Viết Từ Canada
SỨC MẠNH QUẦN CHÚNG
Qua những cuộc vùng dậy đánh đổ độc tài của nhân dân các nước ở Trung Đông và châu Phi, chúng ta thấy sức mạnh của quần chúng qủa thật vô địch, không một sức mạnh nào có thể đương cự. Ở một bình diện nhỏ hơn, sức mạnh của quần chúng cũng vừa được thể hiện ở Việt Nam qua vụ Phạm Hồng Sơn và Lê Quốc Quân. Chúng ta không ngây thơ và vội vã hô hoán chíến thắng. Chiến thắng lớn chưa đạt được. Nhưng kết qủa cụ thể đã đến để chứng minh cho mọi người thấy rằng hợp quần tạo nên sức mạnh, và những kẻ chủ trương độc tài, cá nhân hay tập thể, chỉ sợ sức mạnh của quần chúng nhân dân, không nhượng bộ trước những lời nói và hành động năn nỉ, xuống nước hay thỏa hiệp.
Luật sư Lê Quốc Quân bị bắt cùng với Bác sĩ Phạm Hồng Sơn trước tòa án Hà Nội ngày 4-4-2011, lúc tòa sắp xử Luật sư Cù Huy Hà Vũ. Đám đông quần chúng đến xem và ủng hộ Ls Vũ đã bị hàng ngàn công an ngăn chặn, đuổi, đánh, bắt một số người về bót. Một sĩ quan công an (hay một tên chỉ điểm) đã chỉ cho đồng bọn bắt Ls Quân khi hô to "Bắt thằng này". Như vậy là việc bắt bớ có dự mưu, không phải vì Ls Quân phạm tội "phá hoại trật tự công cộng" như lý do chính thức được đưa ra. Thêm vào đó, công an đã đến khám nhà Ls Quân ngay chiều hôm đó, lấy đi nhiều tài liệu và những dữ kiện trong máy vi tinh. Nguyễn Quốc Quân là người hiền lành, dễ thương, nhưng không phải là loại người cho cộng sản dễ bắt nạt. Ông đã từng coi vụ tù đầy ông phải chịu trước đây như chuyện gãi ghẻ, lại mới nộp đơn ứng cử Quốc Hội kỳ 13 với tư cách độc lập, chẳng cần biết đảng hay Mặt Trận Tổ Quốc cho phép hay không. Ông còn có một sức nặng khác, đó là chức vụ ủy viên trong Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình giáo phận Vinh và cũng là Ủy Viên Liên Lạc của Công Đồng Doanh Nhân-Trí Thức Công Giáo VN. Cộng sản bắt ông là bắt con kiến càng trong ổ kiến lửa. Cộng đoàn Vinh lập tức phản ứng. Họ biết nếu để yên cho CS bắt và đưa Ls Quân ra tòa, CS sẽ thừa cơ leo thang bắt thêm một số nhà đấu tranh cho dân chủ khác.
Khi nói tới cộng đoàn Vinh người ta nghĩ đến dân ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, đất quê hương của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và một số lãnh tụ cộng sản khác. Ngày nay cộng đoàn Vinh lại có một nét đặc biệt riêng, đó là luôn luôn dẫn đầu các cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, tự do và công lý, không ngần ngại đối đầu với bạo quyền, không sợ hãi những đàn áp, đòn thù. Dân ba tỉnh này không được thiên nhiên ưu đãi, phải sống trên những vùng đất cầy lên sỏi đá, lũ lụt xảy đến hàng năm, nên họ đã được hun đúc tính phấn đấu để sống còn. Yêu đất quê hương nhưng đất quê hương không chiều người, họ phải kéo nhau đi khắp miền đất nước để học hành và làm ăn, đa số tụ tập tại Hà Nội và Sài Gòn. Cộng đồng Vinh "lưu vong" ở Hà Nội đông nhất, trong đó có Cù Huy Hà Vũ và Lê Quốc Quân.
Khi Lê Quốc Quân bị bắt cùng với Phạm Hồng Sơn, cộng đồng Vinh, chủ yếu tại Hà Nội, đã phân tách tình hình và nhận xét rằng cộng sản sẽ nhân vụ kết tội Cù Huy Hà Vũ (tội nặng nhất là dám nhận cãi cho giáo dân Cồn Dầu bị chiếm đất, công khai đương cự với nhà cầm quyền về quyền và lợi cụ thể, các tội khác đều có thể giảm khinh) để bắt luôn một số người khác. Nếu phản ứng không mạnh, họ sẽ tiếp tục tỉa từng người cho đến khi không còn ai dám chống đối.
Chiến thuật phản công phải được diễn ra trong vòng hợp pháp, không tạo cớ cho nhà cầm quyền vu khống và đàn áp. Tính đi tính lại, anh em thấy không gì hữu hiệu bằng tạo sức mạnh hợp quần của cộng đoàn và kéo theo sự tham gia của đồng bào tại các nơi khác. Khi một khối đông dân chúng đồng thanh cương quyết bầy tỏ lập trường, đòi hỏi điều hữu lý, nhà cầm quyền không thể chơi trò cả vú lấp miệng em mà không e ngại những phản ứng có tinh cách giây chuyền sẽ xảy ra sau đó. Ngày 5-4-2011, ông Cao Xuân Linh, đại diện cộng đoàn Vinh tại Hà Nội, ra thông báo việc Ls Lê Quốc Quân, một thành viên cộng đoàn, bị bắt ngày hôm trước. Thông báo mời gọi mọi người yêu mến công lý, sự thật và hòa bình tới nhà thờ Thái Hà dự thánh lễ cầu nguyện cho người bị bắt oan lúc 19g30 ngày 8-4-2011. Trên 4,000 dân Công giáo và không Công Giáo đã lũ lượt kéo đến nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở Thái Hà dự thánh lễ và đốt nến cầu nguyện cho Lê Quốc Quân và Phạm Hồng Sơn. Cũng để hưởng ứng lời kêu gọi trên, hàng loạt giáo xứ trong giáo phận Vinh: Cầu Rầm, Lập Thạch, Bến Đến, Yên Đại… và cả giáo xứ Thanh Minh ở miền đồng chua nước mặn Thái Bình cũng tham gia việc cầu nguyện cho những nạn nhân bị bắt oan, và nhân đó cầu nguyện cho tự do và công lý. Không cần nói ai cũng hiểu đối tượng nhắm tới là nhà cầm quyền cộng sản. Những người tổ chức và tham gia cuộc đấu tranh bất bạo động này đã gián tiếp gửi cho nhà nước một thông điệp, nếu không nói là tối hậu thư, có nội dung đại ý: nếu sau ngày 13 tháng 4, (9 ngày sau khi nghi can bị bắt, hoặc sẽ được thả, hoặc sẽ bị truy tố ra tòa, theo luật nhà nước CS/VN) Ls Lê Quốc Quân không được trả tự do, những cuộc cầu nuyện sẽ lan ra khắp nước với cường độ mạnh mẽ hơn. Sau đó nếu có những chuyện gì khác xảy ra, nhà nước phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Cộng đồng Vinh đã ra tuyên cáo số 1 và số 2 để cụ thể hóa lời cảnh cáo này.
Thêm vào đó, Cộng đoàn Doanh Nhân-Trí Thức Công Giáo VN cũng ra tuyên cáo ngày 12-04-2011 phản đối hành vi đánh đập, bắt giữ người trái phép của nhà cầm quyền đối với Ls Lê Quốc Quân, Trưởng Ban Liên Lạc của Cộng Đồng Doanh Nhân-Trí Thức, đồng thời kêu gọi toàn quốc tham gia phong trào cầu nguyện cho công lý là sự thật. Quyết tâm tranh đấu đến cùng đã biểu lộ. Nhà nước cộng sản không thể coi thường. Họ đã nhận rõ nội dung của thông điệp.
Dối với các thẩm quyền trong Giáo Hội CG/VN, anh em đã tiếp xúc để trình bầy lập trường. Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, vừa là người đứng đầu giáo phận Vinh vừa là Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình của Giáo Hội CG/VN, không thể bất động trước việc một người con ưu tú của địa phận và cũng là một ủy viên trong ủy ban của mình bị nhà nước bắt dằn mặt. GM Nguyễn Thái Hợp đã ra Hà Nội gặp Tổng GM Nguyễn Văn Nhơn, Chủ Tịch Hội Đồng GMVN, để thảo luận việc này. Hai vị đã tính toán ra sao, đã can thiệp với nhà cầm quyền như thế nào, không ai biết. Nhưng chắc chắn sự can thiệp này không thể đi ngược nguyện vọng của quần chúng. Quần chúng giáo dân đã thưa với các giám mục và cho nhà cầm quyền biết rằng việc cầu nguyện cho những nạn nhân bị oan ức và cho việc thực thi hòa bình công lý không vi phạm Giáo Luật và không ai có quyền cấm đoán, kể cả hàng giáo phẩm. Thêm một đòn cân não nữa cho nhà cầm quyền.
Về phiá nhà cầm quyền, theo những tin tức được tiết lộ, Bộ Chính đã chỉ thị phải làm mạnh, phải dọn sạch sẽ những phần tử chống đối trước ngày bầu cử quốc hội vào tháng 5. Nhưng sau đó Ban Tôn Giáo đã lưu ý Bộ Chính Trị là phải hết sức thận trọng trong việc đối phó với các thành phần tôn giáo. Chỉ nên làm mạnh khi có giải pháp giải quyết được toàn bộ vấn đề. Bộ Chính Trị đã hiểu ra, và cũng bắt đầu run trước những áp lực và đe dọa đến từ quần chúng, không còn hùng hổ đòi làm cha thiên hạ (ít ra lúc đó). Vì vậy họ đã quyết định cho thả Lê Quốc Quân và Phạm Hồng Sơn vào chiều 13-4-2011.
Khi được tin hai bạn tù oan được trả tự do, một nhóm anh chị em đã mang hoa đến cổng nhà giam để đón hai người. Điểm dừng chân đầu tiên là nhà thờ Thái Hà để, theo lời một bạn tham dự, tạ ơn Chúa và để bà con thấy rõ mặt hai người mà họ đã tranh đấu và cầu nguyện cho. Nhờ thế họ sẽ lên tinh thần và sẽ hăng hái hơn trong tương lai. Phạm Hồng Sơn, không Công Giáo, đã ôm hoa "đảnh lễ" trước bàn thờ. Lê Quốc Quân đã khóc khi cầu nguyện. Tôi đoán anh khóc không phải vì mừng vừa thoát vòng tù tội, nhưng cảm động vì tình Chúa, tình người, vì thấy dù sao trên cõi đời này không phải chỉ có toàn những kẻ gian ác. Chắc chắn anh đã cảm nghiệm được tình thương và sức mạnh của quần chúng đã cứu anh.
Qủa đúng như vậy. Quần chúng với hai bàn tay trắng, nhưng với ý chí cương quyết và tinh thần hợp quần đã làm cho bạo lực phải nhượng bộ. Kết qủa nhỏ này đã tạo một tiền lệ để quần chúng cứ theo đó mà làm. Càng đông, càng kiên cường thì bạo lực càng phải lùi. Trong phạm vi Giáo Hội Công Giáo, từ nay Hội Đồng Giám Mục và các giám mục địa phương hiểu rõ hơn là việc giáo dân lên tiếng và phát động những cuộc cầu nguyện cho chân lý, công bằng và nhân phẩm không vi phạm Giáo Luật, không xâm phạm quyền hành của các vị, vì vậy các vị không thể cấm đoán. Những gì các vị không muốn, không dám hay không tiện làm, hãy để giáo dân làm, dĩ nhiên trong vòng luật lệ. Ước chi những tôn giáo khác cũng phát động những cuộc cầu nguyện tương tự trong tinh thần liên đới và phối hợp giũa các tôn giáo. Lúc đó quần chúng sẽ ào ào tham gia và kết qủa không phải chỉ là cứu hai người nhưng là giải thoát cho 86 triệu con dân nước Việt.
* * *
THỜI CHÚA CÓ KHÁC CHI THỜI NAY
Vào mùa Chay năm nay (2011), trong khi chờ máy bay ở phi trường San Francisco, tôi tìm được trong một tiệm sách ở phi trường cuốn "Jesus – A Biography from a Believer" của tác giả Paul Johnson, mới được nhà xuất bản Viking Penguin ấn hành năm 2010 tại Hoa Kỳ. Tác giả Paul Johnson là một tín hữu (believer) Công Giáo, một sử gia có tầm cỡ, đã viết bộ sách "A History of Chistianity" (Một Lịch Sử Thiên Chúa Giáo) rất được độc giả trân trọng. Tuy "biography" thường được dịch sang tiếng Việt là tiểu sử, nhưng trong trường hợp này là cả một cuốn sử ký về cuộc đời Chúa Jesus dầy 229 trang, chưa kể phần Index. Tôi đã thích thú "ngốn" gần hết cuốn sách trong mấy tiếng đồng hồ ngồi máy bay.
Điểm đặc biệt đầu tiên của cuốn "Jesus-A Biography from a Believer" là cuốn sách được viết do một sử gia, theo đúng nghiã chuyên môn của danh từ, không do những nhà nghiên cứu và dẫn giải Thánh Kinh. Vì vậy cuốn sách không có tính cách kinh điển và giáo huấn, thường rất khó "nuốt". Dĩ nhiên các tài liệu tham chiếu của tác giả không thể kiếm đâu khác ngoài Cựu Ước, Tân Ước, các sách Tông Đồ Công Vụ, thêm lịch sử của dân Do Thái trên miền đất Palestine thời thế kỷ thứ nhất Công nguyên.
Đặc điểm thứ hai, tác gỉa cuốn sách là một tín hữu nên không có những phản bác hay tranh cãi không lối thoát (polemic). Tuy nhiên, tác giả không chép lại nguyên văn các chuyện kể trong Thánh Kinh, nhưng biết quảng diễn từ tâm lý nhân vật đến hoàn cảnh xã hội và chính trị thời các nhân vật sống. Nhờ thế người đọc thấy những nhân vật này có "tính người" hơn, sống động hơn, gần gũi thân mật hơn.
Thí dụ về hoàn cảnh chính trị và tôn giáo thời Chúa Giêsu. Vùng đất Do Thái mà người ta quen gọi là Palestine được đặt dưới quyền thống trị của đế quốc La Mã. Hoàng đế La Mã Augustus Caesar trị vì lúc đó và băng hà khi Chúa Giêsu 18 tuổi. La Mã không cai trị trực tiếp Palestine, chỉ có một đạo quân không quan trọng đóng ở đó và đặt một tổng trấn đại diện đế quốc tên Ponte Pilate (người Việt gọi là quan Phong-Phi-la-tô). Việc cai trị trực tiếp được giao cho một thủ lãnh người địa phương tên Herod the Great (chúng ta quen gọi là vua Hê-rô-đê). Herod là một người xuất thân từ giới doanh thương, rất giầu có và cai trị theo kiểu "trên đội dưới đạp", cúc cung tùng phục quyền hành La Mã nhưng độc tài và tàn ác với dân của chính mình (thí dụ việc ra lệnh giết tất cả mọi trẻ sơ sinh trai đầu lòng trong vùng Bethlehem và vùng bờ biển với mục đích giết bằng được hài nhi Giêsu). Về tôn giáo, dân Do Thái theo đạo Do Thái độc thần, tức chỉ tôn thở một Thiên Chúa duy nhất. Đứng đầu của đạo là Thượng Phẩm Caiaphas. "Vấn đề của đạo Do Thái là đạo có lịch sử xưa cũ trên một ngàn năm, và luật lệ của đạo, dù có lẽ đã được sửa đổi cho thích ứng với những nhu cầu của dân sơ khai sống trong sa mạc, thường trở nên vô nghiã với một cộng đồng dân chúng tân tiến, nặng tính doanh thương và đô thị hóa vào thế kỷ đầu tiên của Công nguyên – và đó là gánh nặng to lớn hàng ngày. Đạo Do Thái không bao giờ có những cải cách căn bản và luôn được cai quản và thi hành bởi những giáo sĩ và thư lại tạo thành một nhóm đặc quyền khép kín, công việc của họ thường do cha truyền con nối, họ chống lại những thay đổi một cách qúa khích. Họ cũng có khả năng hoàn toàn đặt mình trong sự liên minh trắng trợn với quyền hành La Mã để ngăn chặn những nhà cải cách khích động những đám đông" (1)
Chúng ta đã thấy hoàn cảnh xã hội và tôn giáo thời Chúa Giêsu giống hoàn cảnh của Việt Nam chúng ta ngày nay chưa? Đế quốc La Mã cũng giống như đế quốc cộng sản thời toàn trị. Sau khi đế quốc cộng sản bể, chúng ta vẫn còn bị đế quốc Đại Hán cưỡi trên cổ với quan thái thú Phi-la-tô thời đại mới là đại sứ Trung Quốc ngồi ở Hà Nội. Guồng máy cai trị trực tiếp là những người bản xứ rất giầu có (vì đâu?), độc tài và tàn ác rất mực, sợ còn hơn Hê-rô-đê. Về tôn giáo, chúng ta hãy đọc đoạn dịch nguyên văn trên đây viết về đạo Do Thái thời đó rồi so sánh với thời nay để xem hai thời giống nhau bao nhiêu phần.
Về gia đình của Joseph (Giuse), Maria và Jesus (Giêsu) tại Nazareth, tác giả viết Nazareth là một làng nhỏ trong vùng Galilea có từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên. Nơi đây Joseph có một xưởng làm đồ mộc. Joseph hứa hôn với Maria, một thiếu nữ rất trẻ còn trong tuổi "teen" (từ 13 đến 19 - thirteen to nineteen). Có lẽ Maria chỉ mới 16 tuổi lúc hứa hôn với Joseph. Không có tài liệu nào nói về tuổi của Joseph. Người ta thường đoán Joseph lớn tuổi hơn Maria rất nhiều vì trong các hình ảnh, Joseph luôn được vẽ với bộ mặt về già và hàng râu rậm. Thực tế Joseph đã qua đời trước khi Jesus đi rao giảng. Nhà của Maria ở bên cạnh hay ở trên xưởng mộc của Joseph. Như vậy Maria đúng là "cô láng giềng" của Joseph. Joseph là hậu duệ của vua David, tuy làm thợ mộc nhưng là người có học, ngoài thổ ngữ Aramaic, Joseph còn biết đọc cả tiếng Hebrew, thứ tiếng được đùng để viết sách thánh Do Thái. Maria xuất thân từ một gia đình đáng kính (respectable home), biết đọc, biết viết, biết nấu ăn, khâu vá thêu thùa, được dậy dỗ để trở thành một người vợ cần mẫn của một thương gia phát đạt. Vậy mà duyên số lại se nàng vào một anh thợ mộc khiêm tốn trong làng (trang 15). Maria đã đọc và nghe sách thánh Torah và Thánh Vịnh. Maria đã nhập tâm và thuộc nhiều câu, đoạn của những sách này. Vì thế Maria có tâm hồn thi sĩ và có tài "xuất khẩu thành thi". Bằng cớ là khi đến viếng thăm chị họ Elizabeth, Maria đã ứng khẩu đáp lời chào của chị bằng một bài thơ tuyệt vời ngợi khen Thiên Chúa, sau này được gọi là kinh Magnificat (tr 18).
Về Jesus thời thơ ấu, ngoài chuyện được sinh ra ở Bethlehem, được cha nuôi và mẹ đưa đi trốn ở Ai Cập, chỉ được đề cập rõ ràng nhất khi Jesus 12 tuổi, ở lại trong đền thờ để thảo luận về luật lệ và tôn giáo với các kinh sư và luật sĩ. Từ 12 đến 30 tuổi, một khoảng trống 18 năm không có sách sử nào ghi lại. Tác giả suy đoán rằng trong thời gian này, Jesus đã tự học, đi làm một số việc khác nhau, trong đó có việc canh nông và chăn cừu để học hỏi thực tế của cuộc sống, tìm hiểu tâm lý người dân thường. Sau này khi đi giảng dậy, Jesus nói nhiều về kinh ngiệm trồng cấy và chăn nuôi. Hình ảnh chủ chăn (mục tử) có lẽ cũng từ đó mà ra.
Một điều người ta không hiểu nổi là tại sao mới ở tuổi 12, Jesus đã có một kiến thức sâu rộng để có thể thảo luận "ngang cơ" với các kinh sư và luật sĩ tại đền thờ. Tác giả giải thích rằng sách vở thời đó không thiếu, cha nuôi và mẹ của Jesus lại là những người biết đọc và thích đọc, trong nhà chắc có nhiều sách, vì vậy Jesus được khuyến khích và có phương tiện để học hỏi. Thêm một lý do khác ai cũng phải công nhận, dù âm thầm hay công khai: Jesus là người trời.
"Những gì chúng ta biết dựa theo những điều ghi chép về những lời ngài nói, thì Jesus là một người văn minh, có văn hóa, có giáo dục, biết chọn lựa những lời nói rất cẩn trọng và rõ ràng với sự tinh tế, chính xác và khôn khéo - tất cả chứng tỏ ngài đọc rất rộng văn chương đời cũng như văn chương đạo. Tôi tin rằng Ngài quen thuộc với tiếng La-tinh và Hy Lạp, cũng như tiếng bản địa Aramaic và tiếng Hebrew mà ngài nói và đọc như một luật sĩ Do Thái được giáo dục. Lối chuyển câu đầy thi tính ngài thường dùng, dù đối với ngài thật tự nhiên (cũng như mẹ ngài) tôi nghi cũng được thụ đắc từ việc ngài đọc rất nhiều thơ, đa số đã thuộc lòng. Tôi nghĩ thơ ngài đọc không những gồm những bản tiếng Hebrew như sách Job đầy thơ, những bài thánh ca mà chúng ta gọi là Thánh Vịnh, mà còn là kho tàng của những thi sĩ Hy Lạp được phổ biến trong đế quốc vào thời này…
Gioan ghi chép rằng những người Do Thái trong đền thờ, ngạc nhiên về những lời dậy của ngài ở đó, đã cười khinh bỉ, "Làm sao mà người này biết được chữ nghiã như vậy, có phải anh ta chưa bao giờ đi học không?"(7:15). Chúng ta chỉ có thể đoán ra nơi mà Jesus trẻ tuổi đã tìm được những cuốn sách để học hỏi. Nhưng những tư liệu viết đủ loại không bao giờ hiếm trong thế giới Do Thái, dù ở một làng quê như Nazareth" (2)
Chúng ta cũng nên tìm hiểu tình mẫu tử giữa Maria và Jesus được thể hiện ra sao. Nếu chỉ đọc Thánh Kinh không có giải thích, người ta thấy tình mẹ con giữa hai người có vẻ không nồng ấm lắm. Vào tuổi 30 khi Jesus bắt đầu đi rao giảng, lúc đó cha nuôi Joseph đã qua đời, Maria phải rời mái ấm gia đình đi sống với nhiều người khác nhau trong giòng tộc, kể cả với một bà chị đã có nhiều con lớn, đôi khi được ám chỉ là anh em của Jesus. Thật ra chỉ là anh em họ. Trong những lời đối đáp, Jesus thường nói giọng có vẻ "thiếu lễ phép" với mẹ nếu xét theo tiêu chuẩn thời nay. Thí dụ khi bị mẹ trách tại sao ở lại đền thờ mà không cho cha mẹ biết, khiến cha mẹ phải quay lại tìm, Jesus không một lời xin lỗi, chỉ trả lời rất sẵng: "Bà không biết tôi phải làm việc của Cha tôi sao?". Rồi tại tiệc cưới ở Cana, Maria nhẹ nhàng nói với Jesus là tiệc hết rượu rồi, ý bà muốn yêu cầu con làm phép lạ để giúp gia chủ, Jesus trả lời: "Giờ của tôi chưa đến". Các nhà luận giải Thánh Kinh cho rằng Jesus khi trả lời như thế là muốn nhắc mẹ rằng ngài còn phải lo làm tròn sứ mệnh cao trọng nhất do Chúa Cha trao phó, không phải chỉ lo chuyện đời thường. Tuy nói vậy nhưng Jesus vẫn vâng lời cha mẹ, rời đền thờ và những cuộc tranh cãi để theo cha mẹ trở về nhà. Riêng mẹ đã thấu hiểu ý nghiã của lời con nói, nên giữ điều đó trong lòng để suy nghiệm. Tại Cana, dù chưa tới lúc tỏ mình ra, Jesus vẫn vâng lời mẹ, biến nước thành rượu ngon. Maria như hiểu tận đáy lòng con, tin rằng con sẽ không làm trái ý mình, nên đã ra lệnh cho gia nhân nhà chủ: "Hãy làm những gì người bảo". Ngoài việc làm vui lòng mẹ, Jesus còn dùng phép lạ này để tạ ơn gia chủ đã mời và tiếp đãi mẹ con ngài rất chí tình, nhất là đã đãi luôn cả dàn môn đệ của ngài kéo nhau đi ăn cỗ ké theo thầy, những người khách không được mời mà đến (tr 60, 61). Cuối cùng, khi gần tắt thở trên cây thập giá, Jesus đã trối trăn với Gioan, người môn đệ yêu qúy nhất, khi người này cùng đứng dưới chân thập giá với Mẹ Maria: "Đây là Mẹ em". Sau đó Gioan đưa Bà Maria về nhà phụng dưỡng. Như thế, chúng ta thấy Jesus là một người con có hiếu, tình mẫu tử giữa hai mẹ con rất thắm thiết, chỉ hơi khác người thường, vì Jesus vừa lo cho người mẹ trần thế vừa phải lo hoàn thành sứ mạng được Cha trên trời giao phó.
Một điều khác cần ghi nhận là Jesus không kỳ thị nam nữ. Đừng trách Jesus đã chọn 12 môn đệ thân tín đầu tiên đều thuộc nam giới, tạo cớ cho giáo hội sau này chỉ truyền chức linh mục cho những người nam. Bà sơ nào léng phéng đòi làm linh mục là bị cởi áo dòng liền. Hãy nghĩ lại thời Chúa đi giảng đạo phải ngủ bờ ngủ bụi, ăn đói ăn khát, mình mẩy bụi bậm, thiếu nước tắm rửa, làm sao cho các môn đệ nữ đi theo được? Tuy vậy Chúa có rất nhiều nữ đệ tử: Mary Magdalene, Martha, Susana, Joanna, nhiều bà Maria và những bà khác. Đa số họ thuộc thành phần nghèo, có ít người khá giả, như vợ của quan Pilate. Có một bà đã nhận trả "bill" cho bữa tiệc ly. Maria em của Martha đã nhõng nhẽo với Chúa Giêsu, tựa đầu trên vai ngài, dùng cả một "pound" dầu thơm để sức chân Chúa rồi lấy tóc lau. Khi Chúa sống lại, Chúa đã cho thiên thần đứng trước cửa mồ báo cho ba bà: Mary Magdalene, Joanna và Mary mẹ của James, biết Chúa đã phục sinh và không còn ở trong mồ. Chúa cho các bà biết tin đầu tiên vì ưu ái các bà và cũng biết rằng chính nhờ các bà mà "bí mật" này sẽ được loan tryền nhanh nhất và rộng nhất. Chúng ta thấy có hình dáng của các bà trong mỗi chương, có thể là mỗi trang, của Tân Ước. Hình ảnh phụ nữ tạo ra niềm xúc động của tình người, là biểu tượng của tình yêu. Sự hiện diện của nữ giới trong Thánh Kinh cũng là để bù đắp cho sự hung dữ, vô cảm và cứng rắn mà chúng ta tìm gặp hầu như ở mỗi trang trong Kinh Thánh (tr 224, 225). Như vậy, Chúa Jesus thương yêu cả nam lẫn nữ như nhau, nhưng mỗi giới một cách khác nhau. Có nên bắt Chúa làm mọi sự giống nhau cho tất cả mọi người?
Trên đây tôi chỉ tóm tắt một số sự việc hấp dẫn tôi đầu tiên. Sách còn kể nhiều chuyện khác hay không kém. Qúy vị muốn biết thêm, nên đọc trọn tác phẩm. Trước khi chấm dứt bài này, tôi xin mời qúy vị đọc những câu kết đầy ý nghiã của cuốn "Jesus-a Biography of a Believer":
"Jesus đã sống trong một thế giới độc ác, thiếu suy nghĩ, cuộc đời và cái chết của ngài đã tạo thành một sự phản đối hùng hồn đối với thế giới đó. Ngài đã hiến tặng một giải pháp thay thế: không phải là đời sống hướng ngoại của cách mạng và thay đổi, nhưng là một cuộc sống bề trong với sự khiêm cung và tình yêu, với lòng đại lượng và thương sót, với sự tha thứ và hy vọng. Chúng ta cũng đang sống trong một thế giới độc ác, một thế giới cũng thiếu suy nghĩ dù có đầy dẫy kiến thức, những trường đại học, những phương tiện truyền thông, khả năng chuyên môn. Do đó giải pháp thay thế của Jesus vẫn còn hiệu lực: "Ta là đường, là sự thật và là sự sống". Nếu Jesus tái xuất hiện hôm nay, chúng ta có thể chắc chắn rằng không những ngài sẽ có vô số người theo, nhưng đồng thời ngài cũng sẽ bị đàn áp và bị giết… Thông điệp giản dị nhất là hãy làm như Jesus đã làm. Đó là lý do tại sao lịch sử về cuộc đời của ngài, trong thế kỷ 21 kinh hoàng của chúng ta, trở thành quan trọng đến thế. Chúng ta phải nghiên cứu nó, và phải học hỏi"(3)
Rõ ràng lịch sử luôn lập lại vì bản chất con người không thay đổi. Nghiên cứu những sự việc thời Chúa Jesus cũng là cập nhật với những biến cố của thời nay. Những Caesar, Herode, Caiaphas, kinh sư, thư lại tân thời đang hiện diện đầy trong xã hội, nhất là xã hội Việt Nam. Chúng ta chẳng biết đường nào để đi, chẳng biết cách nào để làm cho quê hương và giáo hội bớt khổ ngoài khẩu hiệu giản dị: "Hãy làm như Giêsu đã làm" (Do as Jesus did).
(1) The trouble with Judaism was that it was very ancient, over a thousand years old, and its law, though well adjusted perhaps to the needs of a primitive desert people, was often meaningless to a sophisticated, increasingly urban, and commercial community in the first century AD – and a huge and daily burden. It had never been fundamentally reformed and was administered and enforced by priests and scribes who constituted closed elites, whose jobs were often hereditary, and who resisted change with fanaticism. They were also quite capable of placing themselves in cynical alliance with the Roman authorities to prevent reformers from arousing the multitudes (pp. 37, 38).
(2) What we do know, from the records of his sayings, is that he was a civilized, cultured, educated man who chose his words with great care and precision, with delicacy, accuracy, and tact – all indications of wide reading in secular as well as religious literature. My belief is that he was familiar with Latin and Greek, as well as his native Aramaic and the Hebrew he spoke and read as an educated observant Jew. His habitual poetic turn of phrase, though natural to him (as to his mother), was also, I suspect, acquired by steady reading of poetry, much of which he had learned by heart. This poetry, I think, included not just Hebrew texts like the book of Job, which is full of poetry, and the religious songs we call Psalms, but the treasury of Greek poets that circulated in the empire by this time…John reports the Temple Jews, amazed at his teaching there, sneered, "how knoweth this man letters, having never learned?" (7:15). We can only guess where the young Jesus found his books to study. But written materials of all kinds were never rare in the Jewish world, even in a country town like Nazareth (pp. 28, 29).
(3) Jesus lived in a cruel, unthinking world, and his life and death formed an eloquent protest against it. He offered an internative: nor an outward life of revolution and reform but an inner life of humility and love, of generosity and mercy, of forgiveness and hope. We live in a cruel world, too, one just as unthinking though teeming with knowledge, universities, communications, expertise. So Jesus’s alternative is still relevant: "I am the way, the truth, and the life". If Jesus were to appear again today, we can be sure not only that he would find countless followers but equally that he would be persecuted and killed…Its message, at its simplest, as do as Jesus did. That is why his biography, in our terrifying twenty-first century, is so important. We must study it, and learn (pp.226).