Lòng Sùng Kính Đức Trinh Nữ Maria
Của Cố GH Gioan Phaolô II
Trần Phong Vũ

LTS.- Nhân dịp Tòa Thánh tôn phong Chân Phước cho ĐTC Gioan Phaolô II, chúng tôi xin trích Chương 4 tác phẩm biên khảo "Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhân Thời Đại" của Trần Phong Vũ, từ trang 68 đến trang 77, do tủ sách Tiếng Quê Hương tái bản lần thứ nhất năm 2006 để giúp độc giả thấy rõ lòng sùng kính đặc biệt của ngài đối với Đức Mẹ Maria.

Trong cơn đau đớn tột cùng, Đức Thánh Cha dường như không thấy ai, mắt Ngài nhắm nghiền, miệng không ngớt kêu: "Maria, Mẹ con! Maria, Mẹ con!"

Đấy là lời kể lại của đức ông Dziwisz, một trong những người thân cận tháp tùng xe chở Giáo Chủ Gioan Phaolô II trên đường tới bệnh viện cấp cứu sau khi ngài bị Mehmet Ali Agca bắn trọng thương tại quảng trường Thánh Phêrô ngày 13¬5¬1981, nhằm đúng ngày Đức Trinh Nữ Maria hiện ra lần đầu tiên với ba trẻ tại Fatima, Bồ Đào Nha năm 1917. Sau khi bình phục, Giáo Hoàng công khai nói với mọi người là ngài tin chính Đức Mẹ đã ra tay cứu mạng sống của ngài. Đức Thánh Cha nói: "Một tay hung thủ nhắm trái tim tôi để nổ súng, nhưng một tay Đức Mẹ đã điều hướng viên đạn đi ra chỗ khác."

"Chỗ khác" ấy là bụng ngài khiến các bác sĩ trong đoàn giải phẫu đã phải cắt bỏ 22 phân Anh (inches) ruột non. Hầu hết y giới đều có chung một kết luận là nếu viên đạn 9 ly chỉ chệch đi trong đường tơ kẽ tóc sẽ phá nát động mạch nạn nhân, và trong trường hợp ấy, vị lãnh đạo tinh thần tối cao của thế giới Công Giáo sẽ không thể nào thoát khỏi bàn tay tử thần. Sau này, Giáo Chủ Gioan Phaolô II đã có dịp nói với André Frossard, một nhà văn Pháp rằng:

"Ngay lúc ngã quỵ trước Quảng trường Thánh Phêrô hôm ấy, tôi đã tin chắc rằng tôi sẽ được cứu chữa, cho dẫu tình trạng có tồi tệ đến đâu chăng nữa".

Chẵn một năm sau ngày bị mưu sát, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tới tận Fatima, Bồ Đào Nha, nơi Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ năm 1917 để tạ ơn Đức Trinh Nữ Maria đã cứu sống ngài. Dịp này vị Giáo Chủ đã dâng lên bàn thờ Đức Mẹ đầu viên đạn do các y sĩ giải phẫu gắp ra từ cơ thể của ngài. Đầu đạn này về sau được nạm vào vòng triều thiên Đức Mẹ Fatima. Ngoài ra, tấm khăn bị viên đạn xuyên thủng còn loang máu của Đức Thánh Cha cũng được gửi tới bàn thờ Đức Mẹ Đen (Black Madonna) ở Czestochowa, Ba Lan. Những chi tiết trên đây nói lên trọn vẹn lòng tín thác và sùng kính Đức Trinh Nữ Maria của cố Giáo Chủ Công Giáo hoàn vũ. Khi trình thuật về cuộc đời Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, các tác giả Tad Szulc (trong Pope John Paul II – The Biography), Carl Bernstein và Marco Politi (trong His Holines ¬John Paul II and the Hidden History of our Time) đã kể lại nhiều chứng tích cho thấy niềm tín thác và lòng sùng kính ấy đã trải dài suốt cuộc đời ngài, từ tuổi ấu thơ cho tới những năm tháng được đặt để vào ngôi vị người cầm đầu Hội Thánh.

Ngoài ra, trong tất cả những thông điệp, văn kiện chính thức, kể cả trong tác phẩm "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng" (Crossing the Threshold of Hope) xuất bản năm 1994 và tác phẩm "Hồng Ân Và Huyền Nhiệm" (Gift and Mystery) được ấn hành dịp mừng Kim Khánh linh mục đầu tháng 11¬1996, Giáo Chủ Gioan Phaolô II đều công khai nhìn nhận tâm tình gắn bó của ngài đối với Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa và cũng là Mẹ Giáo Hội.

Mở đầu cho tác phẩm lớn, dày ngót 600 trang, Carl Bernstein & Marco Politi đã phản ảnh những suy tư của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II với những lời lẽ đượm đầy chất thơ khi ngài vẽ ra trong trí giây phút mới mở mắt chào đời.

Đoạn văn in nghiêng chữ nhỏ nơi đầu chương viết về giây phút chào đời của vị Giáo Hoàng tương lai đượm nhiều chất thơ đồng thời cũng mang nặng kịch tính ấy được hiểu theo hai cách.

Trước hết, có thể đây là một hình ảnh có thật được ghi đậm trong tiềm thức của vị Giáo Chủ Công Giáo thời thơ ấu qua lời kể lại của thân mẫu ngài. Và cũng có thể nó chỉ là những suy tư được phóng lớn trong trái tim nhậy cảm của một người con khi nghĩ về người mẹ đã cưu mang, đã sinh ra mình, gắn bó với hình ảnh một người mẹ thiêng liêng khác: Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ loài người.

Cho dù người đọc hiểu và tiếp nhận cách nào chăng nữa thì nó cũng nói lên một điều là những lời kinh, những tiếng hát ca khen, chào mừng Đức Trinh Nữ Maria mỗi độ tháng 5 trở về từ ngôi giáo đường nhỏ tại Wadowice vọng lên đã len lỏi vào căn chúng cư đối diện, nơi vị Giáo Hoàng tương lai của thế giới Công Giáo chào đời ngày 18¬5¬1920. Và cũng từ cái ngày định mệnh ấy, cuộc đời Karol Wojtyla đã gắn liền với Đức Mẹ Maria, dù với bất cứ tước hiệu nào được người đời gán cho Mẹ: Đức Mẹ Mân Côi, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức Mẹ Lộ Đức, Đức Mẹ Fatima, Đức Mẹ Đen Czestochowa, Đức Mẹ Guadalupe, kể cả Đức Mẹ La Vang của người Việt Nam chúng ta. Và khi được Thiên Chúa chọn làm người kế vị Thánh Phêrô, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn danh hiệu "Totus Tuus Sum Ego" (Tất cả là cho Mẹ) làm châm ngôn cho triều đại Giáo Hoàng của ngài.

Ngược giòng thời gian, ngay từ thuở đầu đời, Wojtyla đã chịu ảnh hưởng sâu xa của bầu không khí đạo đức sau mái ấm gia đình bên cạnh song thân là những người luôn đặt trọn niềm tin nơi Trinh Nữ Maria. Lòng kính mến Thiên Chúa của vị Giáo Hoàng tương lai ấy đã lớn lên xuyên qua tâm tình sùng kính Đức Mẹ. Vì nơi cư ngụ kế cận thánh đường nên có thể nói rằng không một giây phút nào tâm tư Lolech không được tắm gội trong bầu không khí tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria.

Ngoài những buổi sáng tối vãng lai nhà thờ để hiệp dâng thánh lễ, cầu nguyện trước bàn thờ Đức Mẹ, tối đến Lolech lại được cùng song thân lần hạt mân côi.

Đặc biệt mỗi độ tháng 5 trở về, cùng với trẻ em lối xóm, tâm hồn thơ dại của Lolech lại rộn lên trong không khí tưng bừng rền vang tiếng nhạc lời kinh chúc tụng Nữ Vương Trời Đất và cũng là Nữ Vương của dân tộc Ba Lan.

Sau khi thân mẫu qua đời, nếp sống đạo đức trong gia đình Wojtyla vẫn không thay đổi. Ngày ngày ngoài giờ học tập ở trường, Lolech tiếp tục theo cha tham dự thánh lễ và có mặt trong hầu hết những sinh hoạt tôn kính Đức Mẹ tại giáo đường. Giã từ học trình bậc tiểu học, bước lên trung học, Lolech vẫn dành cho Đức Trinh Nữ Maria một vị trí quan trọng trong tâm hồn cậu.

Trả lời một câu hỏi của Vittorio Messori trong tác phẩm Crossing the Threshold of Hope liên quan tới vấn đề này, Giáo Hoàng Phaolô II nói:

"Hình thức cũ kỹ nối kết tôi với Đức Trinh Nữ Maria là những kinh nguyện thời niên thiếu của tôi tại giáo đường Wadowice trước thánh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, những lời kinh gắn liền với truyền thống Dòng Kín. Kinh này sốt sắng đặc biệt, sử dụng biểu tượng rất phong phú. Ngay từ thời còn nhỏ tôi đã khám phá ra sự thâm thúy của kinh này nhờ những buổi trưa chiều qua lại Dòng Kín vì Dòng này tọa lạc trên một ngọn đồi cao nơi thành phố tôi cư ngụ.

"Ngoài ra, một hình thái khác của việc tôn sùng Mẹ Maria đã ảnh hưởng nhiều tới tâm tình và trí não tôi lúc bấy giờ là truyền thống hành hương ở Kalwaria Zebrzydowska. Đây là một trong những đền thờ thu hút nhiều khách hành hương từ miền nam Ba Lan và từ phía bên kia dãy Carpates. Những cuộc hành hương này có đặc điểm là không chỉ hướng về Đức Trinh Nữ Maria mà thôi, nhưng còn quy hướng về Chúa Kitô một cách sâu xa. Trong những ngày lưu lại nơi đó, trước hết khách hành hương đi theo những chặng đường Thánh Giá, nơi con người tìm lại được vị trí đích thực của mình là được đến gần với Chúa Kitô hơn qua Mẹ Người. Chặng Chúa chịu đóng đinh được đặt ở vị trí cao nhất trên đỉnh đồi. Từ đấy có thể nhìn bao quát quang cảnh thành phố.

"Tôi còn nhớ như in trong trí hình ảnh cuộc rước kiệu vĩ đại diễn ra hàng năm trước lễ kính Đức Mẹ Mông Triệu. Đấy chính là một biểu chứng hùng hồn về niềm tín thác mà người tín hữu đặt để nơi Chúa Kitô qua Đức Trinh Nữ Maria, Đấng thông phần vào ơn phục sinh và sự vinh quang của con Ngài.

Cũng vì thế có thể nói rằng ngay từ thời niên thiếu, lòng tôn sùng Đức Mẹ đã sớm bắt rễ trong tôi cùng với sự nảy nở của chiều kích Kitô học. Và điều này tôi đã học được từ những cuộc hành hương Kalwaria".

Theo Tad Szulc trong cuốn Tiểu Sử Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thì vào năm 15 tuổi Karol đã gia nhập chi hội Đức Mẹ tại trường trung học Wadowice, một tổ chức sùng kính Đức Trinh Nữ Maria có tầm hoạt động toàn quốc. Trong hai năm liên tiếp sau đó, Karol đã được tín nhiệm trong vai trò chủ tịch chi hội. Sau khi tốt nghiệp trung học, dời cư lên Krakow theo học đại học, Karol Wojtyla gặp Jan Tyrakrowski, được thâu nhận vào nhóm thực hiện Chuỗi Mân Côi Sống. Kể từ đấy, cũng như trong suốt thời gian làm việc lao động tại hầm đập đá và xưởng hóa chất Solvay của quân đội Đức Quốc Xã, lòng sùng kính Đức Mẹ Maria nơi người sinh viên trẻ tuổi này càng ngày càng thêm sâu sắc.

Trả lời tiếp câu hỏi về ảnh hưởng Đức Trinh Nữ Maria đối với ngài, cũng trong tác phẩm "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng", Giáo Chủ Gioan Phaolô II xác định:

"Tất cả là cho Mẹ.

"Đây không chỉ là một công thức đạo đức có tính cách quy ước và cũng không phải là một cách diễn tả đơn sơ về một lòng tôn sùng, nhưng còn hơn thế nhiều. Trong thế chiến thứ hai, khi tôi còn làm thợ trong một hầm đá và sau đó trong một xưởng hóa chất, lòng tôn sùng đã trở nên vững mạnh trong tôi. (...).

"Nhờ Thánh Louis¬Maria Grignon De Montfort, tôi thâm tín rằng sự tôn sùng Mẹ Thiên Chúa cách chân chính thì đúng là quy hướng về Chúa Giêsu Kitô, là bám rễ sâu xa trong màu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, cũng như trong màu nhiệm nhập thể và cứu độ. Cũng từ đấy tôi đã tái khám phá ra lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria với một tâm thức mới. Hình thức sùng kính này không ngừng chín muồi trong tôi và đã mang lại kết quả rõ rệt. Những kết quả này xuất hiện trọn vẹn trong thông điệp Redemptoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Chuộc) và trong tông thư Mulieris Dignitatem (Phẩm Giá Người Phụ Nữ). Mỗi người chúng ta phải ý thức rằng lòng tôn sùng Đức Mẹ không chỉ biểu lộ sự cuồng nhiệt của trái tim, hay nói cách khác, một khuynh hướng tình cảm. Hơn thế, lòng sùng kính này còn là đáp ứng lại sự thật khách quan về Mẹ Thiên Chúa"

Ngắm nhìn Đức Mẹ Maria trong cái nhìn toàn bộ về Thánh Mẫu Học, hay Maria Học Thuyết, trong tác phẩm Tiến Về Ngàn Năm Thứ Ba, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết:

"Xin hãy đến cứu dân Ngài đang gục ngã và đang tìm cách chỗi dậy! Những lời này liên quan đến mỗi người, đến các cộng đoàn, các quốc gia, dân tộc, đến các thế hệ và các thời đại của lịch sử nhân loại, đặc biệt là thời đại chúng ta, trong những năm này của thiên niên kỷ. Đó là lời dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Đấng Cứu Thế. Đó cũng là lời cầu nguyện dâng lên Chúa Kitô, Đấng nhờ bởi Đức Trinh Nữ Maria đã đi vào lịch sử nhân loại. Từ năm này sang năm khác, điệp khúc này dâng lên Đức Mẹ, gợi lại thời điểm đã thực hiện sự lật ngược vẫn còn tồn tại không thể đảo hồi: Sự lật ngược giữa "sa ngã" và "chỗi dậy"

"Nhân loại đã thực hiện những phát minh tuyệt vời và đã đạt tới những kết quả kỳ diệu trong lãnh vực khoa học kỹ thuật. Nhân loại cũng đã hoàn thành những công trình vĩ đại trên đường tiến bộ và văn minh. Và người ta có thể nói rằng, thời gian gần đây, nhân loại đã thành công trong việc đẩy nhanh dòng lịch sử. Nhưng bước ngoặt chủ yếu, bước ngoặt mà người ta có thể gọi là bước ngoặt "nguyên thủy", luôn đi theo bước chân của con người và qua những thăng trầm của lịch sử, nó đi theo tất cả chúng ta cũng như từng người chúng ta. Đó là sự lật ngược giữa "sa ngã" và "chỗi dậy".

Đó là sự lật ngược giữa sự chết và sự sống. Đó cũng là một thách đố không ngừng đối với lương tâm nhân loại, một thách đố cho ý thức lịch sử của con người. Thách đố ấy hệ tại vấn đề bước đi "mà không ngã" trên những con đường xưa cũ nhưng luôn luôn mới mẻ, và "chỗi dậy" nếu như có lần nào đã quỵ ngã.

"Nơi Đức Trinh Nữ Maria biểu thị trọn vẹn giá trị mà kế hoạch Thiên Chúa dành cho bản thân và sứ mạng người phụ nữ. Để xác tín điều này, chỉ cần suy nghĩ về giá trị nhân loại học của những phương diện chủ yếu trong khoa thần học về Mẹ Maria: Mẹ được "đầy ơn phúc" ngay từ giây phút đầu của cuộc đời Mẹ, bởi Mẹ đã được Thiên Chúa bảo vệ khỏi mọi tội lỗi. Hiển nhiên là Thiên Chúa đã ban dồi dào ân huệ của Ngài cho người nữ đã được "chúc phúc hơn mọi người nữ" và ân phúc ấy từ Đức Trinh Nữ Maria tuôn trào ra dội lên trên chính thân phận người phụ nữ, đồng thời nâng cao phẩm giá của họ" (Thông điệp Mẹ Và Thày 7.11).

"Hơn nữa, Đức Mẹ còn được liên kết trong giao ước cuối cùng của Thiên Chúa với nhân loại. Nhân danh nhân loại Đức Trinh Nữ Maria đã đồng thuận cho Đấng Cứu Thế đến trong thế gian. Vai trò này vượt khỏi mọi yêu sách, ngay cả những yêu sách mới đây nhất, liên quan tới những quyền của phụ nữ: Đức Mẹ đã can thiệp vào lịch sử nhân loại cách không thể tưởng được về mặt siêu nhiên cũng như về mặt phàm trần, và với sự đồng thuận của mình, Mẹ đã góp phần vào việc biến đổi số phận con người. Hơn thế, Đức Trinh Nữ Maria còn góp phần vào việc khai triển sứ mạng của Chúa Kitô, vừa sinh hạ ra Người vừa ở bên cạnh Ngườøi trong suốt cuộc đời ẩn dật cũng như cả những năm đi vào cuộc sống công khai, bằng cách âm thầm hỗ trợ mọi hoạt động truyền bá Phúc âm của Người. Khởi sự từ Cana, nơi Đức Mẹ đã xin Chúa Giêsu tỏ lộ quyền năng trong phép lạ đầu tiên biến nước lã thành rượu để giúp đôi tân hôn. Như Công Đồng nói, chính Đức Trinh Nữ, "bởi sự cầu bầu của mình, đã làm cho Chúa Giêsu bắt đầu làm phép lạ".

Hơn ai hết, Giáo Chủ Gioan Phaolô II là người rất siêng năng đọc kinh Mân Côi kính Đức Mẹ vì bản thân Ngài đã nhận ra sức mạnh vạn năng của kinh này.

Trong thời thanh niên ngài đã từng say mê hoạt động trong nhóm thực hiện Chuỗi Mân Côi Sống hàng ngày. Những thời khoảng sau khi đã thụ phong linh mục, du học Rôma và trở về Ba Lan, ngài lại đích thân đứng ra phát động một phong trào tương tự nhằm cổ võ tín hữu gia tăng lòng sùng kính Đức Mẹ qua việc lần chuỗi Mân Côi. Đề cập giá trị không thể thay thế của kinh Mân Côi, cũng trong tác phẩm Tiến Về Ngàn Năm Thứ Ba, Giáo Hoàng viết:

"Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện mà tôi yêu thích nhất. Đó là lời kinh tuyệt vời. Tuyệt vời trong sự đơn giản và sâu sắc. Với lời kinh này, chúng ta lập lại nhiều lần những lời mà Đức Trinh Nữ đã nghe Tổng Lãnh Thiên Thần và người chị họ Elizabeth nói với Ngài.

"Toàn thể Giáo Hội cũng liên kết với những lời ấy. Người ta có thể nói rằng, một cách nào đó kinh Mân Côi là kinh chú giải chương cuối cùng trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân của Công Đồng Vaticanô II, chương bàn đến sự hiện diện tuyệt diệu của Mẹ Thiên Chúa trong màu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội. Bởi lẽ qua những lời trong kinh "Kính Mừng Maria", những biến cố chính trong cuộc đời Chúa Kitô diễn ra dưới cặp mắt linh hồn. Những biến cố ấy bao gồm toàn bộ các màu nhiệm vui, thương, mừng, giúp các tín hữu hiệp thông một cách sống động với Chúa Kitô, qua trái tim của thân mẫu Ngài là Đức Trinh Nữ Maria. Ngoài ra, qua những chục kinh của tràng chuỗi Mân Côi, tâm hồn chúng ta có thể nhớ lại những sự kiện tạo nên đời sống của cá nhân, gia đình, quốc gia, Giáo Hội và cả nhân loại, những sự kiện cá nhân, và những sự kiện của những người lân cận chúng ta cũng như những người thân thiết với chúng ta nhất. Như thế, kinh Mân Côi đơn sơ này chứa đựng trọn vẹn nhịp sống của cuộc đời con người".

Trong hầu hết những cuộc du hành mục vụ ngoài Vatican, Giáo Chủ Gioan Phaolô II cũng không bỏ lỡ một cơ hội nào để tỏ bày lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria của ngài tại những địa điểm đặc biệt tôn vinh Đức Mẹ của người tín hữu Công Giáo điïa phương.

Hơn ba tháng sau khi được chọn làm người kế vị Thánh Phêrô, trong dịp viếng thăm Mễ Tây Cơ hạ tuần tháng Giêng năm 1979, ngài đã được trên 4 triệu giáo dân chào mừng tại quảng trường Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Guadalupe ở Puebla.

Trước rừng người và trước Thánh ảnh Đức Trinh Nữ Maria Guadalupe, Giáo Chủ Gioan Phaolô II đã dâng lên những lời cầu nguyện vô cùng tha thiết:

"Lạy Mẹ, con xin chào kính Mẹ!

Với lòng kính trọng thâm sâu và tình yêu như biển rộng, con muốn tái tuyên xưng những lời kinh vô cùng giản dị này: Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Mẹ. Con lập lại lời kinh mà không biết bao nhiêu trái tim và miệng lưỡi trên địa cầu này đã ấp ủ và cất cao. Và con xin chào kính Mẹ, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ loài người chúng con".

Người dân Mễ Tây Cơ kêu Đức Maria Guadalupe là Morenita như một gợi nhớ về sự kiện Đức Mẹ đã hiện ra với cậu bé chăn cừu người Indian tên là Juan Diego vào năm 1531. Hầu hết người dân địa phương đều thuộc nằm lòng câu chuyện Đức Trinh Nữ Maria hiện ra với Diego. Ngài đã hiện ra trong vùng hào quang rực rỡ, nước da màu nâu và trang phục giống như một phụ nữ Indian. Juan Diego tường trình chi tiết việc Đức Mẹ hiện ra với đức Giám mục sở tại nhưng ngài không tin. Sau đó Đức Mẹ đã khiến cho những đóa hoa hồng nở ra trên vùng đất đá khô khan cằn cỗi. Juan hái hoa và bỏ vào áo choàng đem về trình đức Giám mục để làm bằng. Nhưng khi anh mở vạt áo ra thì những đóa hồng đã biến mất thay vào đó là thánh ảnh đức Trinh Nữ in đậm trên lớp vải phía trong vạt áo.

Tác giả "His Holiness …" cho biết, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tỏ ra rất thích những câu chuyện nói về Đức Mẹ hiện ra, mà phần lớn thường với trẻ em hoặc những người bình dân, đơn sơ mộc mạc. Theo Đức Thánh Cha, điều này cho thấy những người dân thường, bao gồm cả trẻ nhỏ có một sức mạnh tinh thần nhiều khi hơn cả những Giám mục trí thức.

Trong những dịp viếng thăm quê hương Ba Lan của ngài, Đức Thánh Cha không bao giờ quên tới dâng lời cầu nguyện đặc biệt Đức Mẹ Đen ở Czestochowa mà từ thế kỷ 17 đã được tôn xưng là Nữ Vương của dân tộc Ba Lan.

Trong hầu hết những cuộc triều kiến phái đoàn các giám mục Việt Nam tại Vatican cũng như những lần có dịp gặp gỡ đông đảo giáo dân Việt Nam, thí dụ như trong dịp tôn phong 117 Chân Phước lên hàng Hiển Thánh tại quảng trường thánh Phêrô ở Vatican ngày 19 tháng 6 năm 1988 hoặc trong Đại Hội giới trẻ ở Denver, Colorado Hoa Kỳ 15 năm sau, Giáo Chủ Gioan Phaolô II đều nhắc tới Đức Mẹ La Vang với một tâm tình kính mến đặc biệt.

Hôm nay, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã được Thiên Chúa gọi ra khỏi thế gian. Và ngày 01 tháng 5 này, ngài đã được người kế nhiệm là ĐTC Bênêđictô XVI tôn phong Chân Phước. Tâm nguyện thăm viếng Việt Nam để có cơ hội đích thân tới Thánh địa kính viếng Đức Trinh Nữ Maria La Vang của ngài đã không thực hiện được trong đời này. Nhưng, chúng ta tin rằng, từ chốn trời cao, bên cạnh Mẹ Maria và Ngôi Hai Thiên Chúa, vị Giáo Hoàng thứ 264 của Giáo Hội hoàn vũ vẫn ấp ủ Giáo Hội và dân tộc Việt Nam trong trái tìm vĩ đại của ngài.

 

1. Carl Bernstein & Maco Potini: His Holiness… các trang 294, 295, 296.

2. Giữa giây phút sắp khai hoa nở nhụy, người sản phụ thành khẩn lên tiếng yêu cầu bà đỡ mở rộng cánh cửa sổ để những thanh âm đầu đời đứa con trai sơ sinh của Bà nghe được sẽ là những tiếng ca mừng Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa.

Bà đỡ bước tới bên cửa sổ, nhẹ nhàng mở những lá sách lên. Bỗng dưng căn phòng nhỏ ngập tràn ánh sáng cùng với âm thanh trầm bổng của những lời kinh chiều chúc tụng Trinh Nữ Maria vào Tháng 5, tháng dành riêng cho Mẹ, từ Nhà Thờ Đức Bà vọng lại. Và như thế, khi vừa mở mắt chào đời, âm hưởng đầu tiên lọt vào thính giác vị Giáo Hoàng tương lai của Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ – Đức Gioan Phaolô II – là những cung nhạc ngợi khen Đức Trinh Nữ Maria vang lên từ ngôi giáo đường đối diện với căn phòng khiêm tốn do một người Do Thái làm chủ tại một khu phố nhỏ mang tên Galician, thành Wadowice, Ba Lan"

3. Pope John Paul II, Crossing the Threshold of Hope, từ trang 212 đến trang 215.

4. Pope John Paul II, Tiến Về Ngàn Năm Thứ Ba (Bản dịch trong nước, trang 98-100).