Viết Từ Canada
Mặc Giao
GIÁM MỤC NGHÈO LĂN LÓC VỚI GIÁO DÂN NGHÈO
Có lẽ giáo phận Kontum là một giáo phận nghèo nhất của Giáo Hội Việt Nam. Nghèo vì đa số giáo dân là đồng bào thuộc các sắc tộc thiểu số, chúng ta quen gọi là đồng bào Thượng, sống ở vùng rừng núi Tây nguyên. Đời sống của họ rất khổ cực, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc, lấy gì mà đóng góp cho việc thờ phượng và cho việc chung của giáo hội địa phương? Ngược lại, họ còn phải nhờ cậy sự giúp đỡ của "nhà thờ" để đời sống của họ bớt cơ cực. Tình trạng giáo dân như thế thì không thể có nhiều người vượt biên ra ngoại quốc để gửi tiền về giúp bà con ở quê nhà và xây cất những cơ sở và thánh đường lộng lẫy kiểu "tiểu Vatican". May thay, giáo phận có một vị chủ chăn biết soay sở để làm cho giáo phận tiếp tục sống và còn có thể giúp đỡ những con chiên khốn cùng. Nhưng đó chỉ là mặt vật chất. Quan trọng hơn là mặt tinh thần. Vị chủ chăn và các linh mục cộng tác với ngài đã chấp nhận hoàn cảnh nghèo khó để truyền bá Tin Mừng và củng cố đức tin cho những người nghèo. Vị chủ chăn đó là Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh.
Đã nghèo lại còn khổ vì nhiều giáo dân sống trong vùng sâu và xa phải chịu cảnh mà Đức Cha gọi là "3 không": "không nhà thờ, không linh mục, không phụng tự hay sinh hoạt tôn giáo! Có xin phép cũng không cho" (Thư gửi gia đình giáo phận Kontum ngày 11-11-2010).
Dù khó như vậy, chủ chăn vẫn không bỏ rơi con chiên. Ngày 11-09-2010, Ngài đã viết thư cho Chủ tịch tỉnh Gia Lai để xin phép và thông báo chương trình thăm viếng và làm lễ cho giáo dân tại một số thôn bản. Chờ 57 ngày vẫn không có trả lời, Đức Cha đã quyết định đi thăm các xã Yang Trung, An Trung và Sơn Lang ngày 07-11-2010.
Tại Yang Trung, Ngài cử hành thánh lễ cho giáo dân tại tư gia của ông bà Trần Đình Hinh (vì không có nhà thờ hay nhà nguyện) từ 6 giờ 30 sáng. Sau thánh lễ, công an đến đe dọa gia đình ông bà Hinh, cấm không được làm như vậy lần sau. Những ngày kế tiếp, ông bà Hinh còn bị triệu lên đồn công an để "làm việc", có nghiã là bị hỏi cung và lập biên bản.
Tiếp đó, lúc 9 giờ sáng, Giám Mục và phái đoàn đến An Trung, huyện Kon Chro, cách Yang Trung 10 cây số để dâng lễ cho giáo dân tại nhà ông Bộ và bà Huệ. Chủ tịch xã và một cán bộ cũng vào theo. Lễ xong, chủ tịch xã kêu 4, 5 cán bộ thuộc nhiều ban ngành tới lập biên bản. Đức Cha yêu cầu thay chữ biên bản bằng "Bản ghi nhận sự việc", và Đức Cha đã ký "rất nhẹ nhàng".
2 giờ chiều, phái đoàn tới Sơn Lang, huyện K’Bang, cách An Trung khoảng 135 cây số. Tới đó, gặp đường đang sửa và mưa dầm dề, phái đoàn phải bỏ ôtô và chia nhau ngồi 8 xe hai bánh. Giám mục cũng ngồi xe ôm. Tới gần thị trấn Sơn Lang thì bị chặn và hỏi giấy tờ. Khi biết phái đoàn đến dâng lễ tại nhà ông bà Tuyền thì cán bộ yêu cầu phái đoàn chờ ở đấy để họ xin ý kiến của chính quyền xã. Chờ hơn 2 tiếng đồng hồ dưới trời mưa và lạnh, cán bộ cho biết không thể liên lạc được với chủ tịch xã, phái đoàn buộc lòng phải quay về và tới Pleiku lúc hơn 10 giờ đêm. Dù việc dâng thánh lễ tại nhà ông bà Tuyền không thành, nhưng ông Tuyền vẫn bị gọi lên trụ sở công an ngày hôm sau và bị giữ cả ngày ở đó để "làm việc".
Trong thư dẫn ở trên, Đức Cha cho biết những giáo dân bị đe dọa, bị vặn hỏi đã trả lời thẳng thắn là không có gì sai trái trong việc mời giám mục hay linh mục đến dâng lễ cho bà con vì 3 lý do:
1/ Hiến Pháp và Pháp Luật đã xác nhận quyền tự do tôn giáo và quyền của giám mục trong mỗi giáo phận,
2/ Giám mục đã gửi văn thư báo chính quyền các cấp; các cấp không có văn bản từ chối,
3/ Không có nền văn hóa nào lại đi cấm con cái không được mở cửa đón cha của mình (Đức Giám Mục Giáo Phận) và anh chị em mình (giáo dân) về thăm nhà, vào nhà mình.
Cuối cùng, người thì chỉ viết bản tường trình, người thì ký biên bản nhưng có ghi thêm "Tôi không đồng ý nội dung biên bản này".
Qua những việc xảy ra như trên, người ta lại nhận thấy thêm một lần nữa là nhà nước cộng sản Việt Nam ban hành Hiến Pháp và Luật Pháp để chơi cho vui, để lòe thiên hạ, còn việc áp dụng thì rất tùy tiện, thích điều nào thì áp dụng điều đó, không thích điều nào thì bỏ luôn, rất nhiều trường hợp làm ngược Hiến Pháp và Luật Pháp một cách vô tội vạ. Một nhận xét khác là nạn sứ quân lộng hành. Mỗi địa phương là một tiểu quốc gia, không cần tuân thủ luật chung, không thèm chấp hành lệnh của trung ương, vì thế mới có hiện tượng trống đánh xuôi kèn thổi ngược và "trên bảo dưới không nghe".
Về phần Đức Cha Oanh và giáo dân Kontum, cha nào con nấy, đều kiên cường bảo vệ lẽ phải và quyền lợi đương nhiên của mình, dù bằng sự nhẹ nhàng tử tế.
Riêng Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, ngài là vị giám mục duy nhất dưới vỹ tuyến 17 luôn luôn lên tiếng hiệp thông với các chủ chăn và con chiên ở những nơi bị đàn áp, đánh đập, bắt bớ, cướp đất. Trong thời gian gần đây, hai lần ngài xuống núi để truyền chức linh mục và phó tế cho các thầy Dòng Chúa Cứu Thế tại Sài Gòn. Giáo quyền Sài Gòn ngần ngại không truyền chức vì có vài thầy bị nhà cầm quyền không cho phép với lý do không hợp lệ về hộ khẩu. Đức Cha Oanh không quan tâm chuyện đó vì ngài có lý của ngài: "Việc truyền chức thánh là việc tôn giáo, là quyền của giáo hội, không liên quan gì đến chính quyền".
Đó là những chuyện về lý, còn về tình thì Đức Cha Oanh đã làm những việc cụ thể cho dân nghèo và tỏ tình thương đối với họ, không cần phải hô khẩu hiệu "đồng hành với dân tộc và với người nghèo". Cách đây mấy năm, người viết bài này đã được xem một video về lễ Giáng Sinh tại nhà thờ Chính tòa Kontum (hình như vào năm 2005) và thực tình súc động. Hàng mấy chục ngàn giáo dân Thượng kéo về nhà thờ chánh tòa Kontum cả tuần trước ngày lễ Giáng Sinh. Họ phải đi sớm vì đường xa, phải đi bộ vượt suối băng rừng, nhất là để khỏi bị công an ngăn chặn. Họ có kinh nghiệm là việc ngăn chặn thường gia tăng vào những ngày áp lễ. Những giáo dân này không có tiền, không có thực phẩm mang theo. Họ ăn ở vật vạ bất cứ chỗ nào có thể, dưới mái nhà thờ, trên hè nhà chung, nhà dòng và trên sân trống, trên bãi cỏ. Chúng ta hãy tưởng tượng việc giữ trật tự, vệ sinh và nhất là ăn uống cho cả chục ngàn người trong nhiều ngày tạo ra những vấn đề khó khăn như thế nào. Vậy mà với tình thương và tài huy động của Đức Cha, mọi người đã được nuôi ăn và sinh hoạt rất trật tự. Số gạo dự trữ của tòa giám mục và các dòng tu được trưng dụng hết, thức ăn và nhu yếu phẩm được mua vét trên khắp các chợ và cửa hàng của thị xã Kontum. Các nữ tu, các thiện nguyện viên già trẻ suốt ngày lăn xả vào "vòng khói lửa" để nấu ăn, không phải chỉ phục vụ những bữa chính, nhưng còn phải cung cấp thức ăn cho những người bụng đói từ xa tới vào bất cứ giờ nào, ngày hay đêm. Buổi sáng sau ngày lễ, còn phải cung cấp cho mỗi người một gói cơm và thức ăn để họ có thực phẩm ăn trên đường về nhà. Nhìn hình ảnh các nữ tu và các thiện nguyện viên tất bật phục vụ từ trong bếp đến bên ngoài, vẻ mặt vẫn tươi cười, tôi thấy qủa thật một việc làm dù nhỏ bé có giá trị hơn trăm ngàn lần lời nói xuông. Phần thưởng cho họ là được chứng kiến hàng hàng lớp lớp anh em đồng đạo hớn hở, vui tươi trong "Đêm Thánh Vô cùng", là thấy những gương mặt hiền lành, chất phác nhưng hằn lên một đức tin kiên vững dưới ánh lửa bập bùng.
Tôi còn biết tòa Giám Mục và các nữ tu địa phận Kontum đã mở mang và đang điều hành nhiều cơ sở từ thiện và giáo dục, như viện mồ côi, trường dậy chữ và dậy nghề cho các em khiếm thị và những em bị khuyết tật để các em có thể tự nuôi sống mình khi lớn lên, trường dậy nghề chuyên môn (computer và các nghề khác) cho các thiếu niên lành lặn, con nhà nghèo để các em có cơ hội thăng tiến trong tương lai.
Đa số dân Thượng còn chậm tiến vì không được hưởng sự giúp đỡ, đặc biệt về giáo dục. Họ lại bị người kinh chiếm hết những khu đất canh tác tốt và những khu rừng nhiều tài nguyên. Vì vậy họ cứ phải lùi dần vào những vùng sâu và xa để sinh sống. Hậu qủa là càng chậm tiến và càng nghèo hơn. Nhiều người đẻ con ra là bồng đến cho các sơ nuôi. Có người vứt trẻ sơ sinh ở ven rừng. Các sơ có thêm công việc vào rừng kiếm những trẻ bị vứt bỏ đem về nuôi. Những trẻ em bệnh hoạn không có nhà thương nào cứu chữa, được cha mẹ đưa đến bệnh xá của các sơ. Ở đây, các sơ chỉ chữa được các bệnh thông thường. Gặp bệnh khó là phải chở đi Qui Nhơn, Nha Trang hay Sài Gòn chữa trị. Muốn được chữa phải xin xỏ trước và phải nộp tiền, kể cả tiền hợp lệ và bất hợp lệ, chưa kể phải có người đi theo và phương tiện chuyên chở. Hội Medical Aid từ Mỹ và Canada có đến Kontum năm ngoái để chữa cho một số khá đông bệnh nhân tại đây.
Sở dĩ tôi biết một số chuyện về giáo phận nghèo Kontum vì một cháu gái gọi nhà tôi là cô họ đang phục vụ tại địa phận. Vợ chồng cháu là những kỹ sư làm cho hãng Boeing tại Mỹ. Sau mấy năm về làm từ thiện trong những tháng hè tại vùng cao nguyên Trung phần, các cháu mủi lòng trước cảnh khổ của đồng bào thiểu số, nhất là các trẻ em, các cháu quyết định về Mỹ bán hết nhà cửa, bỏ công việc, trở về Việt Nam phục vụ toàn thời gian. Hai cháu đã lên Kontum giúp Đức Cha Oanh nhiều năm. Hiện nay chỉ còn cháu Thúy Anh vẫn làm việc với Đức Cha. Chồng cháu phải xuống Sài Gòn dậy chương trình Master cho một chi nhánh của một đại học Mỹ để kiếm tiền nuôi vợ và làm từ thiện. Các cháu đã sang Calgary mấy lần để nhờ chúng tôi giới thiệu với một số vị hảo tâm. Lần đầu, tại tư gia chúng tôi, sau khi nghe các cháu trình bầy một số dự án, những vị có mặt tại chỗ đã ủng hộ trên 10,000 Đô la ngay tối hôm đó. Hiện nay, nhiều vị từ tâm tại Calgary vẫn thỉnh thoảng nhờ chúng tôi gửi tiền cho các cháu. Ngoài việc dậy học, cháu Thúy Anh chuyên lãnh việc xin nhập bệnh viện cho các em bị bệnh nặng và đưa các em đi chữa, coi sóc và nuôi bệnh cho tới khi xuất viện rồi lại chở các em về. Một phần lớn phí tốn do vợ chồng cháu gánh chịu. Có một điều lợi, cháu là người Mỹ gốc Việt nên dễ giao thiệp với các đoàn y tế thiện nguyện ngoại quốc và cũng được các bác sĩ và y tá tại Việt Nam nể nang phần nào. Cháu kể có những lần họ không biết cháu là một kỹ sư Mỹ gốc Việt, họ tưởng cháu là loại nhà nghèo đi xin chữa chùa, họ chửi bới và xua đuổi như xua ăn mày. Đến khi thấy cháu nói chuyện tiếng Anh với phái đoàn ngoại quốc, họ đổi thái độ liền và những em bệnh do cháu đưa đến cũng được hưởng sự đãi ngộ khác hẳn.
Tôi viết chuyện này không phải để khoe một phần tử trong gia đình, nhưng để nhân đó thưa với qúy vị một điều. Nhiều vị vẫn ủng hộ tiền làm từ thiện ở Việt Nam một cách rộng rãi. Có vị cho hàng ngàn, hàng vạn. Nhưng các vị có biết tiền của các vị được phân phối và xử dụng ra sao không? Bao nhiêu phần trăm dành cho chi phí hành chánh (administration fees)? Bao nhiêu phần trăm phải nộp (hay qùa cáp) cho nhà cầm quyền để được phép đến các địa phương làm từ thiện? Phần còn lại thì hay xảy ra hiện tượng "nước chảy chỗ trũng", tức là tiền đổ vào những nơi đã có nhiều tiền. Tiền của các vị được dùng để làm từ thiện thì ít, nhưng được dùng để xây những cơ sở cho thật vĩ đại, "hoành tráng" thì nhiều. Có ích lợi gì cho dân nghèo và cho việc loan báo Tin Mừng? Trong khi đó tại những vùng rừng núi xa xôi, giáo dân nghèo, giáo phận cũng nghèo, không được mấy ai lưu tâm tới. Tôi cũng đã được xem một video lễ kỷ niệm 50 năm một giáo xứ miền núi. Nhà thờ xây cất cách đây nửa thế kỷ vẫn nguyên như cũ, chỉ có gian thánh được xây tường gạch, phần còn lại là tre nứa, mái lợp lá, chung quanh được quây bằng những tấm cót và những tấm mành. Gió, mưa và khí lạnh cứ tự do xâm nhập. Nhìn ngôi thánh đường này, tôi nghĩ đến một số thánh đường vùng Sài Gòn và những nơi khác với mái lợp ngói tây, sàn bằng granite, bàn thờ bằng cẩm thạch, mà thầm ước phải chi qũy xây những thánh đường lộng lẫy này được san sẻ một phần rất nhỏ cho những nhà thờ tre nứa ở vùng quê và vùng rừng núi thì những anh chị em đồng đạo nghèo sẽ được sung sướng biết bao nhiêu! Chúng ta hiểu lời dậy "phải chia sẻ với anh em" như thế nào? Chẳng lẽ chỉ thích chia sẻ và chơi với nhà giầu và những người có quyền thế?
Tôi không dám mong vị giám mục VN nào cũng giống như Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh. Mong vậy là chạm tự ái của qúy vị và làm cho Đức Cha Oanh buồn phiền vì phạm tới đức khiêm nhường của ngài. Nhưng thực tình tôi mến phục vị mục tử nghèo, chăn và nuôi một đoàn chiên nghèo, theo cả nghiã bóng lẫn nghiã đen, trong khi vẫn hiên ngang bầy tỏ lòng yêu công lý và sự thật, không chịu qụy lụy để tìm cách giảm bớt cái nghèo của cha con mình. Mục tử này, đoàn chiên này cần được hỗ trợ ưu tiên. Nhất là trong mùa Giáng Sinh đang đến.
Địa chỉ Tòa Giám Mục Kontum:
56 Trần Hưng Đạo
Kontum
Việt Nam
CON ĐƯỜNG GIAN TRUÂN LOẠI BỎ ĐỘC TÀI
Tập đoàn quân phiệt Miến Điện đã cướp quyền và cai trị đất nước này bằng bàn tay sắt gần nửa thế kỷ nay. Trong thời gian đó, bà Aung San Suu Kyi, lãnh tụ đối lập, giải Nobel Hòa Bình, đã bị tù và quản thúc tại gia 15 năm. Vào tù lúc còn trẻ khỏe. Nay bà đã 65 tuổi, vừa được trả tự do sau cuộc bầu cử quốc hội, nhưng không có dấu hiệu bà sẽ thúc thủ, đầu hàng. Việc đầu tiên là bà đã nộp đơn ngày 16-11-2010 lên Tối Cao Pháp Viện Miến Điện xin xét lại việc nhà cầm quyền quân phiệt giải tán đảng National League for Democracy (NLD) của bà và yêu cầu cho đảng này được tái hoạt động trở lại.
Hơn ai hết, Bà San Suu Kyi hiểu rằng không thể đổi ngược kết qủa cuộc bầu cử quốc hội ngày 7-11-2010, trong đó đảng đối lập chính của bà bị loại khỏi cuộc chơi. Bà đổi chiến thuật chuyển từ thế chống đối quyết liệt sang cử chỉ dương cành ô liu hoà bình cho tập đoàn quân phiệt. Bà tuyên bố muốn gặp tướng Than Shwe, lãnh đạo tối cao của Hội Đồng Quân Nhân để thảo luận việc đất nước, đồng thời đưa đề nghị nhà cầm quyền chấp thuận tự do ngôn luận và tự do hành động cho các đảng phái chính trị. Đổi lại, bà sẽ dùng uy tín và ảnh hưởng của cá nhân mình để yêu cầu các quốc gia Âu Mỹ hủy bỏ những biện pháp trừng phạt Miến Điện. Chúng ta biết, sau cuộc đàn áp dã man các sư sãi và dân chúng biểu tình đòi tự do dân chủ cách đây mấy năm, Miến Điện bị nhiều quốc gia Âu Mỹ trừng phạt bằng cách đóng băng các tài khoản của Miến Điện tại các ngân hàng của nước họ, hủy bỏ và chấm dứt các dự án viện trợ và đầu tư. Tập đoàn quân phiệt tuy cứng đầu nhưng nay đã thấy thấm, vì kinh tế lụn bại, dân chúng cơ cực, vật giá leo thang, một chiếc Toyota cũ 10 năm trị giá 30,000 Đô la. Chỉ còn đàn anh Trung Quốc bênh đỡ đám độc tài này nhắm mục đích khai thác tài nguyên của Miến Điện. Các quốc gia lân bang trong Khối ASEAN cũng không cộng tác mà còn sửa lưng về vấn đề dân chủ và nhân quyền. Lãnh tụ đối lập San Suu Kyi đã nhìn thấy chỗ yếu của đối phương nên đã đưa đề nghị trao đổi như trên. Bà thấy chưa thể có một chiến thắng toàn diện và tức thì, nên phải chọn con đường dài hơn, vất vả hơn và có hy vọng thành công hơn.
Chúng ta thấy con đường đấu tranh loại bỏ độc tài của Miến Điện cũng tương tự con đường mà dân tộc VN phải theo. Tập đoàn quân phiệt Miến Điện cũng giống như tập đoàn cộng sản VN. Cũng độc tài, độc đảng, ăn gian nói dối, tham nhũng, bóc lột và cư xử độc ác với dân. Tất cả mọi hành động đều nhắm bảo vệ ghế ngồi và túi tiền của thiểu số cầm quyền. Dân vùng lên thì đàn áp dã man. Quốc tế làm áp lực cũng coi như không có. Tuy nhiên, việc tranh đấu của dân trong nước và áp lực quốc tế từ bên ngoài không vô ích, dù không đem lại kết qủa tức thì, nhưng sẽ có ích lợi đường dài. Chúng làm cho các chế độ độc tài mất hậu thuẫn, mất uy tín, mất tính khả tín và mất tự tin ở chính mình. Vì vậy họ phải nhượng bộ từng bước. Độc tài chỉ có thể giữ quyền hành bằng bàn tay sắt. Khi phải nhượng bộ là tự làm suy yếu mình. Đến lúc những khó khăn nội bộ phát sinh, cộng thêm tình hình quốc tế bất lợi thì những chế độ độc tài một là sụp đổ như ở Đông Âu, hai là phải tìm cách tự cải thiện để không chết ngay, ráng mua thời giờ để rút lui êm thắm, khi mất ghế vẫn còn giữ được cái đầu và túi tiền.
Hai nhượng bộ rõ nhất của tập đoàn quân phiệt Miến Điện là việc tổ chức bầu cử quốc hội và trả tự do cho lãnh tụ đối lập San Suu Kyi. Dĩ nhiên, cuộc bầu cử này cũng không khác kiểu "đảng cử dân bầu" của cộng sản VN, cũng là một trò hề cấm các đảng đối lập tham dự, dành 170 ghế cho các đại biểu quân đội, nhưng cũng phải coi đó là một nỗ lực để tìm chút chính danh và rửa mặt với đời. Trò hề này còn kém tính tiếu lâm hơn việc Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng khuyên Miến Điện phải tổ chức bầu cử công bằng, cho tất cả các đảng phái tham dự, và Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết yêu cầu chính phủ Miến Điện trả tự do cho bà San Suu Kyi. Hai lãnh tụ cộng sản VN thuộc loại cù không cười, đúng như ca dao bình dân diễn tả: "Chân mình thì lấm bết bê. Lại cầm bó đuốc mà rê chân người". Việc phải thả kẻ thù nguy hiểm số một San Suu Kyi ngày 13-11-2010 cũng chứng tỏ quân phiệt Miến đã nhượng bộ nhằm xoa dịu dư luận quốc tế và trấn an sự phẫn nộ của nhân dân trong nước. Uy tín của lãnh tụ đối lập này còn rất lớn trong quần chúng. Nay cọp đã về rừng, chắc chắn cọp sẽ không chịu nằm yên.
Tình hình đấu tranh cho tự do dân chủ tại Miến Điện và VN có những điểm tương tự nhưng cũng có những điểm khác nhau. Tương tự ở chiến lược đấu tranh trường kỳ, trên mọi mặt, để làm cho chế độ độc tài phải suy yếu và nhượng bộ dần, rồi từ từ biến đi bằng cách này hay cách khác. Khác nhau vì hoàn cảnh xã hội và lịch sử. Trước hết cuộc đấu tranh của dân Miến Điện có ưu điểm là có một lãnh tụ được đa số nhân dân công nhận và tin tưởng. Bà San Suu Kyi đã tạo được uy thế này vì bà là lãnh tụ một đảng đối lập được nhiều phiếu nhất trong một cuộc bầu cử bị tập đoàn quân phiệt hủy bỏ. Bà cũng chứng tỏ đức tính và tài năng trong những năm dài tranh đấu và tù tội. Ưu điểm thứ hai là dân Miến Điện đoàn kết và dám tranh đấu công khai. Các cuộc xuống đường đẫm máu đã diễn ra nhiều lần qui tụ đủ thành phần dân chúng, đặc biệt với hàng ngũ sư sãi dẫn đầu. Ưu điểm thứ ba là quốc tế can thiệp trực tiếp vào tình trạng vi phạm nhân quyền tại Miến Điện. Ngay sau các cuộc biểu tình, sứ giả của Liên Hiệp Quốc được cử đến nói chuyện với nhà cầm quyền quân phiệt, đòi thả những người bị bắt và thảo luận một tiến trình dân chủ hóa. Một số nước Âu Mỹ đã áp dụng những biện pháp trừng phạt. Những ưu điểm này, Việt Nam hoàn toàn thiếu vắng.
Về phiá VN, tuy chúng ta không có những ưu điểm như Miến Điện, nhưng chúng ta có một khối người Việt sinh sống ở hải ngoại rất lớn với nhiều khả năng trí thức và tài chánh. Khối người Việt này, dù không phải tất cả mọi người, đã tranh đấu và vận động khá hiệu qủa cho việc cộng sản phải nới lỏng bàn tay sắt đối với dân VN, đã yểm trợ những phần tử tranh đấu trong nước, khiến phong trào đấu tranh không bị dập tắt vì đàn áp, ngược lại càng ngày càng lớn mạnh. Hoàn cảnh lịch sử cũng tạo cơ hội cho người Việt có lý do vững mạnh hơn để huy động toàn dân dẹp chế độ cộng sản. Đó là việc đảng cộng sản VN qúa lệ thuộc Trung quốc, dâng đất dâng biển cho ngoại bang, có thái độ khiếp nhược và đầu hàng trước những đòn tấn công và xâm lấn của ngoại bang. Tội bán nước là tội lớn nhất. Không một người Việt Nam nào có thể tha thứ. Hơn nữa, trong bàn cờ chính trị Đông Nam Á hiện nay, Hoa Kỳ đã trở lại vùng này để xác nhận sự hiện diện và bảo vệ quyền lợi của mình, kéo theo Khối ASEAN và các quốc gia khác trong vùng, như Ấn Độ, Úc, Tân Tây Lan. Dĩ nhiên Việt Nam cũng bị lôi kéo theo. Nếu những người cộng sản VN thật tình yêu nước và muốn bảo vệ tổ quốc trước họa xâm lăng của Trung Quốc, họ phải nắm lấy cơ hội, dựa vào khối đối trọng với Trung Quốc để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải. Nếu chưa thể đòi được những gì đã mất thì ít ra cũng không bị mất thêm. Muốn chơi với các nước tự do dân chủ và muốn được các nước này hỗ trợ thì phải tự do dân chủ hóa chế độ. Tự cải tổ, tự biến mình là giải pháp hay nhất. Làm thế còn có thể huy động được sức mạnh của toàn dân để bảo vệ đất nước. Nếu không dám dứt khoát với Trung Quốc, không dám dứt khoát với chế độ độc tài, chỉ tính đi dây để thủ lợi thì sẽ mất hết và sẽ bị nhân dân hỏi tội. Tội đầu tiên là phản quốc.
Nội tình VN đang sôi sục. Sự tranh chấp đang diễn ra quyết liệt trong nội bộ đảng cộng sản trước đại hội đảng XI diễn ra vào năm tới. Giới trí thức và sinh viên đã thức tỉnh. Nhiều tiếng nói phê phán thẳng thắn đã cất cao, đẩy lùi sự sợ hãi. Việc gia tăng đàn áp, bắt bớ cộng với bất công xã hội cố hữu càng tạo thêm nỗi căm phẫn trong quần chúng. Không ai biết thùng thuốc súng sẽ nổ lúc nào. Vấn đề là chúng ta đã sẵn sàng đối phó với tình thế mới chưa?