phán Hiến pháp đó.

Nhân hội nghị của Liên Hiệp Quốc tại Vinena (nước Áo) về nhân quyền (14.06.1993), tôi đã cực lực lên án cộng sản vi phạm mọi nhân quyền của nhân dân Việt Nam. Qua cuộc phỏng vấn của đài RFI một ngày trước hội nghị, tôi yêu cầu hội nghị Liên Hiệp Quốc đòi đảng cộng sản Việt Nam tôn trọng "tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do bầu cử… Con người phải được pháp luật bảo vệ, không bị bắt bớ một cách bừa bãi. Chính những cái đó là căn bản cho cuộc sống của người dân".

Ngày 09.09.2001, trong khi Quốc hội khóa 10 ra nghị quyết thành lập ủy ban dự thảo sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, tôi đã lên tiếng yêu cầu bỏ điều 4 Hiến pháp và bỏ luôn cả Hiến pháp 1992. Phải soạn thảo một hiến pháp mới phản ánh ý nguyện của toàn dân. Phải hủy bỏ Hiến pháp 1992 vì nó không giá trị. Phải bầu ra một Quốc hội lập hiến với những dân biểu được nhân dân bỏ phiếu tự do. Bản hiến pháp phải xác định tính cách độc lập 3 quyền căn bản: quyền lập pháp (quốc hội), quyền tư pháp (tòa án), quyền hành pháp (nhà nước). Thiết lập đa nguyên, đa đảng để mọi người dân được tự do chọn lựa một thể chế chính trị và nói lên những đòi hỏi chính đáng của mình. Các quyền căn bản của con người như: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do đi lại, tự do cư trú, cách riêng tự do tôn giáo phải được hiến pháp mới xác định rõ ràng và ngăn cấm Nhà Nước giới hạn hay hủy bỏ như đã xảy ra với Hiến pháp 1992.

Lẽ ra trong những điều nói trên, Hội Đồng Giám Mục phải chỉ đạo cho con cái của mình, chứ không thể yên lặng cộng tác vào trò hề của chế độ cộng sản.

(3) Dối trá thứ ba: Nền giáo dục đang phá hoại ghê gớm

Một sự dối trá khác là nền giáo dục đang phá hoại cuộc sống tinh thần của toàn dân, nhất là của giới trẻ. Trong bài tham luận đọc tại đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 8 (tháng 07.2010), nhà văn Trần Mạnh Hảo đã cay đắng tố cáo sự dối trá của nền giáo dục ở Việt Nam:

"Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay, đồng nghĩa với dối trá: thầy dối trá thấy, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ, lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam."

Tình trạng giáo dục như thế, mà Hội Đồng Giám Mục, người lãnh đạo Giáo Hội Công giáo, lãnh đạo đời sống tinh thần của dân tộc, vẫn im lặng năm này qua năm khác, trong khi sự dối trá trong giáo dục ảnh hưởng nguy hại đến nhận thức và tinh thần của con em ta.

Với những dối trá nói trên, ảnh hưởng đến con người Việt Nam hôm nay và cả dân tộc mai sau, tôi xin đề nghị Hội Đồng Giám Mục nghiêm túc suy nghĩ xem Giáo Hội phải làm gì, chứ không thể ngồi yên, mặc cho những dối trá đó càng chồng chất lên dân tộc ta, lên con em công giáo của ta.

Cuối cùng, với một chế độ phá hoại con người như thế, với những người cướp chính quyền vênh váo áo mũ sống giả dối và tàn phá tôn giáo như thế, tôi thú thực không thể hiểu nổi cảnh các giám mục sắp hàng một, bắt đầu là hồng y, rồi tổng giám mục, giám mục… ôm hôn thắm thiết những con người ấy. Lại một trò hề giả dối không chịu được. Tôi đã từng nói với Ban tôn giáo Thành phố Sài Gòn: đừng nói "Ban tôn giáo", nhưng là "Ban phá tôn giáo". Xin các đấng đừng bày trò giả dối ấy nữa.

Linh mục Chân Tín, DCCT

Trước Vấn Đề Truyền Giáo

Kính thưa các Đức Cha,

Tôi là LM Chân Tín, DCCT, xin kính gửi các Đức Cha một vài ý nghĩ về việc truyền giáo.

Kính chúc các Đức Cha tràn đầy ơn Chúa để lãnh đạo Giáo Hội.

Trong Chúa Kitô,

Chân Tín

Mỗi năm, vào cuối tháng 10, Giáo Hội Việt Nam cử hành lễ truyền giáo. Có thánh lễ long trọng. Có bài giảng thuyết về vấn đề truyền giáo. Có quyên tiền giúp việc truyền giáo. Rồi chấm hết! Có vẻ là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hiện nay coi việc truyền giáo như đã chấm dứt với các vị thừa sai ngoại quốc và với việc lập hàng giáo phẩm Việt Nam, chứ không đẩy mạnh việc truyền giáo cho hơn 85 triệu người Việt Nam, mặc dù Công Giáo chỉ chiếm 6 – 7 triệu người. Tuy chỗ này chỗ kia, nhất là đối với anh chị em sắc tộc thiểu số, vẫn có những nhà thừa sai tiếp tục truyền giáo, nhưng đối với phần lớn anh em người Kinh, hình như không còn truyền giáo. Thực tế cho thấy: hình như Giáo Hội tổ chức các giáo phận, các giáo xứ, các hội đoàn… là để phục vụ người Công Giáo. Mỗi giáo phận, mỗi giáo xứ có những hội đoàn, nhưng thường không có hội đoàn nào chuyên lo truyền giáo. Các anh chị em giáo dân, ví dụ như Hội Legio, thì làm việc tông đồ chung chung và thỉnh thoảng cũng giúp ít người theo Đạo, nhưng chưa phải là một tổ chức chuyên lo truyền giáo.

Trong hoàn cảnh của chúng ta hiện nay, để việc truyền giáo được đẩy mạnh cho 85 triệu dân Việt Nam, tôi đề nghị :

 

1. Gây ý thức về nhu cầu truyền giáo thường xuyên cho toàn thể Giáo Hội Việt Nam

Việc đầu tiên là phải gây ý thức nhu cầu truyền giáo liên tục, chứ không chỉ tổ chức khánh nhật truyền giáo qua loa, mỗi năm một lần, đôi khi còn sơ sài, không bằng lễ bổn mạng của cha xứ, hay các hội đoàn. Phải gây ý thức liên tục tại nhà thờ, nơi các hội đoàn. Cần gây ý thức về sự cấp bách phải truyền giáo, nhất là vì thời kỳ này là thời kỳ cộng sản truyền bá thuyết vô thần duy vật phá tôn giáo. Nhờ được gây ý thức, người Công Giáo, bằng cách này cách khác, sẽ luôn luôn chú ý đem Tin Mừng của Chúa cho những con người và những gia đình ở gần họ.

2. Thành lập một trường chuyên lo huấn luyện truyền giáo

Để các linh mục, tu sĩ, giáo dân có những hiểu biết về tâm lý, tôn giáo, phương pháp truyền giáo…, Hội Đồng Giám Mục phải tổ chức những trường huấn luyện truyền giáo cho linh mục, tu sĩ, giáo dân. Trong đó, những hiểu biết đầy đủ và đúng đắn về các đạo làm người ở Việt Nam (như Đạo Phật, Đạo Khổng, Đạo Cao Đài, Đạo Hòa Hảo…), là quan trọng, giúp các nhà truyền giáo có thể tế nhị và cởi mở mà nói về Chúa và Hội Thánh cho những anh chị em chưa biết Chúa.

Tôi xin kể một kinh nghiệm. Hồi tôi bị cộng sản quản chế 3 năm ở Cần Giờ, tôi đã làm việc truyền giáo ở xã An Thới Đông. Khi ấy, ở An Thới Đông chưa ai theo Đạo Chúa, đa số theo Đạo Cao Đài. Nhìn thấy Bàn Thiên của các gia đình đó, tôi nhớ gương thánh Phaolô giảng đạo cho người Hy Lạp xưa khi ngài nhìn thấy bàn thờ kính thần vô danh của họ. Tôi cũng lợi dụng Bàn Thiên thờ Trời trong mỗi gia đình ở An Thới Đông để nói về Chúa Trời cho anh chị em ở đó. Nhờ vậy, tôi đưa họ về với Chúa nhưng không bỏ cái tốt cái đẹp của đạo làm người mà họ đã có từ xa xưa. Trong 17 năm (1993-2010), An Thới Đông đã từ chỗ không có ai theo Đạo Chúa đến chỗ có hơn 600 tân tòng. Hiện nay, cứ theo phương pháp đó, anh em DCCT vẫn tiếp tục truyền giáo ở đây, và mỗi năm có thêm hơn 60 người tân tòng theo Chúa, theo cả gia đình chứ không phải một vài người theo Đạo để cưới hỏi như đa số người học Đạo vì hôn nhân trong các xứ đạo khác.

Đó là chưa có huấn luyện truyền giáo đặc biệt. Nếu chúng ta có trường chuyên huấn luyện truyền giáo, chắc công việc truyền giáo sẽ hiệu quả hơn, và sẽ có nhiều người tự nguyện theo Đạo Chúa.

 

3. Về Uỷ ban Truyền Giáo

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có Uỷ ban Truyền Giáo, nhưng vì nhiều lý do, Ủy Ban này chưa thực hiện được việc truyền giáo cho cả Giáo Hội Việt Nam. Trong các lý do đó, tôi nghĩ có vấn đề nhân sự.

Ủy ban Truyền Giáo do một giám mục làm Chủ tịch. Nhưng có nhất thiết phải như thế không? Các Đức Cha đều rất bận bịu trong việc quản trị và phục vụ giáo phận được trao phó cho các ngài làm chủ chăn, nên rất khó toàn tâm toàn trí lo việc truyền giáo cho cả Giáo Hội. Ngay cả những Đức Cha tận tình và thành công trong việc truyền giáo cho người Thượng như Đức Giám mục Kontum, thì việc tổ chức truyền giáo cấp toàn quốc cũng là một nhiệm vụ khó khăn, vì ngài phải lo việc truyền giáo cho người Thượng ở giáo phận của ngài. Nay nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban Truyền Giáo được trao cho Đức Cha Giuse Nguyễn Năng, Giám mục Phát Diệm, nguyên Giám đốc Chủng Viện, hình như ít có kinh nghiệm lăn lộn trên các vùng truyền giáo, nên tôi nghĩ chắc ngài sẽ phải vất vả hơn rất nhiều.

 Vấn đề không phải là Đức Cha nào đứng đầu Ủy ban Truyền Giáo. Tôi thiết nghĩ Hội Đồng Giám Mục có thể đề cử một linh mục, Triều hay Dòng, có kinh nghiệm truyền giáo, đứng đầu Uỷ ban Truyền Giáo của Giáo Hội Việt Nam, với đầy đủ quyền hành để tổ chức việc truyền giáo cho toàn thể Giáo Hội Việt Nam. Còn nếu chức vụ Chủ tịch Ủy ban Truyền Giáo nhất thiết phải do một giám mục đảm nhận, thì chúng ta vẫn có thể xin Tòa Thánh phong chức giám mục cho một linh mục có nhiều kinh nghiệm truyền giáo, có khả năng tổ chức trường huấn luyện người truyền giáo, tổ chức trong các giáo phận những nhóm người làm truyền giáo v.v. Vị giám mục ấy không bận coi một giáo phận, mà chỉ chuyên lo việc truyền giáo, thì chắc rằng việc truyền giáo sẽ có nhiều kết quả tốt.

Trên đây là vài ý nghĩ đã nung nấu con tim tôi rất nhiều. Nhân lễ truyền giáo năm nay, tôi xin bày tỏ nỗi lòng tha thiết của tôi vào cuối cuộc đời hơn 90 năm làm người và hơn 61 năm làm linh mục. Mong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày càng ý thức sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội hôm nay, vì bản chất Giáo Hội là truyền giáo. Tôi nghĩ chúng ta phải dành nhiều nhân lực và tài lực để lo việc truyền giáo hơn là xây cất những toà giám mục đồ sộ và những nhà thờ nguy nga…

Lm Chân Tín, DCCT