Viết Từ Canada
Mặc Giao
SỨ ĐIỆP HAY THÔNG CÁO BÁO CHÍ?
Đại Hội Dân Chúa VN, phần nội dung của Năm Thánh 2010, đã được tổ chức tại Trung
Tâm Mục Vụ Tổng Giáo Phận Sài Gòn từ ngày 21 đến 25-11-2010 với sự tham dự của
32 giám mục, 300 đại biểu linh mục, tu sĩ, giáo dân thuộc 26 giáo phận và dòng
tu trên cả nước. Đại Hội kết thúc bằng việc công bố Sứ Điệp Của Đại Hội Dân Chúa
Việt Nam 2010. Ai cũng hiểu sứ điệp là một lời tuyên bố chính thức muốn chuyển
tải đến nhiều ngưới để nói lên lập trường, hướng đi (hay nói theo chữ Nho là
định hướng) và những lời kêu gọi, nhắn nhủ. Khi dùng từ Sứ Điệp, những người tổ
chức Đại Hội hẳn có ý định truyền đạt ý nghĩ, tâm tình, lập trường và đường lối
của cả Giáo Hội Việt Nam theo nghiã long trọng nhất. Vì vậy, rất nhiều người, kể
cả những người không Công Giáo, chờ đợi đọc Sứ Điệp sẽ được công bố vào ngày kết
thúc Đại Hội. Người viết bài này cũng nóng lòng chờ vì nghĩ rằng, qua Sứ Điệp,
mình sẽ biết được lập trường và đường đi nước bước của Giáo Hội Việt Nam trong
hoàn cảnh rất đặc biệt hiện nay. Phải nói ngay, tôi đã thất vọng sau khi đọc Sứ
Điệp này. Dĩ nhiên tôi không chờ đợi một sứ điệp có thể làm hài lòng mọi người.
Nhưng tôi đã không tìm thấy những điều tôi muốn biết. Sứ Điệp của Đai Hội Dân
Chúa không phải là một sứ điệp, mà chỉ là một thông cáo báo chí (press release,
communiqué de presse).
Sở dĩ tôi dám nói thế vì Sứ Điệp của
Đại Hội Dân Chúa VN 2010 như đã trình làng thuộc loại có thể viết bất cứ lúc nào,
không cần chờ Đại Hội họp xong. Trong các hội nghị quốc tế, người ta lập ủy ban
viết thông cáo chung hay thông cáo báo chí ngay khi hội nghị bắt đầu. Có khi còn
viết trước ngày họp. Người ta có thể viết sẵn vì đã biết hội nghị họp ở đâu,
ngày giờ nào, thành phần tham dự, đề tài bàn luận. Họ chỉ để trống phần công bố
kết qủa. Nếu hội nghị thành công, tức là đạt những thỏa thuận quan trọng, họ
viết thêm đoạn loan báo và ca tụng kết qủa. Nếu thất bại hay chỉ đạt những thỏa
hiệp không đáng kể, họ dùng ngôn ngữ ngoại giao để nói rằng mọi bên đã thẳng
thắn trao đổi quan điểm trong tinh thần thông cảm, hiểu biết, và các vấn đề còn
lại sẽ được cứu xét và thảo luận thêm. Không bao giờ họ nhận hội nghị thất bại
và cãi nhau như mổ bò.
Sứ Điệp Đại Hội Dân Chúa cũng đi theo
cung cách này
Những điểm 1 và 2 nói về ngày giờ,
địa điểm, thành phần tham dự và lễ khai mạc Đại Hội.
Những điểm 5, 6, 7 xác định lại lập
trường của Giáo Hội VN, những điều có tính cách lý thuyết chung, đã được nói và
nghe nhiều lần.
Điểm 8, điểm cuối cùng, có nội dung
chính: “Tất cả những ý kiến của Đại Hội sẽ được đúc kết thành những đề nghị, là
chất lượng chính của văn kiện hậu Đại Hội, nhằm đưa ra những định hướng và kế
hoạch mục vụ của Hội Thánh Việt Nam trong những năm sắp tới”.
Như vậy Đại Hội đã không quyết định
được hướng đi của Giáo Hội VN trong thời gian tới, không đưa ra được những đề
nghị cụ thể để thi hành. Các đại biểu được nghe nhiều hơn nói. Và những gì họ
nói có thể sẽ được đúc kết thành đề nghị và định hướng sau. Ai sẽ đúc kết? Đúc
kết có trung thực không? Ai sẽ có quyền quyết định đó là những quyết định của
Đại Hội? Đọc Sứ Điệp này, chẳng ai tìm được một “Sứ” nào trong thông “Điệp”cả.
Đại Hội đã thành công hay thất bại?
Tôi không dám trả lời câu hỏi này.
Tôi chỉ xin có một vài ý kiến riêng về Sứ Điệp và Đại Hội Dân Chúa.
Điểm 3 của Sứ Điệp viết: “Sứ mạng đó (loan báo Tin Mừng) đòi hỏi Hội Thánh phải
đổi mới không ngừng để thực sự là Hội Thánh Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt
Nam”. Điều này được nói đi nói lại nhiều lần mà không thấy thi hành. Nó cũng
không có gì mới mẻ. Luật sinh tồn đòi hỏi mọi loài phải thay đổi để thích ứng
với hoàn cảnh nếu không muốn bị đào thải. Ngoài ra, các văn kiện của Công Đồng
Vatican II và những tông huấn của các Đức Giáo Hoàng cũng đã đề cập đến việc
Giáo Hội đổi mới và hội nhập từ thập niên 60 của thế kỷ trước, thí dụ:
“Giáo Hội không tách riêng ra khỏi
thế giới, Giáo Hội sống trong thế giới. Những phần tử Giáo Hội chịu ảnh hưởng
thế giới; họ hô hấp nền văn hóa thế giới… Việc tiếp xúc thân tình này với xã hội
trần thế tạo ra cho Giáo Hội một hoàn cảnh luôn luôn đầy dẫy vấn đề, ngày nay
các vấn đề đó càng gay gắt đặc biệt” (Ecclesiam suam, Paul VI, 1964).
Nguyên tắc thì như thế. Nhưng việc áp
dụng vào thực tế ra sao? Đổi mới không có nghiã là đi xe đạp đổi thành đi xe hơi,
nhà thờ mái lợp tôn đổi thành nhà thờ lợp ngói tây. Hội nhập văn hóa không phải
chỉ là đổi từ che dù sang che lọng, đổi từ quần dài áo sơ-mi sang áo gấm hoặc
binh phục lính thú thời xưa khi khiêng kiệu hay vác cờ ngũ sắc. Vấn đề là phải
có chiều sâu và đi vào thực tế. Đổi mới là biết đáp ứng những vấn đề của thời
đại và tiếp tay giải quyết những về đó. Hội nhập văn hóa là sống hòa hợp với nếp
sống bản địa và rao giảng Tin Mừng bằng lời lẽ, tâm tư, lý luận, tình cảm thích
hợp với người bản địa để họ dễ chấp nhận vì cảm thấy gần gũi, không xa lạ. Đó
chỉ là một vài nguyên tắc căn bản. Muốn thực hành, cần phải đào sâu và đề ra
những việc làm thực tế. Nói hoài về lý thuyết chung chẳng ích lợi gì.
Diểm 6 của Sứ Điệp có nêu một số vấn
đề cụ thể: “Trong hai thập niên vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, có
nhiều điều đáng lo ngại cho tiền đồ của dân tộc. Nạn phá thai, ly dị, ma túy,
mãi dâm, sự gia tăng cách biệt giầu nghèo, tình trạng bất công, bóc lột, tham
nhũng, tàn phá môi sinh…tất cả đang có chiều hướng gia tăng và là những dấu hiệu
cụ thể của “nền văn hóa sự chết”… Hơn ai hết, người công giáo VN có sứ mạng kiến
tạo nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên đất nước này, đồng thời sẵn
sàng đối thoại chân thành và cộng tác lành mạnh với mọi người thiện chí, không
phân biệt tôn giáo hay chính kiến, nhằm phục vụ sự phát triển toàn diện của mọi
người trong xã hội, nhất là những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Trong tinh thần
đó, chúng tôi đề nghị chính quyền VN mở rộng cánh cửa cho các tôn giáo tham gia
vào việc giáo dục học đường và y tế công cộng, vì lợi ích của người dân và của
cả dân tộc”.
Nêu vấn đề rất đúng, dù chưa nói rõ
những vấn đề này do đâu nẩy sinh, nhưng giải pháp đề ra thì bất cập và thiếu
thực tế. Chung qui lại lẩn quẩn trong cơ chế xin-cho, xin chính quyền cho phép
làm giáo dục và y tế. Qúy vị lãnh đạo Giáo Hội phải biết từ lâu rằng chế độ cộng
sản là một chế độ độc tài toàn trị, muốn độc quyền kiểm soát hết mọi sinh hoạt
xã hội và cả con người sống trong xã hội đó. Kiểm soát để dập tắt từ trứng nước
mọi chống đối. Độc quyền giáo dục để uốn nắn đầu óc con người theo ý họ ngay từ
tuổi còn thơ. Thời buổi này còn phải giữ độc quyền để kiếm ăn. Cho các tôn giáo
làm giáo dục và y tế thì mỗi năm sẽ có bao nhiêu ngàn tỷ đồng vuột khỏi tay của
anh em đảng “ta”? Sở dĩ họ phải nới lỏng một số lãnh vực, trong đó có tôn giáo,
chỉ vì phải chịu áp lực khi mở cửa làm ăn với thế giới bên ngoài. Vì vậy, muốn
giải quyết vấn đề thì phải giải quyết từ căn bản. Đó là đòi quyền tự do cho các
giáo hội, quyền tự do của người dân, đòi thực thi những quyền công dân được ấn
định ngay trong hiến pháp và luật pháp của chế độ. Đòi bằng được chứ không xin
từng việc. Khi quyền của dân được tôn trọng là dân có thể làm mọi điều theo ý
định và lý tưởng của mình trong vòng hợp pháp. Nhà nước không cho, ta vẫn tiếp
tục đòi, và nhất là vẫn tiếp tục làm những việc ta cho là đúng và cần. Chỉ được
giáo dục tới trình độ mẫu giáo? Ta tiếp tục dậy dỗ con em trong các lớp giáo lý,
trong các sinh hoạt hội đoàn của giáo xứ. Bị cấm mở nhà thương, viện cô nhi,
viện dưỡng lão? Ai cấm được ta hàng tuần đến thăm các trẻ mồ côi, tắm rửa, vỗ về,
tặng quần áo, bánh kẹo cho các em? Ai cấm được ta thăm người già yếu, bệnh tật,
cô đơn, đem cho họ niềm an ủi vật chất và tinh thần? Muốn giúp đỡ người nghèo?
Ai cấm được ta trợ cấp cho con em họ được đi học để sau này khỏi đi bụi đời… Có
hàng ngàn công tác từ thiện, bác ái ta có thể làm được mà không cần sự cho phép
của nhà cầm quyền. Đồng hành với dân tộc và với người nghèo là đồng hành như thế,
không phải bằng khẩu hiệu. Có người sẽ hỏi: lấy tiền đâu mà làm những việc này?
Xin hỏi lại: Cơ quan Caritas và các giáo phận khi muốn làm giáo dục và từ thiện
thì kiếm tiền đâu ra? Phải chăng từ sự đóng góp của giáo dân, của các cơ quan
quốc tế và của đồng bào hải ngoại? Nếu làm việc bác ái thật, đừng phí phạm vào
việc xây cất những cơ sở “hoành tráng” để lấy tiếng thì thiếu gì người giúp.
Nghèo như địa phận Kontum của Đức Cha Hoàng Đức Oanh cũng làm được vô số công
tác giáo dục và từ thiện mà nhiều địa phận giầu không làm được.
Điểm 7 của Sứ Điệp có một câu sám hối
gây thắc mắc: “Chúng tôi nhìn nhận mình còn nhiều lỗi lầm thiếu sót, vì thế
khiêm tốn xin Chúa và anh chị em trong cũng như ngoài Hội Thánh tha thứ cho”. Sứ
Điệp này là của toàn thể Đại Hội tức là đại diện cho toàn thể Giáo Hội VN, trong
đó có “anh chị em trong Hội Thánh”. Xin lỗi anh chị em ngoài Hội Thánh thì có lý.
Xin lỗi anh chị em trong Hội Thánh hóa ra anh chị em tự xin lỗi chính mình?
“Chúng tôi” là ai, có giáo dân trong đó không? Chẳng lẽ Đại Hội này là của các
giáo sĩ, đặc biệt của các các giám mục, giáo dân là thứ yếu, chỉ đến vỗ tay hoan
hô? Nói năng kiểu “dấu đầu hở đuôi” như thế này phiền qúa, làm người ta liên
tưởng tới đại biểu giáo dân tham dự toàn là những con chiên ngoan, những công
dân gương mẫu, được các chủ chăn và chính quyền dặn dò, động viên, xoa đầu trước
khi đi dự Đại Hội, khiến họ cảm động phát khóc. Đã có người khóc thút thít ngay
giữa hội trường. Giáo dân lại là thiểu số trong Đại Hội, ít được nói. Chẳng có
bài tham luận nào của giáo dân. Người được phát biểu lâu nhất là một bác sĩ nói
về việc chữa bệnh trong thời buổi mới với những vấn đề luân lý đặt ra, chẳng ăn
nhậu gì tới Đại Hội Dân Chúa.
Sứ Điệp của Đại Hội Dân Chúa VN 2010
như thế đó. Người đọc có nắm được ý chính nào của Sứ Điệp không? Hay chỉ thấy
cung cách dàn cảnh đẹp để biểu diễn, nói năng khéo để không đụng chạm tới ai,
bao vây kín để không ai phát biểu ra ngoài “lề phải”. Đúng như anh Vũ Sinh Hiên,
một đại biểu tham dự Đại Hội, viết: “Tôi có cảm tưởng như là Đại Hội Dân Chúa
lần I này, sau 350 năm thành lập Giáo Phận Tiên Khởi, đang được diễn ra trên một
đất nước thanh bình, vô cùng thanh bình, không có vấn đề gì cả. Ấy vậy mà đồng
bào mình đang có những đòi hỏi sôi sục phải đổi thay những gì cũ kỹ, lỗi thời,
phi lý, đòi hỏi toàn dân phải tỉnh táo và kiên cường đối phó với nạn ngoại xâm
hiểm độc, cụ thể hơn cả là miền Trung đang phải đối phó với thiên tai lụt lội,
lũ chồng lũ. (Đại Hội) Dân Chúa không hề đả động đến những vấn đề trên đây”.
Ngược lại, cũng theo Vũ Sinh Hiên: “99% các tham luận và phát biểu trong Đại Hội
đều là chuyện của Hội Thánh cả. Có những giáo dân lần đầu tiên trong đời thấy
Đức Giám Mục vỗ tay, hát xướng từ Quan Họ đến Trịnh Công Sơn, cầm trịch cho cả
hội trường hát theo”. Trước cảnh tượng này, anh Hiên cũng phải vuốt bụng gượng
vui: “Thôi thì, hãy hài lòng với một sự khởi đầu tròn trịa làm vui lòng mọi
người” (Nữ Vương Công Lý 5-12-2010).
Trong số những bài tham luận của các
giám mục, bài của Đức Cha Ban Mê Thuột Nguyễn Văn Bản có nội dung thực tế nhất
với những lời nói thẳng thắn nhất:
“Đồng ý là Giáo Hội không tham gia
tích cực vào đời sống chính trị, không làm thay chính phủ, nhưng Giáo Hội vẫn có
những phương thức để giúp người tín hữu chọn lựa đứng đắn nhất những vị lãnh đạo
đất nước của mình chứ? Để xây dựng một “xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng”
thì sự góp ý mà thôi có đủ chưa? Ý thức về vai trò của người Kitô hữu trong xã
hội hiện nay, có lẽ Giáo Hội Việt Nam cần phải có những dấn thân tích cực hơn…
“Trong khi cố gắng đối thoại với nền
văn hóa, Giáo Hội cũng phải can đảm đối thoại với những tác nhân có ảnh hưởng
quan trọng tới nền văn hóa, đó là những người đang được trao cho trách nhiệm
lãnh đạo xã hội dân sự, Nếu những vị này đưa ra những đường hướng hoặc để xảy ra
những tình trạng đi ngược lại với những điều thuộc về truyền thống tốt đẹp của
dân tộc thì Giáo Hội phải lên tiếng nói. Ở đây, Giáo Hội lên tiếng nói không
phải chỉ để bảo vệ những giá trị của đạo Công Giáo nhưng là để nói lên “tiếng
nói của những người không có tiếng nói hoặc chưa được lên tiếng”. Vai trò tiên
tri được thể hiện trong tiếng nói chân thật và đầy trách nhiệm”.
Đức Cha Nguyễn Văn Bản nêu vấn đề
người dân chọn lựa những vị lãnh đạo đất nước. Đây là giấc mơ dân chủ hay cách
nói khéo về việc tranh đấu cho dân chủ? Đức Cha cũng chủ trương Giáo Hội cần dấn
thân tích cực trong việc xây dựng xã hội, nói xuông không đủ. Đức Cha nhìn rất
rõ giải pháp cải thiện văn hóa bằng cách tác động tới những tác nhân văn hóa,
tức những người có quyền thay đổi chính sách văn hóa, huấn luyện văn hóa. Đó là
những người ngày xưa được gọi là những ông quan và những ông thầy. Những ý kiến
cụ thể này tại sao không thấy được ghi nhận, phản ảnh trong Sứ Điệp?
Một đại hội được tổ chức công phu và
tốn kém như thế mà không vạch ra được một định hướng cho Giáo Hội quê hương,
không quyết định được những cải cách và hành động cụ thể có thể làm nức lòng
giáo dân, gây tiếng vang trong lòng dân tộc và gây sự quan tâm cho nhà cầm quyền,
thì đó là một sự lãng phí, cả sức lực, tiền tài và cơ hội. Lẽ ra chuyện đạo đức
và nội bộ của Giáo Hội chỉ nên chiếm tối đa 50% nghị trình. 50% còn lại để bàn
việc Giáo Hội dấn thân trong công cuộc cải tiến xã hội, thiết lập công bằng và
tôn trọng nhân quyền, đưa những đề nghị cụ thể về việc phục hồi luân lý, văn hóa
và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đề ra những biện pháp thực tế chống phá
thai, nghiện ngập, ma túy, mãi dâm, bảo vệ lao động và phụ nữ được đưa đi làm
việc ở nước ngoài…. Thêm vào đó là những vấn đề có tính cách thời sự như lụt lội,
bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải. Đó không phải là tuyên chiến với nhà cầm quyền. Đó
là đem đạo vào đời, sống đạo giữa đời. Đó mới là đồng hành với dân tộc. Nếu chỉ
tránh né những vấn đề thực tế để khỏi làm mất lòng nhà nước, nếu chỉ đóng cửa
cầu nguyện và giữ đạo cho riêng mình, Giáo Hội sẽ trở thành một “ghetto”, không
ai muốn đến gần, không ai muốn chơi với, và dĩ nhiên không ai muốn vào đạo. Việc
rao giảng Tin Mừng sẽ trì trệ. Thực tế là số giáo dân gia tăng chậm hơn tỷ lệ
gia tăng dân số. Như vậy là đi thụt lùi. Điều đáng buồn là không ai chịu trách
nhiệm về tình trạng này. Đa số các chủ chăn đều cho mình là đúng, là khôn ngoan,
miệng nói đổi mới nhưng vẫn theo đường cũ. Cứ đà này, Giáo Hội sẽ không thể thực
hiện được sự hiệp thông và hiệp nhất ngay trong lòng Giáo Hội, chưa kể sẽ trở
thành cục bột cho người ta muốn nhào nặn ra sao tùy ý.